Hấp dẫn Quảng Đà
Tổng Bí thư Lê Duẩn, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và đồng chí Hồ Nghinh gặp nhau sau khi Đà Nẵng được giải phóng vào năm 1975. ẢNH: ĐẢNG BỘ ĐÀ NẴNG
Quảng Đà, thời chiến tranh là một trong những tỉnh ác liệt nhất của miền Nam Việt Nam: “Nhất Củ Chi, nhì Quảng Đà”. Nhà văn Chu Cẩm Phong ghi trong nhật ký, thứ Ba, ngày 05/12/1967: “Ốm ba ngày rồi, vẫn là sốt rét. Trong không khí sôi nổi, rộn ràng, nô nức của tổng công kích tổng khởi nghĩa mà bị ốm thì thật là bất hạnh… Mình đã đề đạt với Ban xin được đi Quảng Đà. Không biết có được duyệt không. Bây giờ phải chuẩn bị sẵn sàng. Mình quyết định phải ăn trùn, cần phải chấm dứt bệnh sốt rét khốn nạn này để đi công tác. Nghe Quảng Đà sắp có Đại hội chiến sĩ thi đua mình cứ tiếc mãi. Tức cười thật, đâm ra ghen tỵ sự may mắn của Bùi Minh Quốc và Thu Hoài”.
Ngày 06/12/1967, Chu Cẩm Phong lại ghi: “Anh Vương Linh đi họp về, mình còn ướt chưa kịp tháo ni lông, đã hồ hởi báo những tin mới: Chuẩn bị đi công tác hết. Ban cho một ngàn đồng, đồ đạc nhà bếp đem đổi heo ăn. Gạo cứ ăn no, đừng ghế sắn nữa, sắn để làm bánh ăn... Anh em từ anh Phan Huỳnh Điểu đến cô cấp dưỡng, y tá, quản lý đều cười lớn, vỗ tay ran. Anh Vương Linh vừa đặt ba lô xuống đã triệu tập chi ủy, anh vừa lau mồ hôi vừa nói. Mình và anh Điểu cứ cười. Đại khái là thế này, cần tung hết lực lượng cán bộ xuống các tỉnh, huyện, xã. Chỉ giữ lại một bộ phận lo hậu cứ, một bộ phận nhẹ cơ quan di chuyển chỗ ở đến gần mặt trận hơn. Cao Duy Thảo, Văn Cận, Thanh Đính, Phương Anh đi công tác Quảng Đà. Chú Khánh và Hoàng Lê đi công tác Quảng Ngãi. Ban giữ cả chi ủy lại, anh Linh nói: “Ba đứa mình cùng đi tiền phương”. Mình hiểu rồi đó. “Tiền phương” có nghĩa là bộ phận nhẹ của cơ quan, “Lực lượng cơ động” của Ban. Như vậy cũng có thể đi hỏa tuyến, cũng có thể chỉ ở trung tuyến thôi, cũng có thể chỉ ở hậu tuyến giữ gôn. Mình không thú bằng được đi một tỉnh như Quảng Đà, nhưng theo tinh thần của Ban phổ biến, thì đó là sự bố trí sắp xếp của Thường vụ, coi như mệnh lệnh, không để đạt ý kiến gì cả, chỉ có chấp hành tốt mà thôi. Đảng viên và đoàn viên phải tỏ ra kiên cường trong đợt quyết tử này, ai do dự hoặc không chấp hành tốt sẽ chịu kỷ luật của Đảng”.
Tôi vừa về Báo Quảng Đà, đêm đầu tiên ngủ chưa trọn giấc thì bị đánh thức. Anh Tùng đập chân tôi, gọi: Dậy! Dậy. Khi tôi thức dậy thì các anh đang vội vã thu xếp đồ đoàn: muối vào lon, mắm vào lọ, gạo vào ruột nghé, mấy cái soong xâu một xâu. Mỗi người một cái gùi cá nhân phải nhận thêm một trong những thứ của chung, mang thêm được bao nhiêu thì quý bấy nhiêu. Anh Tùng phân cho tôi một ruột nghé gạo và một đùm soong nồi lỉnh kỉnh, lơ mơ là bị dính nhọ, nhưng lẽ nào không nhận, mà thoái thác cho ai, khi ai cũng lưng gùi, tay xách, vai mang. Người trên lưng mang nặng nhất, hai tay cũng không ở không là anh Hoàng Kim Tùng - Bí thư Chi bộ - người mà vào lúc 1 giờ sáng ngày 21/5/1972, cơ quan của Ban Tuyên huấn Quảng Đà đóng trên núi Hòn Tàu bị một loạt bom B.52, làm chết 10 người, làm bị thương 5 người, mãi đến năm 2012, đồng đội còn sót lại mới tìm được hài cốt anh Hoàng Kim Tùng và đồng đội đưa về quê nhà (thị xã Đông Hà, Quảng Trị) - nơi anh đã chia tay người vợ trẻ và đứa con trai duy nhất Hoàng Anh Tuấn mới ba tuổi, ra đi vì miền Nam đánh Mỹ.
Độ 3 giờ sáng, mò mẫm trong đêm tối trời, tôi vừa đi vừa chạy lúp xúp, bất kể mương nước, ruộng lầy, gai, mảnh, cố bám theo các anh, thỉnh thoảng giật thót người vì những quả pháo bất ngờ ầm, ùm sau lưng. Hừng sáng hôm sau thì đến một ngôi nhà ở trên lưng đồi, sau đồi là mờ mờ núi thấp. Đó là thôn Hai, xã Xuyên Khương. Ban Tuyên huấn Quảng Đà có một bộ phận đóng ở Xuyên Khương, trong xóm nhà ông Trùm Diễn, nhà bà Trùm Tính.
Đứng ở đồng bằng Duy Xuyên nhìn lên núi Hòn Tàu thấy một quả núi trông như cái đầu con chim cu, gọi là Hòn Quắp. Báo Giải phóng Quảng Đà đào một căn hầm vào núi để tránh bom pháo và cái chòi lợp lá nón cạnh Nhà in để treo võng nghỉ, đọc, viết. Xung quanh khu vực Hòn Quắp từng đóng cơ quan Văn phòng Đặc khu ủy Quảng Đà, và có những cái hang làm nơi ở và làm việc của Bí thư Đặc khu ủy Hồ Nghinh, Bí thư Đặc khu ủy Trần Thận, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Cách mạng Phạm Đức Nam.
Có lần đi công tác khi cơ quan đóng ở Gò Nổi, lúc về cơ quan ở trên Mặt Rạng - Hòn Tàu hoặc trên dốc ông Thủ ở vùng núi Đại Lộc. Đi và về đều phải bám theo giao liên. Giao liên lệnh đi thì đi, biểu dừng thì Bí thư Tỉnh ủy cũng phải chấp hành. Đến nơi thì phải liên hệ với cán bộ xã để được bố trí chỗ ở, thường ở trong nhà dân, ăn với dân, nếu nơi đó còn dân, không có dân thì ở với du kích để có cơm và nhất là có hầm bí mật khi có địch càn có chỗ rút.
Không quân Mỹ đánh phá bừa bãi, vô cùng khốc liệt, những người dân kiên cường bám trụ trên đất giải phóng không còn nơi yên ổn để trồng tỉa. Nhà cửa tan hoang. Nhiều gia đình phải chạy tránh ác liệt. Vẫn còn các xóm dân kiên cường với tinh thần “một tấc không đi, một ly không rời”. Đâu chỉ du kích mà cán bộ Tuyên huấn, các nhà báo, nhà văn cũng bám trụ với dân, cùng đội ác liệt với dân. Một chiến trường khốc liệt như thế nhưng giới báo chí, văn nghệ từ miền Bắc chi viện vào cho chiến trường Khu 5, nhiều người xin đi thực tế Quảng Đà, Quảng Nam, như: Nguyên Ngọc, Nguyễn Chí Trung, Thu Bồn, Chu Cẩm Phong, Bùi Minh Quốc, Dương Thị Xuân Quý, diễn viên múa Phương Thảo, Dương Đức Quảng, Võ Thế Ái, Nguyễn Khắc Phục, Thái Bá Lợi, Thanh Quế, Nguyễn Bá Thâm...
Không được đi trong chiến dịch Xuân, sau đó, Ban Tuyên huấn Khu 5 cho một số nhà báo đi Quảng Đà. Sau hai đợt xuống với chiến trường bom đạn như mong đợi, Chu Cẩm Phong đã có đến hai bút ký hay: Mặt biển, mặt trận và Gió lộng từ Cửa Đại. Chu Cẩm Phong hy sinh ở tuổi ba mươi, để lại hàng chục bút ký, truyện ngắn và cả ngàn trang nhật ký. Được về Quảng Đà, lăn lộn với cán bộ, du kích, Dương Hương Ly đã sáng tác rất nhiều bài thơ hay, xúc động, khi nhà văn Dương Thị Xuân Quý vợ anh hy sinh, anh đã khóc thành thơ Thôi em nằm lại với đất lành Duy Xuyên, anh có một tập thơ lấy tên của một bài thơ Mảnh đất nuôi ta thành dũng sĩ. Nhà văn Dương Thị Xuân Quý (nguyên là phóng viên báo Phụ Nữ Việt Nam), về Quảng Đà trong một thời gian ngắn, chị viết được bút ký Gương mặt thách thức và hàng trăm trang nhật ký chiến trường.
Nguyễn Khắc Phục rất mừng vì thoát đi cõng gạo và phát rẫy mà được đi Quảng Đà. Mới xuống đến cơ quan của Báo Quảng Đà ở trên hang đá núi Hòn Tàu, là lúc Mỹ đổ quân vây dưới chân núi. Tranh thủ chống càn, nghe anh em kể chuyện về Đà Nẵng, đêm đêm ra ngồi trên hòn đá nhìn về phía xa mờ có ánh đèn hừng sáng, Nguyễn Khắc Phục hoàn thành một bài thơ dài, với cái tên cũng dài Đà Nẵng, thành phố rốc kết, thành phố của những tâm hồn du kích. Nguyễn Khắc Phục đọc cho anh em duyệt, ai cũng khen anh có tài tưởng tượng. Bằng tài năng và sức tưởng tượng, từ những gương mặt sáng chói của Đà Nẵng, Nguyễn Khắc Phục đã viết tiểu thuyết Học phí trả bằng máu, Bay qua cõi chết...
Được đi thực tế trong chiến dịch Xuân Mậu Thân - 1968, Thu Bồn được cho theo một cánh quân vào mặt trận Đà Nẵng. Mới về đến Điện Hòa nghe tin chị Tính bị địch bắt, xẻo vú, cắt tai và lột trần truồng bêu xác giữa chợ Vĩnh Điện. Người nóng ran, vài giờ sau, Thu Bồn viết xong bài thơ Chiếc hầm bí mật. Bám theo bộ đội áp sát Đà Nẵng, đang chống địch phản kích ở Gò Nổi, Thu Bồn viết được bài thơ Đà Nẵng gọi ta: “Đà Nẵng gọi ta như người mẹ gọi con. Như người yêu gọi người yêu xa cách. Ta muốn nói với từng viên gạch…”.
Nhà văn Nguyễn Trung Thành (Nguyên Ngọc) lấy bài thơ đến nhờ Trần Văn Anh phụ trách báo Giải phóng Quảng Đà, chuyển gấp cho bộ phận tiền phương nhà in báo đang đóng ở Tư Phú, Gò Nổi, in thành nhiều bản. Sau một tiếng đồng hồ bài thơ đã đến tận tay các chiến sĩ Tiểu đoàn R20 - mũi quân sự chủ yếu đang hành quân bám sát ngoại vi Bộ Chỉ huy Quân đoàn 1, bên bờ sông Cẩm Lệ, Đà Nẵng. Nghe tin bộ đội R20 và một số cán bộ chỉ huy hy sinh, quá đau đớn, Thu Bồn lặng người. Khóc.
Sau chiến dịch Xuân Mậu Thân, rút về căn cứ trên núi. Đang đói, nghe bên Tiểu ban văn nghệ cũng đang rất đói, Thu Bồn viết thư thăm nhà văn Chu Cẩm Phong: “Phong ơi! Mình nghe tin lão đói. Nhưng biết nói gì đây. Rừng thì lắm lá cây. Biết lấy gì gửi bạn. Gửi lòng yêu vô hạn. Trong vầng thơ tươi xanh. Thôi thúc chân dồn bước. Trên đường dài đi nhanh…”.
Đêm đó, đang ở khu A9, Chu Cẩm Phong thức viết truyện ngắn Rét Lộc. Sau hai hôm thì cơ quan dời về A7. Sau Mậu Thân, năm 1969, cao điểm 3 Đ: Địch. Đói. Đau. Phải lùi về phía sau củng cố lực lượng, nhớ Bác Hồ, Thu Bồn sáng tác bài thơ Gửi lòng con đến cùng cha…
“Tiếc rằng trước lúc chia ly Con chưa được thấy dáng đi
của Người Hẳn trong đôi mắt sáng ngời
Còn nguyên vẹn một khoảng trời
phương Nam Con qua Cẩm Lệ, sông Hàn
Ngũ Hành Sơn đứng mơ màng
bóng Cha...”
H.D.L