Về “miền sông đào, núi lở”...

Cố nhà thơ Tường Linh từng viết: “Về Đại Lộc miền sông đào, núi lở/ Con đường dài hun hút chạy qua truông”. Ông giải thích: “Sông đào” là sông Ái Nghĩa; “núi lở”, hay còn gọi núi đất, là nơi tọa lạc Đền tưởng niệm Trường An uy nghiêm mà gần gũi. Còn “con đường dài hun hút” chính là đường ĐT 609B chạy từ ngã tư Đại Hiệp vào Ái Nghĩa… Hai câu thơ ấy của nhà thơ Tường Linh gợi mở chúng tôi hướng tìm hiểu, khám phá về đất và người Đại Lộc qua chiều dài lịch sử…
Vùng đất có tên “phúc/lộc lớn” Ngược dòng lịch sử, vào năm Thành Thái thứ 11 (1899), triều đình nhà Nguyễn cắt đất của hai tổng Đại An và Mỹ Hòa thuộc huyện Diên Phước và 3 tổng Đức Hòa, An Phước và Phú Khê của huyện Hòa Vang để lập thành huyện Đại Lộc, trực thuộc phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Theo Đại Nam nhất thống chí1, huyện Đại Lộc nằm về phía tây của trị sở phủ Điện Bàn, từ đông đến tây là 51 dặm2, từ nam đến bắc là 38 dặm lẻ. Phía đông giáp huyện Diên Phước; phía tây giáp Man động1; phía nam giáp giới huyện Duy Xuyên; phía bắc giáp giới huyện Hòa Vang. Đại Lộc có 5 tổng, 109 xã, thôn, phường, châu.
Nói về danh xưng Đại Lộc, Tiến sĩ sử học Huỳnh Công Bá từng chỉ ra rằng, trong sách Đại Nam nhất thống chí, tên gọi của huyện Đại Lộc được viết bằng chữ Hán gồm hai chữ 大 (Đại) và 祿 (Lộc), vốn có nghĩa là “phúc lớn”, là “sự tốt lành lớn”, hay là “bổng lộc lớn”. Với nghĩa này, danh xưng Đại Lộc thể hiện niềm mơ ước tốt đẹp về một miền quê thanh bình và sung túc trên lưu vực Vu Gia - Thu Bồn! Cho đến trước ngày 1/7/2025, huyện Đại Lộc có 17 xã (mang thành tố “Đại”) và thị trấn Ái Nghĩa (huyện lỵ), thuộc tỉnh Quảng Nam.
Thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, huyện Đại Lộc được sắp xếp thành 5 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc thành phố Đà Nẵng. Danh xưng có “thâm niên” 126 năm của huyện được “ưu tiên” giữ lại cho một xã - xã Đại Lộc, hình thành trên cơ sở hợp nhất thị trấn Ái Nghĩa và các xã Đại Hiệp, Đại Hòa, Đại An, Đại Nghĩa. Xã Đại Lộc có diện tích tự nhiên 73,97 km², dân số
62.684 người; phía bắc giáp xã Hòa Tiến; phía nam giáp xã Thu Bồn; phía Đông giáp phường Điện Bàn Bắc, xã Điện Bàn Tây, xã Gò Nổi; phía tây giáp xã Vu Gia, xã Hà Nha. Đây là địa phương có quy mô lớn cả về diện tích tự nhiên và dân số, giữ vai trò quan trọng ở cửa ngõ Tây Nam của thành phố Đà Nẵng, là điểm kết nối giao thương giữa vùng đồng bằng và miền núi phía Tây, đồng thời là hạt nhân phát triển dọc sông Yên và sông Vu Gia.
Trầm tích văn hóa - lịch sử
Sách Ô châu cận lục của Tiến sĩ Sùng Nham hầu Dương Văn An (viết năm 1553) cho hay, vùng đất thuộc xã Đại Lộc hiện nay có 3 trong số 66 xã (làng) của huyện Điện Bàn, phủ Triệu Phong, xứ Thuận Hóa là: Ái Đái (Ái Nghĩa), Phiếm Ái và Quảng Hóa (Quảng Huế), mỗi làng mang một sắc thái riêng có.
Điều khá lý thú là Ái Nghĩa từng 2 lần được chọn làm lỵ sở của huyện Hòa Vang vào các năm 1802 - 1824, 1848 - 1899. Nơi đây lưu giữ nhiều tư liệu Hán Nôm có giá trị quan trọng phục vụ nghiên cứu về văn hóa và lịch sử đất Quảng. Theo tài liệu Quảng Nam tỉnh tạp biên (do Viện Viễn Đông bác cổ và Hội Văn hóa dân gian Đông Dương thực hiện vào đầu thế kỷ XX), xã Ái Nghĩa có 22 sắc phong của các triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh, Duy Tân, Khải Định. Cạnh đó, có tấm bia đá cổ đặt trong chùa Phổ Khánh, tức
chùa làng Ái Nghĩa xưa, văn bia được khắc vào năm Mậu Ngọ (1678), niên hiệu Vĩnh Trị thứ 3, nghĩa là cách đây ngót nghét 350 năm!
Theo Quốc triều hương khoa lục của Cao Xuân Dục, dưới triều Nguyễn, Phiếm Ái là một trong số ít làng của huyện Đại Lộc có người đỗ đạt cao (4 cử nhân), trong đó Phan Trí Hòa là cử nhân khai khoa của Đại Lộc (đỗ khoa Giáp Ngọ -1834). Thân phụ ông là Kế Thiện hầu Phan Văn Nguyên, năm Minh Mạng thứ 6 (1825) từng được cử ra Bắc “nhận việc tạo tác Bắc Thành”, tức quản lý việc xây dựng Bắc Thành - một công việc quan trọng của triều đình bấy giờ.
Còn xã hiệu Quảng Hóa (Quảng Huế) lại gắn liền với công cuộc khai khẩn kéo dài khá nhiều năm và vô cùng gian nan của những lưu dân Việt mà thành quả là “giang thủy biến vi tang điền”, hình thành nên vùng “Thất châu Quảng Huế” nổi tiếng gồm Hóa Đại, Hóa Yên, Hóa Phú, Quảng Hóa, Hóa Trung, Hóa Đông và Hóa Tây. Chính sự phát đạt của nghề trồng dâu và chăn tằm kéo kén, dệt lụa của người dân vùng này là nhân tố quan trọng để chợ Quảng Huế trở thành trung tâm giao lưu hàng hóa giữa Đại Lộc với Điện Bàn, Duy Xuyên, Hội An… và miệt nguồn bằng đường thủy, còn lưu truyền qua câu ca: Kể từ Quảng Huế xô ra/ Khe Rô, Quảng Đại, Ô Gia, Trang Điền/…/Kể từ Quảng Huế xô ra/ Kim Liên, Lệ Trạch, Đa Hòa, Văn Ly…
Không chỉ nơi đây “sở hữu” các di tích, di vật của nền văn hóa Sa Huỳnh (như di tích khảo cổ học Mộ Chum Gò Ngoài1) và văn hóa Champa (tháp Chăm Đại Lợi2, giếng Chăm3…) cùng các làng nghề truyền thống vang bóng một thời (làng lờ Trung An, làng hương Phú Lộc, bánh tráng Ái Nghĩa…), các lễ hội đua ghe (thuyền) truyền thống, các thể loại văn nghệ dân gian đặc sắc, trên đất Đại Lộc còn hiện diện nhiều địa chỉ văn hóa độc đáo và di tích lịch sử - cách mạng nổi tiếng của đất Quảng. Đó là trường Tiểu học Mỹ Hòa xưa, tọa lạc ở đầu làng Hòa Thạch, được xây dựng vào năm 1922. Trường này không dành riêng cho huyện Đại Lộc mà chung cho nhiều xã của các huyện lân cận như Duy Xuyên, Điện Bàn và Hòa Vang. Nhiều học sinh của trường sau này đã trở thành những nhân vật nổi tiếng, như các nhà hoạt động cách mạng (Trần Tống, Lê Thị Xuyến, Huỳnh Ngọc Huệ, Nguyễn Xuân Hữu…); nhà văn (Võ Quảng); nhà báo cách mạng (Lưu Quý Kỳ)… mà tên tuổi đã làm rạng danh đất Quảng. Đó còn là Đền tưởng niệm Trường
An - công trình lịch sử văn hóa tâm linh lớn nhất của huyện Đại Lộc trước đây, nơi tri ân các bậc tiền bối hữu công, các anh hùng liệt sĩ, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng của toàn huyện. Đó là đình Phiếm Ái - nơi khởi phát phong trào chống sưu cao, thuế nặng của tỉnh Quảng Nam và Trung Kỳ vào năm Mậu Thân - 1908, được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích quốc gia năm 2017. Đó là các di tích cấp tỉnh/ thành phố: đình làng Ái Nghĩa, đình - chùa Ái Mỹ Đông, đình Không Chái (tức đình Quảng Huế), mộ Cử nhân Nguyễn Hữu Quân, mộ cụ Phan Văn Nguyên, mộ Bà Phường Chào, Đồn Chợ Cá, Cây Da Lý, Chiến thắng Núi Lở... - những tên đất, tên người mang dấu ấn đậm nét về đất và người Đại Lộc trong hành trình mở cõi và trường chinh giữ nước.
Cũng khí phách hào hùng ấy, bằng bàn tay lao động cần cù và khối óc năng động, sáng tạo không ngừng nghỉ, tròn nửa thế kỷ sau ngày hòa bình lập lại, người Đại Lộc kịp để lại nhiều dấu ấn lịch sử đáng tự hào về những kỳ tích trong công cuộc tái thiết và phát triển quê hương, với Hợp tác xã nông nghiệp Đại Phước - đỉnh cao năng suất lúa cả nước (21,6 tấn/ha) trước đổi mới1, với xã Đại Hiệp - đơn vị Anh hùng Lao động trong thời kỳ đổi mới, với Hợp tác xã nông nghiệp Ái Nghĩa - một trong những đơn vị điển hình tiêu biểu trong loại hình kinh tế tập thể của tỉnh Quảng Nam trước đây…
Ngày 29/6/2026, HĐND TP Đà Nẵng khóa XI, nhiệm kỳ 2026 - 2031 thông qua Nghị quyết tán thành chủ trương thành lập 10 phường mới - trong đó có xã Đại Lộc, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và chất lượng phục vụ nhân dân trong giai đoạn mới, phù hợp với định hướng phát triển đô thị của thành phố Đà Nẵng.
Hiện tại, xã Đại Lộc có tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ đạt 80,5%; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp đạt 74,79%. Thu nhập bình quân đầu người của xã trong 3 năm gần nhất đều cao hơn mức bình quân của thành phố. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều cũng thấp hơn mức bình quân của thành phố trong cùng giai đoạn.
Cùng với sự thay đổi ngoạn mục về diện mạo, việc bộ máy các cơ quan, đơn vị thuộc hệ thống chính trị của xã ngày càng được củng cố, kiện toàn, hoàn thiện, tinh gọn, hoạt động hiệu quả2, có quyền kỳ vọng về một tương lai phát triển mới trên quê hương Đại Lộc anh hùng, hòa nhập cùng xu hướng phát triển chung của thành phố Đà Nẵng!
V.T
Chú thích:
- Bản chữ Hán do Cao Xuân Dục, Lưu Đức Xưng và Trần Xán biên soạn năm 1909
- Theo Hoàng Phê (Chủ biên), Từ điển tiếng Việt, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1988, tr.254: 1 dặm = 444,44 mét.
- Tức là vùng cư trú của đồng bào các dân tộc thiểu số.
- Theo Quảng Nam thời tiền sử và sơ sử (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam xuất bản năm 2015), tr.126 -127, tại đây phát hiện nhiều khuyên tai hai đầu thú, hạt hồng mã não, đồ đồng, đồ gốm…
- Hiện vật chóp tháp Chăm Đại Lợi hiện do Trung tâm Cung ứng dịch vụ sự nghiệp công xã Đại Lộc quản lý.
- Như giếng Chăm ở làng Ái Nghĩa xưa, còn gọi là giếng chùa làng (Phổ Khánh tự tỉnh) vì nằm cạnh chùa Phổ Khánh.
-
Với thành tích xuất sắc này, HTX nông nghiệp Đại Phước được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng tặng 1 chiếc máy cày MTZ 50.
- Năm 2025, Đảng bộ xã Đại Lộc được Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng công nhận Đảng bộ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.