Thơ về biển đảo của Bùi Minh Vũ dưới góc nhìn thi pháp hiện sinh

04.08.2026
Cao Thị Hảo

Thơ về biển đảo của Bùi Minh Vũ dưới góc nhìn thi pháp hiện sinh

Trong tiến trình thơ Việt Nam sau đổi mới, xu hướng suy tưởng, giải cấu trúc ngôn ngữ và biểu đạt trải nghiệm hiện sinh ngày càng rõ nét. Qua các tập Biển và quê hương, Buông neo, đặc biệt o ngư Kỳ Tân, nhà thơ Bùi Minh Vũ cho thấy một lối đi riêng: chủ quyền, biến biển đảo thành không gian tâm linh - bản thể. Ở đó, cái “tôi” đối diện với lịch sử, ký ức và chính mình. Biển không chỉ là địa lý, mà còn là ý thức tồn tại, là nơi con người vừa thuộc về, vừa lạc mất.

Biển đảo mang biểu tượng của chủ quyền và bản thể

Trong tập thơ Buông neo (NXB Hội Nhà văn, 2024) của Bùi Minh Vũ, hình tượng biển đảo với vùng biển Trường Sa, Hoàng Sa hiện lên không chỉ là tên gọi, mà trở thành biểu tượng ám ảnh, thấm sâu vào từng câu chữ như một nỗi day dứt khôn nguôi, như một biểu tượng của chủ quyền và bản thể. Bài thơ Tô chữ là một trong những sáng tác tiêu biểu thể hiện rõ nét quan niệm nghệ thuật của tác giả. Hành động “tô chữ Trường Sa” được lặp lại nhiều lần không chỉ mang ý nghĩa khẳng định chủ quyền mà còn là một hành vi mang tính nghi lễ, gần với sự “khắc ghi” vào không gian và thời gian:

Mỗi ngày tôi tô chữ Trường Sa Mỗi đêm

Vụng trộm

 Chôn dưới đảo chìm

 Ở đây, chữ “Trường Sa” không còn là ký hiệu ngôn ngữ đơn thuần mà trở thành một thực thể sống, có thể bị sóng cuốn trôi, cát vùi lấp, nhưng vẫn được viết lại, tái sinh:

Sóng trôi

 Chữ nằm trên cát Cát trôi

Chữ nằm trên đá

 Điều đó cho thấy một nhận thức sâu sắc: chủ quyền luôn phải được gìn giữ, tái tạo trong dòng chảy biến động của lịch sử. Đặc biệt, khi cái “tôi” trữ tình khẳng định Và tôi nhìn/ Thấy tôi ở đó thì Trường Sa không chỉ là lãnh thổ của quốc gia mà còn là không gian tồn tại của cái tôi cá nhân. Chủ quyền ở đây đã được nội tâm hóa, trở thành một phần bản thể con người.

Thơ Bùi Minh Vũ còn mang đậm ký ức lịch sử và chiều sâu văn hóa biển đảo. Trong bài Mở cõi, nhà thơ gợi nhắc những lớp trầm tích lịch sử gắn với quá trình xác lập chủ quyền biển đảo:

Người đi Trường Sa cắm mốc

Người ra Hoàng Sa cắm mốc

Những câu thơ ngắn gọn, giàu tính khái quát, mang âm hưởng như một bản ghi chép lịch sử. Tuy nhiên, nhà thơ không dừng lại ở sự kiện mà đi sâu vào chiều kích văn hóa - tâm linh:

Lễ khao lề thế lính

Khói nhang làm tổ linh hồn

 Ở đây, lịch sử không còn là những mốc thời gian khô cứng mà trở thành ký ức sống, được duy trì qua nghi lễ, qua niềm tin và sự tri ân. Hình ảnh khói nhang làm tổ linh hồn vừa gợi cảm giác thiêng liêng, vừa cho thấy sự gắn bó giữa người sống và người đã khuất. Trong thơ Bùi Minh Vũ, hình ảnh biển đảo như một ám ảnh thường trực trong vô thức. Trong nhiều bài thơ, Trường Sa hiện lên như một ám ảnh len lỏi vào cả giấc mơ:

Tiếng sóng vọng vào giấc mơ

tha thiết ngày xa nhà

Biển không còn ở bên ngoài mà đã thấm vào đời sống nội tâm. Những hình ảnh như đôi mắt Song Tử Tây, ngọn hải đăng bật sáng cho thấy biển đảo được nhân hóa, trở thành những sinh thể có linh hồn. Đặc biệt, hình ảnh hải đăng trong Đóa hoa nở đã mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc:

Ngọn hải đăng Trường Sa bật sáng

Nâng ta lên thiết kế lại dáng hình

Ánh sáng của hải đăng không chỉ dẫn đường mà còn giúp con người “thiết kế lại” chính mình - tức là tái định nghĩa bản thể trong mối quan hệ với quê hương, Tổ quốc.

Thơ Bùi Minh Vũ mang nỗi ám ảnh lịch sử và cảm thức mất mát. Nhà thơ không né tránh những mất mát, đau thương của lịch sử. Trong Trăng nhớ, hình ảnh Lý Sơn - vùng đất gắn với đội Hoàng Sa, hiện lên đầy ám ảnh:

Trăng Lý Sơn nở hoa

Thơm trên ngôi mộ gió

“Mộ gió” là biểu tượng của những cái chết đã hóa thân vào biển cả. Và trong cái mênh mang của biển, con người thật cô đơn:

Tôi

Lún trong

Bóng người trung cổ

Như chưa được sinh ra

Những câu thơ trên đã thể hiện một trạng thái hiện sinh: con người bị nhấn chìm trong lịch sử, trong ký ức tập thể đến mức đánh mất cảm giác tồn tại cá nhân.

Cảm thức hiện sinh và hành trình tìm kiếm bản thể

Một trong những đặc điểm  nổi bật của thơ Bùi Minh Vũ là màu sắc hiện sinh đậm nét. Trong bài Tôi ở nơi nào, cái “tôi” rơi vào trạng thái hoang mang, mất phương hướng:

Tôi ở nơi nào

Hay tôi đã chôn tôi

Câu hỏi không lời đáp này chính là trung tâm của tư tưởng hiện sinh: con người không ngừng truy vấn về sự tồn tại của mình.

Biển ở đây vừa là nguồn sống, vừa là nơi nuốt chửng con người: Mẹ tôi ước cưới biển làm chồng/ Chiều chân thật ngồi nhặt từng bọt sóng/ Cha tôi mơ cưới biển làm vợ/ Đêm mải miết đi câu. Những câu thơ như khảm khắc thân phận và kiếp sống của những người ngư dân bám biển. Nhưng rồi biển nổi giông gió, những nỗi đau hiện rõ hình hài: Đêm ú ớ/ Cha ở biển không về/ Mẹ cưỡi sóng ra đảo chìm đảo nổi (Tôi ở nơi nào). Hình ảnh cha “ở biển không về”, mẹ “cưỡi sóng ra đảo” cho thấy sự gắn bó nhưng cũng đầy bất trắc giữa con người và biển cả. Những câu thơ ấy chỉ có thể được viết ra từ những chưng cất của ký ức và trải nghiệm về kiếp sống của người ngư dân!

Trong Độc huyền cầm, nhà thơ đẩy trải nghiệm đến mức siêu thực:

Thức dậy

Thấy mình là cá

Mang đôi cánh độc huyền cầm

Sự hóa thân này cho thấy khát vọng vượt thoát khỏi giới hạn của con người để hòa nhập hoàn toàn với biển. Đây cũng là biểu hiện của một cái tôi đang tìm kiếm sự giải thoát trong một thế giới đầy bất định.

Trong bài thơ o ngư Kỳ Tân, nhà thơ không chỉ viết về người làm nghề biển mà còn là một bản suy tưởng về thân phận con người trong thế giới rộng lớn và khắc nghiệt. Qua đó, Bùi Minh Vũ khẳng định một tiếng thơ riêng: trầm lặng nhưng sâu sắc, giản dị mà ám ảnh, góp phần làm phong phú thêm diện mạo thơ ca Việt Nam đương đại.

Trước hết, điểm nổi bật ở bài thơ là thi pháp phân mảnh - một biểu hiện

của ý thức hậu hiện đại. Bài thơ được tổ chức thành các khổ đánh số rời rạc, thiếu liên kết tự sự tuyến tính. Đây là biểu hiện rõ của thi pháp phân mảnh khi dòng ý thức chi phối, thời gian bị phá vỡ và các mảnh ký ức/ cảm giác tồn tại độc lập. Đặc điểm này cho thấy sự tương hợp với tư duy hậu hiện đại: văn bản không còn là một chỉnh thể khép kín mà là một cấu trúc mở, nơi ý nghĩ luôn bị trì hoãn. Trong dòng chảy của ý thức, con người chỉ là một sinh linh nhỏ bé:

Ông táo về trời

Chìa vôi về đất

Bã trầu đắng cay

Lão ngư bóp nát những con số

nghiêng ngả thuyền nèo

vắng hoe đường cát

bến bờ buồn hiu

Trong thế giới của cô đơn đó, con người còn bị tước đoạt danh tính, bị xóa dấu trong lịch sử: o ngư không ký được tên mình; Lão ngư quên ngày sinh ra. Từ góc nhìn hiện sinh, thân phận lão ngư không còn là cá biệt mà trở thành một mô hình tồn tại: sống trong lao động lặp lại, không có khả năng kiểm soát số phận; bị thời gian và không gian nuốt chửng. So với Trần Dần, người tiên phong trong việc phá vỡ cấu trúc thơ truyền thống, Bùi Minh Vũ không cực đoan trong hình thức nhưng vẫn tiếp thu tinh thần giải cấu trúc, đặc biệt ở cấp độ tổ chức diễn ngôn.

Bài thơ Lão ngư Kỳ Tân dựng lên một hình tượng giàu ám ảnh: người ngư dân già sống giữa biển, gắn đời mình với sóng nước. Hình ảnh mắt hút bọt trắng bập bềnh, đôi mắt già như hai ngôi sao vỡ không chỉ tả thực mà còn mang tính biểu tượng sâu sắc. Đó là đôi mắt đã chứng kiến bao biến thiên của đời biển, là dấu vết của thời gian in hằn trên thân phận. Lão ngư hiện lên như một con người vừa cụ thể, vừa mang tính khái quát. Cụ thể ở đời sống lao động: kéo lưới, đi biển, đối diện bão tố; khái quát ở thân phận: cô độc, lặng lẽ, bị thời gian bào mòn. Nhân vật trữ tình này vì thế trở thành biểu tượng của những con người nhỏ bé trước thiên nhiên rộng lớn và trước vòng quay khắc nghiệt của đời sống.

Ngôn ngữ thơ Bùi Minh Vũ không đơn thuần là tả thực mà mang tính liên tưởng mạnh: còng gió lao xuống biển; đôi mắt xanh xứ sở; tiếng ho he xám xịt nửa linh hồn...

Những hình ảnh này có tính “lạ hóa”, khiến người đọc phải suy ngẫm để giải mã. Đó là đặc điểm của thơ hiện đại: không cung cấp ý nghĩa trực tiếp mà tạo ra “khoảng trống” cho người đọc tham gia. Bên cạnh đó, chất liệu đời sống biển được sử dụng dày đặc: ghe, lưới, cá, bão, bọt sóng… tạo nên một thế giới nghệ thuật nhất quán, giàu bản sắc.

Ẩn sau bức chân dung lão ngư là một nỗi cô độc sâu sắc: Không ai “có sách” về ông. Ông “không ký được tên mình” và cuộc đời trôi trong vô danh. Đó là bi kịch của những con người bị bỏ quên trong dòng chảy hiện đại. Tuy nhiên, bài thơ không chìm trong bi lụy mà vẫn ánh lên một sức sống: “Sống như bọt sóng” nhưng vẫn “sống”, vẫn ra khơi, vẫn lao động, vẫn tồn tại. Đây chính là giá trị nhân văn: khẳng định phẩm giá con người ngay cả trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất.

Biển trong thơ Bùi Minh Vũ không chỉ là không gian địa lý mà là không gian hiện sinh. Biển vừa nuôi sống con người, vừa đe dọa, vừa nuốt chửng: Khi bão bay bờ cát trắng/ Mắt đã chán lão ngư; Ghim giữ linh hồn thân xác thong dong/ màu thời gian đùn bãi.

Những câu thơ này cho thấy biển như một lực lượng siêu hình, vừa là bạn, vừa là định mệnh. Con người tồn tại trong trạng thái bị chi phối, không thể thoát ra. Không gian ấy tạo nên một loạt đối lập về cảm giác giữa mênh mông của biển và sự nhỏ bé của con người; giữa sự vĩnh cửu của biển và sự hữu hạn của đời người; giữa sự lặng im và một nội tâm đầy sóng ngầm. Thân phận con người dường như vô định trôi xa trong dòng đời và “hóa kiếp”:

Tôi nâng hạt nước biển

Như một báu vật

Từng đoàn người trăng

Xin cầu hôn

Đêm đêm

Hạt nước hình mặt người

Nhỏ xuống

Chạy thành dòng

Trôi tôi ra biển

     (Hóa kiếp)

Có thể thấy thơ về biển đảo của Bùi Minh Vũ giàu chất suy tưởng, triết lý hiện sinh; hình tượng mang tính biểu tượng cao; ngôn ngữ hiện đại, giàu tính gợi, gắn bó sâu sắc với đời sống vùng biển. Thơ ông thuộc loại “khó đọc” do nhiều hình ảnh liên tưởng phi tuyến; do độ “khép kín” trong biểu đạt khiến người đọc phổ thông khó tiếp cận; một số đoạn thiên về cảm giác hơn là cấu trúc rõ ràng... Nhưng trên hết, đó là tiếng nói của lòng yêu nước và là hành trình khám phá bản thể con người trong mối quan hệ với lịch sử và không gian văn hóa. Trường Sa, Hoàng Sa trong thơ Bùi Minh Vũ không chỉ là lãnh thổ thiêng liêng mà còn là không gian tinh thần, nơi con người vừa khẳng định mình vừa đối diện với sự mong manh của tồn tại. Sự kết hợp giữa cảm hứng lịch sử, chiều sâu văn hóa và tư duy hiện sinh đã tạo nên một phong cách thơ độc đáo, góp phần làm mới diễn ngôn thơ ca về biển đảo trong văn học Việt Nam đương đại.

C.T.H

Cao Thị Hảo: PGS.TS, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên

 

Nhà thơ Bùi Minh Vũ

Nhà thơ Bùi Minh Vũ sinh năm 1960 tại Quảng Ngãi, hiện sống và sáng tác tại Buôn Ma Thuột; hội viên Hội Nhà văn Việt Nam; hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đắk Lắk. Ông đã xuất bản 18 tập thơ, 5 tập tiểu thuyết, 10 tập truyện cổ M’nông (sưu tầm, biên soạn) và 2 tập nghiên cứu, lý luận, phê bình.

Ngoài 2 lần được UBND tỉnh Đắk Lắk tặng Giải thưởng Chư Yang Sin, nhà thơ Bùi Minh Vũ từng được Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam trao giải Khuyến khích (tập thơ Màu thổ cẩm, năm 2019); được Hội Nhà văn Việt Nam tặng giải Ba Giải thưởng văn học về biên giới, hải đảo năm 2020 (tập thơ Lão ngư Kỳ Tân). Tại Cuộc vận động sáng tác văn học, nghệ thuật thành phố Đà Nẵng năm 2025, nhà thơ Bùi Minh Vũ được trao giải A cho trường ca Biển không có sóng.