Cù Lao Chàm trong dòng chảy lịch sử, văn hóa

04.08.2026
Võ Văn Hoàng

Cù Lao Chàm trong dòng chảy lịch sử, văn hóa

Một góc Bãi Làng. Ảnh: ĐÀO ĐẶNG CÔNG TRUNG

Cù  Lao  Chàm  hay  còn  gọi  là Chiêm Bất Lao, Tiêm Bích La, Polocham  Pello,  Sanfu  Fùlaw, Cham  Callao…  là  một  quần  đảo nằm trên Biển Đông, gồm tám hòn đảo  lớn  nhỏ1   phân  bố  thành  hình bán nguyệt theo hướng bắc - nam, dài khoảng 15 km và nơi rộng nhất khoảng 5 km, cách Cửa Đại khoảng 15 km về hướng Đông - Đông Bắc. Cù Lao Chàm nay là xã Tân Hiệp, thành phố Đà Nẵng.

Dấu chân cư dân từ tiền sử đến xã đảo

Cù   Lao   Chàm   có   tọa   độ   địa lý   16°15’20”   -   15°15’15”   vĩ   Bắc, 108°23’10” kinh Đông, với tổng diện tích khoảng 16,43 km², trong đó rừng chiếm gần 90%. Địa hình chủ yếu ở đây là đồi núi, trong đó sườn đông Hòn Lao có những vách đá dựng đứng cao tới 517 m, còn sườn tây có nhiều bãi cát bằng phẳng và các vụng biển kín gió. Nhờ được Hòn Dài và Hòn Mồ che chắn, các  khu vực Bãi Ông, Bãi Làng và Bãi Hương trở thành nơi thuận lợi cho cư dân sinh sống, tàu thuyền neo đậu tránh bão và trao đổi hàng hóa. Điều kiện tự nhiên ấy đã góp phần hình thành phương thức sinh kế chủ yếu của cư dân đảo là khai thác nguồn lợi biển, bên cạnh đó là một số hoạt  động nông lâm nghiệp và dịch vụ du lịch.

Những phát hiện khảo cổ học tại Cù Lao Chàm cho thấy con người đã cư trú trên đảo từ rất sớm. Trong các năm 1999 - 2000, các nhà khảo cổ đã thám sát và khai quật di chỉ Bãi Ông ở phía Tây Bắc Hòn Lao. Kết quả nghiên cứu xác định đây là địa điểm cư trú kết hợp mộ táng của cư dân Tiền Sa Huỳnh thuộc thời Sơ kỳ Kim khí, có niên đại khoảng 3.100 ± 60 năm cách ngày nay. Bộ sưu tập hiện vật phong phú gồm công cụ đánh bắt, đồ đá, đồ gốm gia dụng, dấu tích bếp lửa và hạt thực vật cháy phản ánh một cộng đồng cư dân đã biết khai thác hiệu quả môi trường biển đảo. Các hoa văn trang trí trên gốm như sóng nước, mép vỏ sò cũng cho thấy dấu ấn đậm nét của văn hóa biển1. Đây được xem là di tích có niên đại sớm nhất được phát hiện ở khu vực Hội An và là nguồn tư liệu quan trọng để nghiên cứu đời sống cư dân tiền sử ven biển miền Trung.

Các cuộc khai quật trên cạn cũng như dưới nước cho thấy, Cù Lao Chàm không chỉ là nơi cư trú mà còn tham gia vào mạng lưới giao lưu hàng hải khu vực từ rất sớm. Nhiều nhà khảo cổ nhận định Bãi Làng từng là một thương cảng nằm trên “Con đường tơ lụa trên biển”, có niên đại khoảng thế kỷ IX-X, tương đồng với các cảng cổ nổi tiếng ở Nam Thái Lan và Sri Lanka1. Với vị trí án ngữ cửa biển Hội An, quần đảo trở thành điểm dừng chân, tiếp nước và trao đổi hàng hóa của các đoàn thương thuyền quốc tế trong nhiều thế kỷ.

Đến khoảng thế kỷ XVII, cư dân người Việt mới bắt đầu định cư lâu dài trên đảo, hình thành các làng biển gắn với nghề đánh bắt thủy sản, khai thác tổ yến và trao đổi hàng hóa với đất liền. Những ghi chép của thiền sư Trung Hoa là Thích Đại Sán khi ghé Cù Lao Chàm năm 1695 đã phản ánh khá sinh động diện mạo của đảo lúc bấy giờ. Theo ông, “mấy hòn đảo bao quanh như vành ghế, ở giữa một vùng đất bằng phẳng, phía đông khuyết, có 2 hòn núi, hai bên đối nhau như cửa ải, làm cửa cho tàu thuyền ra vào. Trực tiếp dưới hòn núi chính (chủ phong) có miếu Bản Đầu Công, phía tả miếu chừng một trăm bước có một suối đá, nước trong và ngọt,  người  trong  thôn  ra  đó  múc  uống. Đàn ông đàn bà đến suối tắm rửa suốt ngày không khi nào hở. Sách Tục ký chép rằng, “dân ưa tắm” thực quả đúng chẳng sai. Dưới chân núi, một bãi cát bằng phẳng hình bán nguyệt. Có rải rác non trăm chiếc nhà tranh. Trừ những người già cả và trẻ con, có chừng 300 tráng đinh, dân nội tịch, sanh nhai bằng hai nghề đánh cá và hái củi. Cá nắm bay mùi hôi nhà nào cũng vậy. Núi toàn đá, cây cối rậm rạp, hoa quả khắp núi làm đồ ăn cho chim chuột và mục đồng”2.

Theo các nguồn sử liệu,  từ  thế kỷ XVII cư dân người Việt đã lập nên đơn vị cư trú mang tên phường Tân Hiệp. Dưới triều Nguyễn, Tân Hiệp thuộc tổng Thanh Châu, huyện Hòa Vang, phủ Điện Bàn. Trước năm 1975, đây là một ấp thuộc xã Cẩm An, quận Hiếu Nhơn. Sau ngày đất nước thống nhất, Tân Hiệp trở thành thôn của xã Cẩm An, thị xã Hội An. Ngày 25/7/1978, theo Quyết định số 131- BT của Bộ trưởng Phủ Thủ tướng, xã Tân Hiệp chính thức được thành lập trên quần đảo Cù Lao Chàm với các thôn Bãi Hương, Bãi Làng và Bãi Ông, trực thuộc thị xã Hội An.

Sau khi tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng được chia tách năm 1997, xã Tân Hiệp thuộc thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Đến ngày 12/6/2025, theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội  về  sắp  xếp  đơn  vị  hành  chính  cấp tỉnh, toàn bộ địa bàn tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng được hợp nhất thành thành phố Đà Nẵng mới. Từ đó, xã Tân Hiệp trở thành một trong các đơn vị hành chính của thành phố Đà Nẵng, với dân số 2.614 người (tháng 7/2025).

Trải qua nhiều thế kỷ sinh sống trên biển đảo, cư dân Tân Hiệp đã xây dựng nên một cộng đồng có tính cố kết cao, thích ứng linh hoạt với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt của vùng biển khơi. Từ hoạt động khai thác hải sản, nghề yến truyền thống đến các hình thức giao lưu thương mại và du lịch hiện nay, cộng đồng cư dân nơi đây luôn thể hiện khả năng thích ứng và sáng tạo trong quá trình mưu sinh. Chính quá trình lịch sử lâu dài ấy đã góp phần tạo nên bản sắc văn hóa đặc trưng của cư dân biển đảo Cù Lao Chàm, một bộ phận quan trọng trong không gian văn hóa biển của xứ Quảng.

Điểm dừng chân của những chuyến hải trình

Từ những thế kỷ đầu Công nguyên, quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và Ấn Độ đã được thiết lập. Con đường hàng hải nối giữa Trung Quốc và Ấn Độ đi từ phía Bắc Việt Nam, dọc theo bờ biển của bán đảo Đông Dương, qua bán đảo Mã Lai ở phần phía  Bắc  và  tới  Kancipura  ở  miền bán đảo Đông Dương như Phù Nam, Lâm Ấp (Champa)1. Chúng không chỉ là những trạm, những hải cảng quan trọng trên con đường hàng hải quốc tế, mà còn là nơi trú ngụ và là điểm thu mua nhiều sản vật quý dùng để xuất khẩu. Trong đó, Cù Lao Chàm là điểm tiền tiêu trên biển thuộc vương quốc Champa, là hành lang nối giữa Trung Quốc với Ấn Độ, Ả Rập, Ba Tư, Ai Cập và các nước châu Âu. Cho nên, Cù Lao Chàm có vị trí hàng đầu trong tuyến hàng hải khu vực, là nơi có thể dừng chân trao đổi hàng hóa, tích trữ lương thảo, nước ngọt trước khi giong buồm tiếp tục cuộc hành trình đến các quốc gia khác trong khu vực Đông Nam Á và một số vùng lân cận.

Từ thế kỷ VII đến thế kỷ XII, con đường tơ lụa, hương liệu và gốm sứ trên biển được hình thành. Tàu buôn từ Địa Trung Hải đến Trung Quốc mang theo vàng bạc và kim loại khai thác được từ các mỏ ở Ba Tư và những vùng lân cận; cùng thủy tinh và các đồ trang sức là những sản phẩm của Trung Đông sang các nước phương Đông và Trung Quốc buôn bán, sau đó họ mua lại đồ gia vị, tơ lụa, gốm sứ, lâm hải sản từ các nước này về. Trên chặng đường dài đó, họ đã đi qua quần đảo Cù Lao Chàm, để đi sâu vào vùng biển phía Nam Trung Quốc và các hải cảng của Nhật. Thư tịch cổ của người Ả Rập năm 851 - 852 đều Nam  Ấn  Độ.  Một  con  đường  khác 

có nói đến những chuyến tàu từ Ấn Độ đến Champa mất 10 ngày, ở đây có nước ngọt và trầm hương xuất khẩu, họ dừng lại lấy nước ngọt ở Sanfu Fùlaw (Cù Lao Chàm) rồi hướng đến Trung Quốc1.

 Vào cuối thế kỷ VIII, đầu thế kỷ IX, Giả Đam (賈耽, 730 - 805) - một đại thần, nhà địa lý học và nhà bản đồ học nổi tiếng của triều Đường, sống dưới thời vua Đường Đức Tông (khoảng 780 - 805), từng giữ chức Tể tướng và được xem là một trong những học giả địa lý xuất sắc nhất thời Đường, đã mô tả tuyến đường giao thương và nhắc đến Chiêm Bất Lao (tức Cù Lao Chàm): “Từ Quảng Châu đi đường biển về phía Đông Nam 200 dặm đến núi Đồn Môn (Tunmen). Từ đó thuận gió đi về phía Tây hai ngày đến đá Cửu Châu. Lại đi về phía Nam hai ngày đến đá Tượng. Lại đi về phía Tây Nam ba ngày đến núi Chiêm Bất Lao, nằm giữa biển, cách nước Hoàn Vương 200 dặm về phía Đông. Lại đi một ngày đến nước Môn Độc. Lại đi một ngày đến nước Cổ Đát. Lại đi nửa ngày đến châu Bôn Đà Lãng...”2.

Từ thế kỷ IX, một số thư tịch của các thương nhân và thủy thủ Ả Rập đã ghi nhận sự tồn tại của một địa điểm cung cấp nước ngọt trên tuyến đường  biển  từ  Ấn  Độ  đến  Trung Quốc. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng địa danh được ghi dưới tên Sanfu Fulaw chính là Cù Lao Chàm ngày nay. Với nguồn nước ngọt dồi dào và vị trí thuận lợi, quần đảo trở thành nơi tàu thuyền ghé lấy nước, củi đốt và lương thực trước khi tiếp tục hành trình.

Đặc biệt, sau các phát kiến địa lý ở cuối thế kỷ XV, các quốc gia ở phương Tây với nhiều đoàn thuyền khổng lồ ồ ạt tràn sang phương Đông để tìm kiếm thị trường, làm cho hoạt động thương mại trên biển ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương ngày càng trở nên sôi động, lần lượt lôi cuốn các nước phương Đông tham gia vào thị trường khu vực và thị trường thế giới đang hình thành, mà Việt Nam là một trong những nước nằm bên con đường thương mại quốc tế. Lúc này ở Đàng Trong, Vương quốc Champa suy tàn, người Việt đã làm chủ cả một vùng đất rộng lớn ở phía Nam. Dưới sự dẫn dắt của các chúa Nguyễn, người Việt đã kế thừa những thành quả khai phá Chiêm cảng xưa của người Chăm và xây dựng Hội An trở thành một đô thị thương cảng sầm uất, phát triển mạnh mẽ trong các thế kỷ XVII-XVIII. Cửa Đại Chiêm trở thành một trong những cảng thị thuận lợi để tàu thuyền quốc tế cập bến, nhằm trao đổi mua bán hàng hóa. Thương thuyền của các nước như Nhật Bản, Trung Quốc, Xiêm La, Miến Điện, Malaixia, Batavia (Indonesia), Bồ Đồ Nha, Anh, Pháp, Hà Lan, v.v…  đến Hội An buôn bán, thường phải qua  trạm kiểm soát và thu thuế ở Cù Lao Chàm. Khi về nước hoặc đến những nơi khác, họ thường ghé vào Cù Lao Chàm để chuẩn bị nước uống, củi, lương thực, thực phẩm cho hành trình hàng hải của mình.

Đặc biệt Cù Lao Chàm cũng là nơi diễn ra những cuộc tiếp xúc sớm giữa cư dân địa phương với các  giáo  sĩ phương Tây. Năm 1523, sứ giả Bồ Đào Nha Duarte Coelho ghé Cù Lao Chàm và để lại trên đảo một dấu tích mang biểu tượng thánh giá cùng dòng chữ INRI, được xem là một trong những chứng tích sớm nhất về sự hiện diện của người châu Âu tại đây1.

Trong suốt nhiều thế kỷ trước đến nay, thương thuyền trong nước và quốc tế trên đường đến Hội An, hoặc đi ngang qua cũng thường dừng chân tại đây. Qua đó, Cù Lao Chàm trở thành một trong những cửa ngõ giao lưu văn hóa Đông - Tây quan trọng của xứ Quảng.

Di sản biển đảo trong hành trình phát triển bền vững

Biển là nền tảng của đời sống cư dân Cù Lao Chàm, chi phối cả hoạt động kinh tế lẫn các giá trị văn hóa cộng đồng. Từ nhiều thế hệ, người dân chủ yếu sinh sống bằng nghề đánh bắt hải sản và khai thác các nguồn lợi tự nhiên ven đảo. Trong quá  trình  lao  động  trên  biển,  họ 

tích lũy hệ thống tri thức dân gian phong phú về luồng lạch, thời tiết, ngư trường và mùa vụ, góp phần bảo đảm sinh kế và thích ứng với môi trường biển đảo.

Chính quyền địa phương luôn xác định, kinh tế biển giữ vai trò quan trọng. Bà con ngư dân duy trì ổn định hoạt động khai thác, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống. Tổng sản lượng khai thác hải sản năm 2025 đạt 690,7 tấn, trong đó hải sản có giá trị cao khoảng 289 tấn2.

Bên cạnh nghề biển, khai thác yến sào là nghề truyền thống có giá trị kinh tế đặc biệt. Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi với hệ thống hang đá ven biển, nghề yến đã tồn tại từ nhiều thế kỷ. Không chỉ mang lại nguồn thu nhập quan trọng, nghề yến còn gắn với nhiều tập tục, nghi lễ và ký ức văn hóa của cư dân địa phương, trở thành một thành tố đặc sắc trong đời sống cộng đồng. Tuy nhiên, thời gian gần đây nghề khai thác yến cũng đang gặp phải những khó khăn, sản lượng yến giảm sút so với trước.

Điều kiện địa lý biệt lập giữa biển khơi đã góp phần hình thành tính cố kết xã hội bền chặt ở Cù Lao Chàm. Các dòng họ như Nguyễn, Trần, Lê, Huỳnh, Phạm, Võ... có vai trò quan trọng trong quá trình khai phá và xây  dựng làng đảo. Quan hệ huyết thống, láng giềng cùng tinh thần tương trợ được duy trì như những giá trị cốt lõi giúp cộng đồng vượt qua thiên tai, bão tố và những rủi ro thường trực của môi trường biển. Nhà thờ  tộc, gia phả và các hoạt động tế lễ tổ tiên vẫn được bảo tồn, góp phần gìn giữ truyền thống của nguồn cội và củng cố sự gắn kết cộng đồng.

Đời sống văn hóa của cư dân Cù Lao Chàm phản ánh quá trình thích ứng lâu dài với môi trường biển đảo. Trong nhận thức dân gian, biển vừa là nguồn sống vừa tiềm ẩn nhiều bất trắc, từ đó hình thành hệ thống tín ngưỡng đặc trưng nhằm cầu mong sự che chở và bình an. Nổi bật là tín ngưỡng thờ cá Ông (cá voi), vị thần được ngư dân tôn kính như người bảo hộ trên biển. Bên cạnh đó còn có tín ngưỡng thờ Tiền hiền, Hậu hiền, Thiên Y Ana, tổ nghề yến và tổ tiên, phản ánh sự giao thoa giữa văn hóa Việt với các yếu tố văn hóa Chăm trong tiến trình lịch sử của xứ Quảng.

Cù Lao Chàm hiện còn lưu giữ nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể có giá trị. Đặc biệt, hệ thống di tích kiến trúc dân dụng và tôn giáo tín ngưỡng như miếu Tổ nghề yến, chùa Hải Tạng, tịnh xá Ngọc Truyền, đình Tiền hiền, lăng Ông Ngư, miếu Thổ thần, miếu Thành hoàng, miếu Cô hồn, giếng Chăm, nhà ông Trần Cần, Trần Vinh... Trong đó, chùa Hải Tạng, được xây dựng từ thế kỷ XVIII, vừa là cơ sở tôn giáo vừa là trung tâm sinh hoạt văn hóa của cộng đồng; cùng với miếu Tổ nghề yến gắn liền với nghề khai thác yến sào truyền thống. Bên cạnh đó là các giá trị văn hóa phi vật thể như lễ cầu ngư, hát bả trạo, nghề khai thác yến, kinh nghiệm đi biển và hệ thống tri thức dân gian liên quan đến môi trường biển đảo. Những giá trị ấy góp phần tạo nên bản sắc văn hóa đặc sắc của cộng đồng cư dân Cù Lao Chàm.

Với điều kiện khí hậu quanh năm mát mẻ, hệ động thực vật phong phú, đặc biệt là hải sản, yến sào và các rạn san hô ở biển đã được các nhà khoa học đánh giá cao và đưa vào danh sách bảo vệ. Ngày 29/5/2009, Cù Lao Chàm được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới, đánh dấu bước phát triển mới trong công tác bảo tồn và quản lý tài nguyên. Từ đó, nhiều chương trình bảo vệ môi trường, phục hồi hệ sinh  thái  biển và quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng được triển khai. Đặc biệt, phong trào hạn chế sử dụng túi ni lông đã trở thành mô hình tiêu biểu được nhiều địa phương tham khảo. Để bảo tồn đa dạng sinh học biển, Cù Lao đã xây dựng thành công vùng phục hồi rạn san hô 6.000m2 và nuôi cấy, phát triển 3.471 tập đoàn san hô. Đây là nguồn tài nguyên quan trọng trong việc bảo tồn biển và phục vụ du lịch.

Song song với công tác bảo tồn, du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng ngày càng phát triển. Cảnh quan thiên nhiên, hệ sinh thái biển cùng các giá trị lịch sử - văn hóa đã tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt đối với du  khách trong và ngoài nước. Du lịch không chỉ góp phần nâng cao thu nhập cho người dân mà còn tạo điều kiện để nhiều giá trị văn hóa truyền thống được phục hồi và phát huy.

Đặc biệt ở Cù Lao Chàm, vào khoảng tháng 6 tháng 7 là thời điểm ngô đồng nở hoa đỏ rực, loại cây này có hàng trăm năm tuổi, bền bỉ chống chọi trước nắng gió của biển khơi. Mỗi khi ngô đồng trổ hoa, sắc màu đỏ rực như những tia lửa soi bóng xuống mặt biển xanh biếc. Với giá trị riêng có, năm 2024, Festival “Cù Lao Chàm - Mùa ngô đồng đỏ” được tổ chức nhằm giới thiệu, quảng bá sản phẩm du lịch tự nhiên của xứ đảo cho du khách gần xa. Từ rất lâu, người dân đã biết dùng vỏ cây ngô đồng ngâm trong nước rồi đánh sợi, đan võng. Nghề thủ công truyền thống này đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 831/ QĐ-BVHTTDL ngày 21/2/2024.

Đến với Cù Lao Chàm, du khách còn được hòa mình trong không khí của các lễ hội dân gian được chính quyền và người dân trên đảo tổ chức như lễ giỗ tổ nghề yến ngày mùng 9 - 10/3 âm lịch; lễ cầu ngư tháng 4 âm lịch… nhằm cầu mong quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa đánh bắt bội thu. Đây là dịp để du khách tìm hiểu những tín ngưỡng dân gian với nghi thức cúng tế truyền thống của cư dân trên đảo, nghe  những làn điệu dân ca, bài chòi, hò đưa linh thao thức lòng người, hoặc tham gia vào các trò chơi và thưởng thức ẩm thực dân dã của người dân xứ đảo.

Tuy nhiên, sự phát triển cũng đặt ra những thách thức mới như áp lực môi trường, suy giảm nguồn lợi thủy sản, biến đổi khí hậu và nguy cơ mai một các giá trị văn hóa truyền thống. Vì vậy, việc kết hợp hài hòa giữa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, gìn giữ di sản văn hóa và nâng cao đời sống cộng đồng tiếp tục là định hướng phát triển lâu dài của địa phương.

*

*     *

Cù Lao Chàm giữ vị trí đặc biệt trong lịch sử hình thành và phát triển của Đà Nẵng cũng như vùng đất xứ Quảng. Nằm trên tuyến hàng hải quốc tế quan trọng, quần đảo từng là điểm dừng chân của các thương thuyền và là nơi diễn ra những hoạt động giao lưu kinh tế, văn hóa sôi động giữa nhiều cộng đồng cư dân trong khu vực. Qua các lớp cư dân Sa Huỳnh, Champa và Việt, Cù Lao Chàm lưu giữ nhiều giá trị  lịch  sử, khảo cổ và văn hóa biển đảo đặc sắc, phản ánh quá trình con người thích ứng với môi trường biển. Những di sản ấy góp phần khẳng định vai trò của quần đảo trong lịch sử hàng hải và giao thương trên Biển Đông. Ngày nay, với tư cách là Khu dự trữ sinh quyển thế giới, Cù Lao Chàm tiếp tục phát huy giá trị nổi bật về bảo tồn thiên nhiên, văn hóa và phát  triển bền vững, trở thành biểu tượng tiêu biểu của văn hóa biển đảo Việt Nam.

V.V.H

Chú thích:

1. Gồm: Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Khô Mẹ, Hòn Khô Con, Hòn Lá, Hòn Tai và Hòn Ông 

2. GS. Trần Quốc Vượng, TS. Lâm Mỹ Dung, CN. Hồ Xuân Tịnh, CN. Nguyễn Chí Trung, CN. Trần Văn An. “Di tích khảo cổ học Bãi Ông”. Kỷ yếu Cù Lao Chàm - Vị thế tiềm năng và triển vọng. Trung tâm Quản lý bảo tồn di tích Hội An, 2007, tr. 164-165.

3. Lâm Mỹ Dung, Hồ Tấn Cường, Trần Văn An.

Kết quả thám sát địa điểm Bãi Làng (Cù Lao Chàm - Quảng Nam)”. Những  phát  hiện  mới về khảo cổ học 1998. Nxb KHXH, Hà Nội, 1999, tr 651.

4. 2 Thích Đại Sán. Hải ngoại kỷ sự. Viện Đại học Huế - Ủy ban phiên dịch sử liệu Việt Nam, 1963, tr. 162.

5.  Shigeru Ikuta. “Vai trò của các cảng thị ở vùng không cắt ngang qua bán đảo nhưng đi xuyên qua eo biển tới Malacca. Lúc này nhiều cảng thị hình thành trên ven biển Đông Nam Á từ đầu thế kỷ II TCN đến đầu thế kỷ XIX”. Đô thị cổ Hội An. Nxb KHXH Hà Nội, 1991, tr. 248-249.

6. Tạ Thị Hoàng Vân. Sự hình thành đô thị Hội An trong lịch sử. Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử. Trường Đại học KHXH&NV, Hà Nội, 2000, tr. 30.

7. Tân Đường thư, quyển 43 hạ, Địa lý chí VII hạ, Bắc Kinh: Trung Hoa Thư cục, 1975, tr. 1153- 1154. (Nguyễn Thái Hòa dịch).

8. Fernão Mendes Pinto. Perigrinaçam de Mendez Pinto (bản tiếng Anh do Rebecca D. Catz biên soạn), University of Chicago Press xuất bản, 1989, tr. 507.

9. UBND xã Tân Hiệp. Báo cáo  Tình  hình  Kinh tế - xã hội, Quốc phòng - an ninh năm 2025 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2026. Báo cáo số 121/BC-UBND, ngày 23 tháng 12 năm 2025.