Người lính trong thơ Ngân Vịnh

04.08.2026
Thanh Quế

Người lính trong thơ Ngân Vịnh

Bìa tập thơ Những hơi thở, những chặng đời của nhà thơ Ngân Vịnh

Nhà  thơ  Ngân  Vịnh  vừa  tặng cho tôi tập thơ Những hơi thở, những chặng đời(1).  Đây  thực chất là tuyển thơ của đời thơ Ngân Vịnh. Tập thơ có nhiều mảng, mỗi mảng lại có nhiều bài hay, nhưng có thể rút gọn lại, đây là tập thơ viết về người lính trong chiến đấu (cụ thể là chiến trường Campuchia) và trong cuộc sống đời thường.

 Người lính ở đây vốn là những người vừa trải qua cuộc kháng chiến chống Mỹ, đang gác súng ngồi nghỉ dưới bóng mát của một đất nước vừa hòa bình thống nhất với những cuộc gặp gỡ vội vã với người thân, được bước những bước thảnh thơi nơi phố xá, làng quê, để lại chuẩn bị lên đường đánh lại kẻ thù xâm phạm biên giới - vốn là những người bạn, nay đã phản bội lại Tổ quốc ta và cả Tổ quốc của họ. Người lính ở đây còn là những cậu học sinh vừa tốt nghiệp phổ thông, còn phụ thuộc gia đình, chưa hiểu gì về cuộc đời, đã phải cùng với lớp cha anh ra mặt trận. Những người lính ấy được sinh ra ở các thành phố, vùng đồng bằng tốt tươi, lại có người sinh ra ở vùng núi, trung du đầy đá ong, chỉ có cây dương xỉ mọc. Từng người lính có những suy tư, tâm trạng riêng. Từng thế hệ người lính cũng vậy. Họ tự gạt mối riêng tư để ra chiến trường... Khác với hồi chống Mỹ: cả nước lên đường, hậu phương cũng như tiền tuyến. Còn trong cuộc chiến đấu này, một bộ phận đông sống trong yên ổn hòa bình, một bộ phận nhỏ hơn lại phải đi về phía có tiếng súng nổ. Họ ra đi biết có còn trở lại? Nhưng họ vẫn ra đi, vì những điều cao cả, thiêng liêng: Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam vừa mới hòa bình, thống nhất, và giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng. Có thấy rõ những điều ấy mới thấy được sự cao cả của người lính:

 Có bao nhiêu khó khăn

Từ nơi bình yên đến nơi súng nổ

Dù hành trang chuẩn bị đủ đầy

và đôi chân sẵn sàng cuốc bộ …

…một chuyến đi xa

với chúng tôi không có gì là khó

song đừng nói rằng: người lính

vốn quen

hay:

Người lính biết mình biết cả sự

                                          hy sinh

Trước sau cuộc đời người lính

                               vẫn truân chuyên

Giữ Tổ quốc bình yên

Đất thấm máu cho lòng tôi gắn bó

                                           (Tự khúc)

Chiến  trường  Campuchia  không những là nơi ác liệt về bom đạn, mà trong chiến đấu người lính Việt Nam còn chưa quen với địa hình, thời tiết, khí hậu. Nạn thiếu nước vào mùa khô trong rừng khộp là một trong những nỗi khổ cùng cực của các anh. Có nhiều chiến sĩ do truy kích địch đã bị lạc đơn vị phải nằm lại giữa rừng trong cơn khát dày vò. Đồng đội phải mang nước đi tìm, cứu các anh. Tôi đi tìm anh là một bài thơ đặc sắc, đáng nhớ của Ngân Vịnh đã làm xúc động biết bao người đọc:

Nước cõng trên lưng tôi đi tìm anh

Tố ơi, Tố ơi có nghe tôi gọi

Tiếng tôi gọi vang trên rừng núi

Anh giờ trong cơn khát nằm đâu?

 

Anh nằm ở đâu với cơn khát

                                          dày vò

Miệng cạp vào những cây cỏ nát

Xương thịt mỏi rời, mặt mày

                                      sưng húp

Đôi bàn tay cào đất tóe máu tươi

                                              (Tôi đi tìm anh)

Sự tìm kiếm bạn có lúc đến tuyệt vọng: Anh nằm ở đâu tôi làm sao yên. Không yên vì biết bạn mình đang héo hắt, chết dần. Anh chỉ mong bạn trả lời bằng một tiếng rên khẽ, một bàn chân đạp rung cỏ lá, một bàn tay vẫy vùng giây phút. Nhưng vẫn chỉ có một mùa khô khốc liệt kéo dài trả lời anh. Biết làm sao đây? Lòng anh quặn thắt: Anh nằm ở đâu có nghe tôi gọi. Một tiếng gọi đầy yêu thương, đau khổ và thấp thỏm hy vọng…

Người lính cõng bạn bị thương đi bước trầy bước trật trong cơn mưa xối xả ở xứ chùa Tháp cũng là bài thơ đặc sắc về tình đồng đội, nối tiếp bài thơ Tôi đi tìm anh:

Mưa đan trắng đất trắng trời

Rừng nhòa trong sắc lá ngời

                                    thẳm xanh

Bạn tôi tôi cõng trên lưng

Vết thương máu chảy cũng

                                       từng giọt rơi

 Chính chiều cõng bạn trong mưa

Đã cho tôi cái tôi vừa đi qua

                             (Qua cơn mưa rừng)

“Cái tôi vừa đi qua” là cái gì? Đó là  bài  học  nằm  lòng  về  tình  đồng đội thủy chung, khi vất vả, khi hoạn nạn luôn sát cánh bên nhau để cứu giúp nhau, vượt qua mọi hoàn cảnh hiểm nguy trong chiến đấu cũng như trong đời thường. Bài học ấy được đúc kết từ mồ hôi, xương máu của những người lính cùng chung lẽ sống, cùng chung dòng máu Việt từ thời ông cha truyền lại. Tôi đi tìm anh kết cùng Qua cơn mưa rừng đi đến tột cùng của cảm xúc đã biến thành hai bài thơ giàu trí tuệ, giàu chất triết lý trong thơ Ngân Vịnh. Đây là một cách tìm thơ mang lại nhiều thành công cho anh.

Đối ngược với những hoàn cảnh éo le của người lính ở trên là hình ảnh thanh bình sau trận chiến đấu ác liệt, khi người lính lấy vạt áo thấm mồ hôi trên trán, lòng thanh thản nhìn ngắm thiên nhiên, cây cỏ, muôn thú. Lòng dạt dào yêu mến, họ theo dõi một chú sóc chuyền cành kiếm ăn với vẻ ung dung tự tại. Con sóc nhỏ là bài thơ hay, đầy thú vị, nhẹ nhàng và đáng yêu.

Tôi ngồi với những người lính trẻ

Không một ai cười nói một lời

Mắt dồn cả lên con sóc nhỏ

Sau những giờ chiến đấu sục sôi

Người lính vui mừng cùng với nỗi vui của nhân dân Campuchia vừa được giải phóng khỏi bàn tay tàn bạo của bọn thống trị Pôn Pốt:

Em kéo tôi vào điệu múa Rom Vông

Vào tiếng trống vào tiếng đàn Rôniết

Khuôn mặt tôi đỏ hồng đêm

                                       Siêm Riệp

Bên nụ cười ánh mắt em

    (Đêm Rom Vông ở Siêm Riệp)

“Em  kéo  tôi  vào  điệu  múa  Rom Vông” là động tác nói lên sự thân mật, sự hiểu nhau, sự biết ơn của những người dân Campuchia với người lính Việt Nam. Họ coi người lính là người thân, người nhà, đã quen biết lâu rồi…

Người lính của chúng ta còn là người con, người chồng, người cha của những ông bố bà mẹ, của người vợ yếu, con thơ ở tít xa chốn hậu phương. Nỗi nhớ người thân  càng da diết hơn sau những giờ chiến đấu, trong những đêm vắng lặng chỉ có tiếng tắc kè vọng về từ rừng sâu. Một tiếng tu hú vang lên giữa trưa cháy nắng khô khát cũng mang đến cho các anh vị ngọt mát của quả vải ven bờ sông Cà Lồ (Vĩnh Phúc), sông Thương thương nhớ ở Bắc Giang. Đi qua những cánh đồng bị bỏ hoang vì không có ai cày cấy của xứ bạn, anh thảng thốt nhớ về những cánh đồng bên sông Hồng, sông Mã, sông Thu Bồn, sông Ba… Có bóng dáng cha cày, mẹ khom người cấy.  Anh nhớ những bãi cát vàng sóng vỗ nơi vợ con anh đang sống ở Đà Nẵng. Và bất chợt hiện lên đôi mắt của một người con gái đã xa rồi, xa lắm rồi, xa thăm thẳm:

Ngày ấy mắt anh gặp ánh mắt em

Hai đứa lặng im kề bên bối rối

Biển như lòng xôn xao sóng dội

Mà ta như tảng đá lặng câm

 

Giá bên nhau cất được lời như biển
Ta đâu xa cách đến giờ!

                     (Ngày ấy)

Đó là một câu than buồn quặn thắt. Nhưng qua rồi. Đời người là thế phải không Ngân Vịnh? Ngày ấy là bài thơ hay, lạ, đột xuất trong thơ Ngân Vịnh. Trong đời không phải nhà thơ nào cũng có được một bài thơ như thế. Cũng trong những bài thơ tình yêu, Bài thơ tiễn biệt em viết vào ngày mất của chị Phương Mai - vợ anh, là bài thơ xúc động nghẹn ngào, lan tỏa trong từng đoạn thơ. Có thể nói đây là bài thơ xuất sắc viết về tình vợ chồng. Bài thơ khá dài, tôi xin trích một đoạn:

Hạnh phúc nhớ thương buồn vui

Em chẳng còn đong đếm

Em chẳng còn đi trong nắng biển

Chẳng còn dắt tay con đến trường

Căn nhà một mình anh

Đứng ngồi cô đơn

Nghe mưa rơi từng giọt

Tiếng gà khuya gáy ngoài sông…

                         (Bài thơ tiễn biệt em)

Từ khi giải ngũ về với đời thường, người lính trong thơ Ngân Vịnh có nhiều lo nghĩ, suy tư trước những khó khăn, những mặt tiêu cực của cuộc sống:

Chen chúc đã quen

Thiếu thốn đã quen…

 Tôi ngộ ra đời người

Ngoảnh mặt quay lưng nông nổi

Trong xó xỉnh góc nhà tôi thấy

Không cần dỗ dành chiều chuộng

cơn mê

(Trong xó xỉnh góc nhà) Hay:

Sự sống con người sấp ngửa

Sự lạm quyền Sự dối trá

Cứ phải thấy cứ phải nghe

Muốn im lặng mà không được

Biết cuộc đời là dâu bể

Mà tôi vẫn ký thác tôi

                            (Ngày ngắn ngủi)

Thơ Ngân Vịnh bây giờ không còn chải chuốt ví von như xưa mà nó bộc trực nảy ra như lời nói thường: Dẫu rằng thế gian dối trá Thăng trầm sấp ngửa bàn tay Ở chốn chân trời góc bể

Tự tin ta vẫn thế này

(Ngày trở gió)

Chất “lính” vẫn còn hiện hữu trong thơ Ngân Vịnh đến những năm về già. Đó là sức mạnh để anh giữ vững phẩm chất người lính trước mọi sự cám dỗ của cuộc sống Tự tin ta vẫn thế này và tiếp tục sống, làm thơ.

Ngân Vịnh trong bài Ta tìm cũng là cách trở về với bản ngã, trở về với bản chất con người thật của mình - bản chất người lính, để cuối cùng trở lại với cội nguồn:

Ta tìm

Ta gốc cỏ xanh

Được chia hương hỏa nửa vành

                                    trăng non

Bài thơ giàu chất triết lý nhân sinh được thể hiện thật thâm trầm giản dị…

*

*     *

Sau hơn 50 năm làm thơ, nhất là thơ về người lính, Ngân Vịnh đã tạo được cho mình một phong cách riêng: Ngôn ngữ phong phú, đa sắc, đa thanh, có nhiều câu chữ mới lạ của đời thường (ngày chênh chếch, chiều vàng rưng rức, cơn mưa dịu ngọt nỗi buồn, trưa nắng vàng hổ phách, bầu trời mở ra thống thếnh, đường hoa cỏ mọc tồng tênh, tiếng gà gáy xôn xao .v.v và v.v); tình cảm dồi dào, xúc động và ý tưởng sâu sắc mang tính triết học nhân sinh, nhất là những bài thơ lục bát.

Đi theo phong cách này, hơn nửa thế kỷ nay, anh đã tạo ra cho mình một mảng thơ thật riêng biệt - thơ về người lính, và anh đã thành công. Anh đã khắc họa được hình ảnh người lính luôn gắn bó số phận mình với số phận Tổ quốc, và đã ra đi chiến đấu kiên cường, dũng cảm, mưu trí vì Tổ quốc và tình hữu nghị với nước bạn (Người lính biết mình biết cả sự hy sinh/ Trước sau cuộc đời người lính vẫn gian truân/ Giữ Tổ quốc bình yên/ Đất thấm máu cho lòng tôi gắn bó - Tự khúc). Anh đã tô đậm, giãi bày được đời sống tinh thần của người lính với đồng đội, nhân dân nước bạn và đối với quê hương, gia đình, người thân trong nhiều bài thơ hay, giàu tình cảm và triết lý tôi đã kể trên và kể thêm với các bài Đôi mắt, Rừng ôrô, Bay-on đối mặt, Tôi khắc tên tôi, Sương đẫm lá khộp khô, Sáng tháng 2-1979, Bố tôi, Đêm Thị Nở Chí Phèo, Một ngày trong cõi trăm năm, Thăm mộ mẹ, Đá cười, Miền yên lãng, Trong hoàng hôn quay về...

T.Q

(1) Nhà Xuất bản Hội Nhà văn, 2026