Về một di sản sống ở Hội An

05.05.2026
Tống Quốc Hưng

Về một di sản sống ở Hội An

Tết Nguyên tiêu ở Hội An. Ảnh: PHƯỚC TỊNH

Giữa nhịp sống hiện đại, hoạt động “du hồ” từng góp phần làm nên sức sống lễ hội của Hội An đang dần vắng bóng. Việc phục hồi không chỉ góp phần bảo tồn di sản mà còn làm giàu bản sắc và trải nghiệm văn hóa của đô thị cổ.

* Dấu ấn rực rỡ của“du hồ” trong lịch sử phố Hội

Ngày xưa, mỗi độ xuân về, bên cạnh việc lo bánh mứt, phố thị Hội An rộn ràng sôi động bởi những tiếng trống, kèn đồng, xập xõa cùng đi với những đoàn du xuân chúc tết. Mọi người hầu như ai ai cũng nhận biết đó chính là hoạt động biểu diễn “du hồ”. Biểu diễn“du hồ”là một trong những hoạt động văn hóa truyền thống độc đáo của cộng đồng người Hoa, người Minh Hương ở Hội An. Trong nhiều trăm năm trước, biểu diễn “du hồ” đã phục vụ tích cực cho những hoạt động lễ hội của người Hoa như các đám rước cộ, rước kiệu, nghinh thỉnh, các đám du hành chúc phúc trong các dịp lễ lớn như Quốc khánh, tết Nguyên đán, Nguyên tiêu, Trung thu…

Theo nhiều vị cao niên, hoạt động biểu diễn “du hồ” có nguồn gốc từ hoạt động du hồ bát bửu” của người Triều Châu - Trung Quốc. Sau khi sang Hội An sinh sống, người Triều Châu không chỉ chú trọng thương nghiệp mà họ còn phát huy những nét văn hóa truyền thống của mình, trong đó có hoạt động “du hồ”. Trong quá khứ, hoạt động này đã có nhiều đóng góp rất tích cực, làm tăng vẻ sôi động, khí thế cho các đám rước, lễ hội truyền thống… Trước đây người Hoa tại Hội An, mà cụ thể là Trung Hoa hội quán, có sự phân công cho các bang chịu trách nhiệm từng phần trong các đám rước lớn, trong các ngày đại lễ… Thông thường thì bang Phước Kiến chịu trách nhiệm phần kiệu, bang Quảng Đông lo múa thiên cẩu, bang Hải Nam múa chút chít, còn bang Triều Châu thì phụ trách “du hồ”.

Liên quan đến tên gọi, nhiều người Hoa có am hiểu cho rằng, hai chữ “du hồ” là đọc theo âm Quảng Đông, còn đọc theo âm Hán Việt là “du hạ”, có nghĩa là “du hành chúc hạ, du hành để chúc mừng”. Và thực tế cho thấy trước đây hoạt động “du hồ” tại Hội An chủ yếu là hòa âm trên đường phố để chúc mừng nhân các ngày lễ, Tết Nguyên đán, Nguyên tiêu hay chào mừng quan khách về thăm Hội An… Hoạt động “du hồ” có mặt ở Hội An cách nay khoảng hơn 200 năm và cực thịnh trong thời kỳ Pháp thuộc. Trong thời gian này, chính quyền Pháp rất quan tâm chú trọng các hoạt động văn hóa - văn nghệ của địa phương, có lẽ là các hoạt động này rất mới lạ đối với người Tây phương nên họ cảm thấy thích thú và có những quan tâm đặc biệt như vậy.

Hàng năm vào dịp quốc khánh nước Pháp, Tòa Công sứ Pháp tại Hội An tổ chức lễ nghi rất long trọng để chào mừng. Dịp đó, quan Công sứ thường vận động các hoạt động văn hóa - văn nghệ ở Hội An tham gia chúc mừng mà chủ yếu là biểu diễn “du hồ” của bang Triều Châu, biểu diễn chút chít của bang Hải Nam, biểu diễn thiên cẩu của bang Quảng Đông, rước kiệu của bang Phước Kiến… Trong dịp vua Bảo Đại tuần du đến Hội An, hoạt động “du hồ” cũng được huy động để nghinh đón chào mừng. Ngoài ra, trong các ngày lễ rước, lễ tết thì người Hoa và người Minh Hương cũng tổ chức biểu diễn “du hồ” rầm rộ, có lúc người ta còn kết thuyền hoa trên  sông  Hội  An rồi ra biểu diễn tại đó để mừng đại lễ, đồng thời cũng vừa là dịp để các đội “du hồ” biểu diễn phục vụ công chúng.

Trước đây, hoạt động “du hồ” không chỉ biểu diễn ở Hội An mà còn được mời đi biểu diễn ở nhiều nơi khác như Đà Nẵng, ở phủ Điện Bàn, thậm chí còn được mời đi biểu diễn tại Huế trong các dịp đại lễ mừng thọ, khánh chúc các quan lại triều đình… Hoạt động “du hồ” ở Hội An thường được bang Triều Châu, Minh Hương Tụy Tiên đường phụ trách tổ chức. Vì vậy, Ban trị sự của các tổ chức này cử người phụ trách, quản lý và lo nhân sự cử đội để đảm bảo mọi mặt khi đội “du hồ” biểu diễn. Riêng ở xã Minh Hương thường cử Lý trưởng, Hương kiểm phụ trách tổ chức. Mỗi đội “du hồ” thường có khoảng 18 đến 22 người tham gia biểu diễn.

Để đội “du hồ” có thể biểu diễn được thì phải có các loại nhạc khí như sau: 1 trống lớn, 1 hoặc 2 phèn, 4 xập xõa, 6 - 20 phèng la và các nhạc cụ của đội cổ nhạc như trống cơm, kèn, đàn cò, đàn nhị, sáo trúc, sênh tiền…

Những người từng tham gia đội “du hồ” cho biết, đội “du hồ” của người Triều Châu có khi mặc đồ kiểu Tàu, thắt lưng bằng vải đỏ, đi giày vải; cũng có khi mặc áo mizô trắng, quần đen, thắt lưng bằng đai vải đỏ, choàng vai cũng màu đỏ. Đội “du hồ” của người Minh Hương thì mặc đồng phục áo trắng, quần trắng, đội mũ trắng viền vàng hoặc xanh, thắt lưng đỏ, đi giày trắng, chân quấn xà cạp.

Các nhân chứng còn thông tin thêm: những người tham gia vào đội “du hồ” của người Minh Hương thường là những người học võ, thợ may...

Thông thường, dẫn đầu đội “du hồ” là “long bãi’ dạng lồng đèn, trên đề tên của đội “du hồ”. Sau long bãi là đội “du hồ” xếp thành hai hàng dọc theo thứ tự: xập xõa - phèng la chiêng đội cổ nhạc, còn trống thì đi giữa đội hình. Nếu trong đám có rước kiệu thần và có thêm các hoạt động khác tham gia thì đội hình lại bố trí như sau: long bãi - kiệu thần - kèn - xập xõa - phèng la - chiêng - đội cổ nhạc - đội thiên cẩu, trống vẫn đi giữa đội hình để điều khiển. Khi đi trên đường, đội du hồ vừa đi vừa tấu nhạc hòa âm, đôi khi những người chơi xập xõa tung xập xõa lên không, sau đó vừa tiếp xập xõa vừa chập mạnh lại tạo thành âm thanh rất ấn tượng. Nếu đội “du hồ” biểu diễn vào ban đêm thì có thêm đội cầm đuốc để soi đường. Đôi khi đoàn “du hồ” không biểu diễn ngoài đường phố mà biểu diễn tại chỗ, tại các di tích tín ngưỡng để phục vụ lễ cúng hay hòa âm chúc mừng các nhân vật quan trọng đến thăm. Trong trường hợp này, các thành viên của đoàn chủ yếu hòa âm tại chỗ, không biểu diễn tung hứng phèng la, trống vẫn giữ vai trò chủ đạo.

* Phục hồi “du hồ” - hướng đi để làm giàu giá trị đô thị di sản

Tuy từng giữ vị trí quan trọng trong đời sống lễ hội, nhưng ngày nay, “du hồ” ở Hội An gần như đã biến mất. Những đoàn diễu hành rộn ràng năm nào giờ chỉ còn trong ký ức các bậc cao niên.

Nguyên nhân trước hết đến từ sự thay đổi của đời sống xã hội. Quá trình đô thị hóa và sự phát triển của các loại hình giải trí hiện đại đã khiến những sinh hoạt văn hóa truyền thống dần mất đi sức hút. Trong bối cảnh đó, “du hồ” vốn đòi hỏi sự tham gia tập thể và luyện tập công phu khó có thể cạnh tranh với những hình thức giải trí nhanh, tiện lợi.

Một yếu tố quan trọng khác là sự thiếu hụt lực lượng kế cận. “Du hồ” không phải là hoạt động cá nhân mà cần sự phối hợp của nhiều người, từ người đánh trống, chơi nhạc đến người biểu diễn. Tuy nhiên, lớp trẻ ngày nay ít có cơ hội tiếp cận, học hỏi, dẫn đến khoảng trống truyền thừa ngày càng lớn.

Bên cạnh đó, vai trò của các bang hội người gốc Hoa - lực lượng từng giữ vai trò nòng cốt trong việc tổ chức “du hồ”, cũng suy giảm theo thời gian. Khi các thiết chế cộng đồng này không còn hoạt động mạnh mẽ như trước, việc duy trì các đội “du hồ” trở nên khó khăn hơn.

Không gian và cơ hội biểu diễn cũng là một vấn đề. Trước đây,“du hồ” gắn liền với các lễ hội truyền thống và sinh hoạt cộng đồng. Nhưng hiện nay, nhiều nghi lễ không còn được tổ chức quy mô lớn, khiến “sân khấu” tự nhiên của “du hồ” bị thu hẹp. Thiếu môi trường thực hành khiến loại hình này dần rơi vào quên lãng.

Trong bối cảnh Hội An được định vị là đô thị di sản mang tầm quốc tế, việc phục hồi các loại hình văn hóa truyền thống như “du hồ” là cần thiết và có ý nghĩa lâu dài.

Trước hết, “du hồ” có tiềm năng trở thành một sản phẩm văn hóa - du lịch đặc sắc. Với tính chất trình diễn đường phố sinh động, “du hồ” hoàn toàn có thể được tái hiện trong không gian phố cổ, đặc biệt vào các dịp lễ hội. Những đoàn “du hồ” diễu hành, biểu diễn sẽ góp phần tái tạo không khí xưa, mang đến cho du khách trải nghiệm chân thực và khác biệt, điều mà không phải điểm đến nào cũng có.

Quan trọng hơn, việc phục hồi “du hồ” còn góp phần củng cố sự gắn kết cộng đồng. Đây là loại hình đòi hỏi sự tham gia tập thể, từ khâu tổ chức, luyện tập đến biểu diễn. Thông qua đó, có thể khơi dậy tinh thần cộng đồng trong cư dân, đặc biệt là các nhóm người Hoa và Minh Hương, những chủ thể văn hóa gắn bó mật thiết với “du hồ”.

Để phục hồi hiệu quả, cần có sự vào cuộc đồng bộ của nhiều bên. Trước hết là công tác sưu tầm, tư liệu hóa: ghi chép lại ký ức, kinh nghiệm của các nghệ nhân, nhân chứng còn lại. Đây là nền tảng quan trọng để tái dựng một cách chính xác và có chiều sâu. Tiếp đến là hoạt động truyền dạy cho thế hệ trẻ. Có thể tổ chức các lớp học, câu lạc bộ, hoặc đưa “du hồ” vào chương trình giáo dục văn hóa địa phương. Việc hình thành các đội “du hồ” mới, dựa trên nền tảng truyền thống, sẽ giúp loại hình này có cơ hội “sống lại”.

Song song đó, cần tạo điều kiện về không gian và cơ hội biểu diễn. “Du hồ” nên được đưa vào các chương trình lễ hội, sự kiện văn hóa của Hội An một cách bài bản, có kế hoạch dài hạn. Sự hỗ trợ về kinh phí, trang phục, nhạc cụ cũng là yếu tố cần thiết để duy trì hoạt động.

Không thể phủ nhận rằng, trong dòng chảy của thời gian, nhiều giá trị văn hóa sẽ thay đổi hoặc mai một. Nhưng với những gì “du hồ” từng đóng góp cho đời sống tinh thần và bản sắc của Hội An, việc phục hồi không chỉ là “giữ lại quá khứ”, mà còn là tạo thêm sức sống cho hiện tại và tương lai.

T.Q.H