Giới hạn của dòng sông…

Đôi bờ sông Cu Đê phía thượng nguồn. Ảnh: N.T
Giới hạn của mỗi dòng sông được đo đếm bằng độ nông sâu, rộng hẹp hay dài ngắn? Nhưng có giới hạn nào khoanh vùng được dòng chảy trầm tích văn hóa lắng đọng suốt chiều dài lịch sử, hay những chiêm nghiệm mà mỗi người đã gửi gắm vào dòng sông ấy trong cuộc đời mình.
Sông Cu Đê, nếu tính từ đầu nguồn Vũng Bọt ở thôn Tà Lang đến cửa sông tại Nam Ô, chỉ dài chưa đầy 30 km và nằm trọn trong phường có diện tích lớn nhất Đà Nẵng là Hải Vân. Đây thực sự là thử thách lớn cho những ai muốn tìm giới hạn của dòng sông...
Sóng nơi đầu sông
Trong nắng sớm giữa mùa xuân, ông Trương Văn Mỹ ở thôn Tà Lang cúi gập người, gõ dùi vào chiếc chiêng đang cầm trên tay. Chân ông bước những vòng vững chãi chung quanh cây nêu trước nhà gươl, tạo nhịp dẫn cho tiếng trống vang lên cùng đám con trai con gái Cơ Tu trình diễn điệu tâng tung da dá huyền hoặc.
Gần chạm tuổi “thất thập cổ lai hy”, đôi tay bàn chân ông Mỹ vẫn chắc nịch và nhanh nhẹn, uyển chuyển trong từng nhịp bước nhịp chiêng, dẫn dắt đám trẻ múa theo. Ông nói, từ năm mười lăm tuổi đã nhuần nhuyễn cách chơi nhạc cụ dân tộc mình, cũng như học đẽo tượng nhà mồ, trang trí nhà gươl.
“Lớp trước, từ tuổi thiếu niên, con trai phải biết đánh đàn, chiêng trống; lớn lên một chút thì rành rẽ chuyện đi rừng đi rẫy, làm nhà sàn, nhà gươl, đẽo tượng… Con gái phải biết cơm nước, thêu thùa, múa hát. Cha mẹ truyền con nối, vậy mới giữ được truyền thống cha ông” - ông nhớ lại cái thuở niên thiếu của mình. Cái thời người dân Cơ Tu bỏ nơi chôn nhau cắt rốn là đất Giàn Bí, Tà Lang này theo con nước đi ngược lên núi rừng, tham gia kháng chiến. Du canh du cư, khổ cực là vậy, nhưng vẫn giữ được những tập tục, lễ hội, bản sắc truyền thống dân tộc; đến sau hòa bình, lần lượt trở về dựng nhà cửa trên nền thôn cũ.
Vũng Bọt là nơi con nước sông Nam và sông Bắc giao nhau, vỗ bọt trắng xóa tạo thành đầu nguồn Cu Đê. Lần theo lịch sử, sông Bắc khởi đi từ những mạch nước nhỏ trên ngọn Bạch Mã mà trong “Đại Nam nhất thống chí” chép là Đại Giáo Lao, len lỏi vượt núi băng rừng hơn ba mươi cây số để về hội tụ với sông Nam hăm hở từ nguồn Trà Ngạn đổ ra chừng 24km.
Định cư ở miền ngã ba sông, sau giải phóng, người Cơ Tu nơi đây vẫn còn thói quen sống bám vô rừng núi. “Ăn của rừng rưng rưng nước mắt”. Rồi cũng đến lúc họ “qua sông thiêng”, đi làm lúa nước. Nhưng cũng không đủ ăn, nhà cửa vẫn vách nứa mái lá kè khô quắt khô queo, thủng lỗ chỗ. Mãi đến năm 2004, chính quyền Đà Nẵng hỗ trợ dân làng xóa nhà sàn, nhà tạm, thay vào đó là nhà xây kiên cố và bán kiên cố. Việc bài trí trong nhà, nhiều dụng cụ gia đình, lối ăn ở, sinh hoạt của đồng bào phần nhiều đã giống người Kinh. Điện và viễn thông dần được phủ sóng. Nhưng đời sống kinh tế mãi không khá lên được.
Cho đến một ngày, làn sóng tham quan, du lịch, nghỉ dưỡng chuyển hướng “sống xanh”, trải nghiệm những nét văn hóa bản địa đặc sắc, du lịch cộng đồng - nhất là cộng đồng dân tộc thiểu số, ra đời. Hai thôn Cơ Tu rụt rè nhập cuộc, từng bước hồi sinh những lễ hội, tập tục, nghề nghiệp, ẩm thực… để phục vụ cho khát khao khám phá, tìm hiểu của khách phương xa.
Như bữa sáng này đây, trước hàng chục sinh viên năm thứ hai khoa Ngữ văn - Báo chí của Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đang háo hức theo dõi, ông Trương Văn Mỹ cùng đội nam thanh nữ tú thuộc Hợp tác xã Tà Lang - Giàn Bí biểu diễn chiêng trống cùng điệu múa tâng tung da dá, hát lý và giao lưu nhảy sạp vang động sân nhà gươl. Tiếng vang từ đại ngàn, chảy qua huyết quản bao thế hệ người Cơ Tu với tập tục, lễ hội huyền bí và khép kín, đã hòa cùng nhịp sống hôm nay, trong niềm vui vừa được gìn giữ, sẻ chia vốn văn hóa bản địa của cha ông, vừa được tiếp thêm năng lượng - theo nhiều nghĩa, từ cộng đồng.
Cũng như dòng sông, được tiếp nước từ các mạch nguồn nơi thâm u rừng núi, hòa thành dòng chảy lớn trong khát vọng chinh phục. Nhưng khi hòa chung đó, mỗi dòng đều muốn giữ con nước của riêng mình, để rồi va vào nhau; như nước sông Nam sông Bắc từ hai phía đổ về, đập ầm ầm vào bờ đá tạo nên Vũng Bọt cuộn sóng trắng xóa mỗi mùa mưa lũ, rồi tụ lại một dòng Cu Đê hối hả về xuôi.
Trong cuộc biến thiên vĩ đại của thời gian và thời cuộc, những va đập ấy diễn ra, như một lẽ tất yếu. Làm sao giữ được con nước đục trong của riêng mình?

Ông Trương Văn Mỹ, người đánh chiêng cho các bạn trẻ múa tung tung da dá. Ảnh: N.T
Ngồi lại bên cầu…
Từ Vũng Bọt, Cu Đê uốn lượn qua đồng bãi, thôn trang để tới cửa Nam Ô. Cả dòng sông gần 30 cây số đó, trước năm 1975 chỉ có 3 cây cầu. Ở tận đầu nguồn là cây cầu bắc qua sông Nam nối thôn Giàn Bí lên thôn Tà Lang, sau này bị đánh sập nên dân địa phương gọi là cầu Sụp. Hai cây cầu kia, một đường bộ và một đường sắt, nối hai ngôi làng cổ Cu Đê phía Bắc với Nam Ô phía Nam ở cửa biển, do người Pháp xây dựng trên con đường thiên lý Bắc Nam.
Còn ngược xuôi qua lại dòng Cu Đê cách đây vài ba chục năm, cũng phải lụy đò dọc và đò ngang. Đò dọc từ bến Bà Tân ở Nam Ô, chỉ chạy lên đến bến Sạn thôn Lộc Mỹ là dứt. Mỗi ngày cũng chỉ hai chuyến đi về, ai đến bến trễ coi như lỡ một ngày. Trên những chuyến đò dọc ấy, chỉ có mấy người buôn chuyến chở cá, mắm, hải sản đi ngược lên, đậu ở mấy bến Nam Yên, bến Sạn… đổi lấy mít, bắp, đậu, dưa… chở về, như hiện thân gần gũi của câu ca dao “Ai về nhắn với nậu nguồn/ Mít non gởi xuống cá chuồn gởi lên”. Còn trong lớp sóng ngầm của sông, là những bè gỗ bị đốn hạ từ thâm sơn cùng cốc, được kéo ra sông, đêm đêm lén lút về xuôi.
Bước sang đầu thế kỷ XXI, những cây cầu mới được bắc qua sông mang theo sự đổi đời cho người dân. Sớm nhất là cây cầu dây văng Phò Nam nối các thôn Lộc Mỹ, Nam Yên, An Định khánh thành ngày 2 tháng 9 năm 2002. Đến cây cầu Tà Lang - Giàn Bí, thay cho cầu Sụp, được hoàn thành vào tháng 5 năm 2010. Cầu Trường Định xóa “ốc đảo” ở thôn này, được đưa vào sử dụng năm 2011. Mới đây nhất, năm 2025, cầu Cu Đê cùng với cầu Bàu Bàng nối tuyến đường ĐT 601 với thôn Lộc Mỹ, tiếp thêm nguồn sống mới cho ngôi làng này. Đó là chưa kể những cây cầu theo đường cao tốc bắc qua sông mấy năm gần đây…
Nói đến Lộc Mỹ là không thể quên câu chuyện dài về những phận người nơi đây, bởi cái “làng hoàn lương” nổi lên một thuở. Không hiểu sao, nơi đầu nguồn Cu Đê sau ngày giải phóng còn hoang sơ khuất lấp này, lại nổi lên trung tâm giáo dục người lầm lỡ - là những người nghiện ma túy và gái mại dâm, tên gọi là Trung tâm Xã hội Bầu Bàng. Họ lên, rồi về thành phố, lại bị bắt lên…, một vòng lẩn quẩn. Nhưng trong số đó, có những người chán cảnh cay đắng ngậm ngùi của phận buôn phấn bán hương, dật dờ vật vã với “nàng tiên nâu”, mỏi gối chồn chân khi qua đèo dốc, đã quyết tâm làm lại đời mình. Họ kết duyên nối phận, cùng ở lại nơi đây làm ngôi nhà tạm, khai phá mảnh vườn, chắt chiu đắp đổi qua ngày. Từ mấy cặp đôi ban đầu như Trần Thị Ph. và Nguyễn Văn T., đến Nguyễn Văn S. và Bùi Thị S. những năm 1980, đã “gỡ” lớp rào gai cho những người đến sau bước qua, viết nên câu chuyện đầy nghị lực, thoát khỏi những định kiến xã hội cũng như vòng lẩn quẩn và hờn tủi đời mình, sống tiếp những tháng ngày còn lại trong niềm tin mới.
Thêm những cây cầu, là thêm nguồn sống mới nối đôi bờ Cu Đê. Mạch giao thông liền suốt cùng đổi thay của thời cuộc, đã đem lại cách làm ăn mới. Những ruộng lúa, đám mía, đồng đậu, vườn dưa… không còn tự cung tự cấp hay “gói” trong những chuyến đò dọc. Cùng với đó là nét văn hóa bản địa đặc sắc và lối “sống xanh” đã “mở” ra cánh cửa trong thời hội nhập. Nói như chị Lê Thị Thu Hà, nguyên Bí thư xã Hòa Bắc (cũ), chính sự kết nối các bên đó là khởi nguồn cho việc định hình nên những khu vực phát triển du lịch cộng đồng ở địa phương như cụm Tà Lang - Giàn Bí và cụm An Định - Phò Nam - Lộc Mỹ; góp nên sức bật cho đời sống người dân cả hai bên bờ sông này.
Thế nên, một bữa đi ngang qua những cây cầu ấy, muốn ngồi lại ngắm mấy khu tham quan, cắm trại, lưu trú… mỗi ngày mọc thêm lên hai bên bờ sông, chen giữa những cánh đồng, vườn rau xanh ngát, nhớ đến những phận đời từ Trung tâm Xã hội Bầu Bàng hay “làng hoàn lương”, bỗng liên tưởng hai câu thơ của thi sĩ Hoài Khanh “Ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng/ Nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu”. Thương dĩ vãng đói nghèo đắng cay lạc lõng cũ xưa, trong lòng bỗng dậy một niềm vui…
Cửa sông huyền thoại
Phía cuối dòng Cu Đê, ngay cửa biển, cây cầu đường sắt do người Pháp xây dựng cách đây tròn 120 năm vẫn lặng lẽ bắc qua dòng nước. Tuyến đường sắt Đà Nẵng - Huế hoàn thành vào tháng 11 năm 1906, và đến đầu năm 1907, những chuyến tàu đầu tiên đã bắt đầu lăn bánh, uốn lượn quanh co qua “Thiên hạ đệ nhất hùng quan”.
Còn cầu đường bộ, có lẽ xuất hiện sau năm 1886. Bởi theo ghi chép của bác sĩ Charles-Édouard Hocquard trong cuốn sách “Một chiến dịch ở Bắc Kỳ”, vào đầu năm 1886, khi ông từ Đà Nẵng ra Huế theo đường cái quan, đến sông Cu Đê thì “Xung quanh không có bóng dáng người bản xứ nào, nước thì sâu và cu-li tìm không ra chỗ cạn; may sao chúng tôi thấy giữa đám sậy một chiếc thuyền, chúng tôi chất hết hành lý và ngồi lên đó, người cu-li khỏe mạnh nhất vừa bơi vừa kéo thuyền đi, trong khi mười cu-li khác đẩy phía sau và hai bên. Dòng sông không quá rộng nhưng sang được bờ bên kia thì thuyền của chúng tôi cũng đã ngập nước bốn bề rồi”.
Còn Đại úy Besson khi đang chỉ huy mở rộng đường cái quan nối Huế - Đà Nẵng qua đèo Hải Vân thì bị quân Nghĩa hội Quảng Nam do Hồ Học chỉ huy, giết chết vào đêm 28 tháng 2 rạng ngày 01 tháng 3 năm 1886 tại trạm Nam Chơn - mà người Pháp gọi là “Thảm kịch Nam Chơn” (Le drame de Namchon).
Nhắc chuyện sử xưa, lặn sâu dưới dòng Cu Đê này, sóng thời gian trùng trùng lớp lớp cứ đùn lên, choáng ngợp. Không kể cái đứt gãy biến thiên của địa chất để dãy Trường Sơn hùng vĩ choài mình ra biển tạo nên Hải Vân từ bao giờ, cũng như khi nào dòng Cu Đê khơi những mạch nước đầu tiên xuôi về biển, thì cái quần tụ của người dân bên sông, từ đầu nguồn Tà Lang - Giàn Bí cho đến cửa biển Nam Ô chắc cũng phải tính đến ngàn năm. Cũng từ đó hiểu thêm về nguồn gốc của Cu Đê.
Bởi di chỉ linh thiêng còn lưu dấu đó, với mấy giếng vuông và tháp Xuân Dương (còn gọi tháp Trà Bì) cùng những bia đá, tượng Chiêm Thành lẩn khuất đâu đây; hay nghề đi biển và làm nước mắm của người Chiêm tạo nên thương hiệu nước mắm Nam Ô nức tiếng sau này.
Sử sách ghi lại, theo Đại Việt sử ký toàn thư, tháng 12 năm 1311, vua Trần Anh Tông thân chinh đem quân đi đánh Chiêm Thành. Sang năm sau, “mùa hạ, tháng 5, dụ bắt được vua Chiêm Thành là Chế Chí, phong cho em là Chế Đà A Bà Niêm làm á hầu, trấn giữ đất ấy. Trước đây, Chế Chí sai người sang cống, người ấy là trại chủ Câu Chiêm. Vua sai Đoàn Nhữ Hài mật ước với”.
“Vua đến trại Câu Chiêm dừng lại. Nhữ Hài sai người đến trại chủ cho biết ý dụ quốc vương ra hàng. Trại chủ cáo với Chế Chí, Chế Chí nghe theo, đem gia thuộc do đường biển đến hàng”.
“Khi vua đóng ở Câu Chiêm, Minh Hiến vương Uất (em út của Thái Tôn) ở trong quân dinh bàn luận biện bác, cổ hoặc lòng quân. Vua giận, đuổi ra khỏi dinh, truyền cho các quân không được dung nạp”.
Một trăm sáu mươi năm sau, khi quân Đại Việt của vua Lê Thánh Tông xuất quân chinh phạt Chiêm Thành, Đại Việt sử ký toàn thư ghi “ngày mồng 6 (tháng Giêng Tân Mão 1471), chỉ huy là Cang Viễn bắt sống Bồng Nga Sa là người giữ cửa quan Cụ Đê nước Chiêm đem nộp”. Cũng trong dịp này, “Vua thấy núi sông nước Chiêm có chỗ chưa biết rõ ràng, mới sai thổ tù Thuận Hóa là Nguyễn Vũ vẽ những chỗ hiểm chỗ dễ của núi sông để dâng lên”; trong khi trước đó, ngày 25 tháng 11 Canh Dần 1740, “vua xem địa đồ nước Chiêm, đổi lại danh hiệu núi sông.”
Kết nối những sự kiện cách nhau hàng trăm năm đó, một thắc mắc dấy lên trong đầu: Có lẽ nào, Câu Chiêm và Cu Đê để chỉ một vùng đất có cửa sông Cu Đê ngày nay? Bởi, theo nhà nghiên cứu Vũ Hùng, “Câu” và “Cụ” trong chữ Hán đều giống nhau về tự dạng (俱) và nghĩa (đều, cùng, tất cả, họ Câu), âm đọc có thể là Câu, Cu, Cụ. Chiêm và Đê không trùng nhau về tự dạng, nhưng khá giống nhau về nghĩa: Chiêm (占) còn gọi là Chàm; chữ Đê (低, có bộ nhân) nghĩa là thấp, cúi xuống, hạ, hèn kém; chữ Đê (氐, không có bộ nhân) nghĩa là nền, gốc…
Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn sau này giải nghĩa: “tục gọi Đê là người Chăm, Man là người Mọi”; nên người Đại Việt mới gọi là Cụ/ Cu Đê. Còn người Chăm viết như thế nào, chỉ có dịch giải từ bia ký còn lại ở những tàn tích Chiêm Thành nơi đây mới rõ. Khi người phương Tây lần đầu tiên “La tinh hóa” các địa danh vùng đất xứ Quảng, đã ghi là “Cacham/ Cacciam” - liệu có phải được phiên âm từ Câu Chiêm chăng?
Lần ngược lại một chút, Đại Việt sử ký toàn thư chép, sau khi vua Chế Mân mất tháng 5 năm 1307, “Mùa thu, tháng 8 (Mậu Thân 1308), công chúa Huyền Trân tự Chiêm Thành về. Thượng hoàng (Trần Nhân Tông) sai trại chủ Hóa Châu cho thuyền đưa 300 người Chiêm về nước”. Hóa Châu lúc đó, nhà Trần có được từ sính lễ của Chế Mân cưới công chúa Huyền Trân năm 1306, với tên gọi châu Rí (Lý), kéo dài từ vùng đất phía Nam thành phố Huế đến bờ Bắc sông Thu Bồn (Đà Nẵng) hiện nay. Vậy giả thiết rằng, Câu Chiêm có phải là vùng rộng lớn, nằm trong đất châu Hóa, sau dần thu hẹp lại thành Câu Đê/ Cu Đê bây giờ hay chăng? Câu trả lời còn bỏ ngỏ, nhưng cũng thấy được vai trò to lớn của Cu Đê trong lịch sử quan hệ Đại Việt với Chiêm Thành.
Và có phải vậy chăng, Cu Đê không chỉ là ngôi làng cổ mà được đặt tên cho cả dòng sông này, lên đến tận Phò Nam Thượng; vì trong Đại Nam nhất thống chí có ghi rằng: “Nguồn Cu Đê cách huyện Hòa Vang 48 dặm về phía bắc, thủ sở đặt ở xã Phò Nam Thượng để ngăn ngừa Man núi”.
Cái tên Câu/ Cu Đê, vùng đất yết hầu dưới chân núi Hải Vân, bên bờ vịnh Đà Nẵng, còn được nhắc tới nhiều trong sử sách. Như trong Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn chép rằng, “Năm 1635, Ất Hợi, mùa đông, chúa Phúc Nguyên chết, con thứ hai là Nhân Lộc hầu Phúc Lan nối nghiệp... Em là Phúc Anh làm loạn, đắp lũy Cu Đê bày thủy quân ở cửa biển Đà Nẵng, không chịu theo mệnh. Phúc Lan sai tướng đi đánh, quân bộ đến Cu Đê, quân thủy đến vũng Sơn Trà, cai đội là Tuyên Lộc hầu đã đem quân trước đến trên cửa ải, đánh thẳng Quảng Nam bắt Phúc Anh giết đi”.
“Năm 1775, Ất Mùi, Phúc Thuần bèn chạy vào Quảng Nam, vào nhà Tả tướng quân Nguyễn Cửu Du, rồi vào dinh Quảng Nam sửa soạn xếp đặt… Ngụy Nhạc đem bộ binh theo chân núi ra nguồn Thu Bồn để đánh. Du chạy vào trong núi ở Hàn Hải. Phúc Thuần cùng cháu là Phúc Dương bỏ
Quảng Nam lui ở Câu Đê… Tháng 3, Việp công sai Đoan quận công đóng giữ Phú Xuân, chia quân làm hai đạo qua Ải Vân đánh phá đồn Cu Đê, Phúc Dương chạy”.
Cũng vùng đất bên đường thiên lý này, khi chưa có cầu bắc ngang, theo Phủ biên tạp lục, đã hình thành lệ nộp thuế “nguồn Cu Đê tiền thuế là 300 quan, dầu vừng 2 chĩnh”, “đò Cu Đê hằng năm tiền thuế 280 quan”.
Thời nhà Nguyễn, Cu Đê phía Bắc và Nam Ô phía Nam cửa sông, cũng ghi lại nhiều dấu tích như trạm Nam Hoa, sau đổi thành trạm Nam Ổ “đặt ở xã Cu Đê, nguyên trước là trạm Cu Đê…”. Đây là trạm thứ hai - còn gọi là Thành Cung - sau trạm Nam Chơn, trong “thất trạm” của đất Quảng xưa trên đường thiên lý Bắc - Nam.
Khi quân Pháp xâm lược Việt Nam năm 1858, một trận chiến khốc liệt cũng diễn ra tại hai cứ điểm trạm Nam Ổ và đồn Hóa Ổ. Nghĩa binh và dân binh hy sinh vì nghiệp lớn, được quy tập từ năm 1876 thành nghĩa trủng Hóa Ổ nằm giữa làng Nam Ô…
Đó là những chuyện ghi trong sử sách. Còn dân gian truyền lại rằng, công chúa Huyền Trân của Đại Việt - Vương hậu Paramecvari của Chăm Pa, khi Chế Mân qua đời, được Hành khiển Trần Khắc Chung và An phủ sứ Đặng Văn giải thoát, đưa về trú ngụ tại cửa Cu Đê, trên hành trình gian nan một năm trời mới hồi cố quốc. Từ đó, người dân nơi đây lập miếu thờ công chúa vâng mệnh Thượng hoàng để đưa hai châu về Đại Việt. Còn trong cuộc chiến sinh tử bảo vệ công chúa, viên tùy tùng ở lại chặn hậu và anh dũng hy sinh, người dân tôn thành “Tiền hiền triệu cơ” của xứ đất này.
Tiếp trang sử mới
Những câu chuyện lịch sử và dân gian trộn lẫn vào nhau, làm nên một dòng Cu Đê chứa đựng những lớp trầm tích văn hóa sâu lắng. Trôi theo dòng sử ấy, từ nguồn Vũng Bọt đến tận nơi cửa sông hòa với biển, hôm nay, một nguồn sống mới xôn xao…
Đất Tà Lang - Giàn Bí của “Man núi” ngày nào, giờ sống lại những lễ hội, tập tục, làng nghề… truyền thống, thu hút ngày càng nhiều người đến tham quan, trải nghiệm vốn văn hóa đậm đà bản sắc Cơ Tu. Không chỉ vậy, nơi đây còn mở ra cơ hội cho những chuyến đi băng rừng, khám phá thiên nhiên kỳ thú cho giới trẻ.
Rồi dọc theo dòng sông, nối tiếp những ruộng đồng chuyển mình với nông nghiệp sinh thái và tham quan, trải nghiệm, du lịch nghỉ dưỡng làng quê, là những khu thương mại tự do, khu công nghiệp công nghệ cao, khu đô thị cao cấp… đã và đang hình thành. Phía cửa biển, là hình bóng những khu du lịch đẳng cấp và cảng nước sâu Liên Chiểu ngày một phôi thai, lớn dần theo năm tháng.
Dòng Cu Đê trở thành chuỗi kết nối đa sắc trong đời sống hiện đại, hòa điệu giữa thanh bình của núi rừng nơi đầu nguồn với nhộn nhịp sầm uất vùng cửa biển, tạo nên một quần thể sinh động và mang dấu ấn độc đáo nơi cửa ngõ Tây Bắc của Đà Nẵng mới, phát triển xứng danh lịch sử ngàn năm…
Đứng ở một nơi xa lắc nào đó, nhìn về sông Cu Đê, để tận mắt một dòng chảy xuyên qua thời gian và không gian. Bất chợt văng vẳng đâu đây lời của Dương Văn An trong Ô châu cận lục: “Vận trời vô thường nên không ai có thể giữ được sự thường… Vận trời còn thì dẫu gò đống cũng biến thành kim thang, ngói gạch vụn cũng hóa nên lầu gác, xứ rách rưới cũng mũ mão áo xiêm. Xem thế thì biết nhân tài mở ra từ phong thổ mà phong thổ lại mở ra từ khí vận. Rõ ràng lắm thay.”
Trong “vận trời vô thường” ấy, lại ngẫm về giới hạn của dòng sông. Dẫu đo được nông sâu, dài ngắn, rộng hẹp trong sự vận động của dòng chảy tự nhiên, nhưng giữa âm thầm tự khởi nguồn thâm u huyền bí và khát khao vươn mình hòa vào biển cả bao la, ai đo được một dòng chảy thật sâu, thật chậm, chảy qua thân phận và những thời khắc lịch sử mỗi quốc gia, dân tộc?
Khi con người biết “cúi xuống” với dòng sông, sẽ thấy nó mang triết lý sâu xa về cảm thức cuộc đời và lịch sử. Hai nữ sĩ Phùng Khánh và Phùng Thăng đã thăng hoa khi dịch tựa đề tác phẩm Siddhartha của nhà văn Hermann Hesse thành Câu chuyện dòng sông, xuất bản từ năm 1965. Căn nguyên để có tựa đề tiếng Việt sâu sắc này, có lẽ là khi Siddhartha lần thứ ba ra đi để tìm sự giác ngộ. Anh tới bên một dòng sông và ý nghĩ trầm mình tự vẫn vụt đến. Bỗng anh nghe từ dòng sông vang lên tiếng “Om” linh thiêng mầu nhiệm, làm tâm anh tỉnh thức. Anh quyết định ở lại nơi đây, cùng sống và làm nghề chèo đò với Vasudeva. Cũng từ đó, dòng sông dạy cho anh lắng nghe với tâm tĩnh lặng, lòng rộng mở, không đam mê, không cầu mong, không phán xét và không thành kiến, để sống một đời tỉnh thức…
Đi dọc Cu Đê chưa đầy ba mươi cây số, lắng nghe dòng chảy miên mật ấy, mới thấy cái bao la khoáng đạt và thâm trầm sâu lắng không giới hạn của dòng sông…
N.T