Phù sa tím

Minh họa ĐOÀN MINH THUẦN
Con đường nhỏ như cắt ngang xương sống phố, đâm thẳng đến sông rồi dừng lại để hóng mát. Ngồi ở quán cà phê số 1 đầu đường có thể nhìn ghe thuyền tấp nập ngược xuôi trên sông và những chuyến phà lặng lẽ qua lại từ mờ sáng đến tối mịt. Phố lên đèn, quán cũng lên đèn, đèn phố màu trắng đục, đèn quán lung linh đa sắc. Khách có thể ngồi ngoài vỉa hè tha hồ thở hít, ngắm người xe qua lại, ngắm những mái tóc bay ngược gió, những đốm sáng lập lòe giữa lòng ghe đơn côi, những mái nhà mờ tỏ bên kia sông. Những đêm trăng sáng, còn có thêm một đốm vàng lửng lơ trên nền mây trắng xốp.
Một phụ nữ nhìn quen quen bước vào quán cùng một chàng trai mặc đồ rằn ri, đội bê-rê đỏ, gắn một bông mai trên ve áo. Như đã quá quen với không gian này, họ đi thẳng lên lầu mà chẳng cần nhìn xung quanh. Hình ảnh không lạ, vì đây là nơi thường xuyên hẹn hò của các chàng lính biển, lính núi mỗi khi có dịp được về thành phố gặp lại bạn bè, người thân.
Mái tóc cô gái vừa được gội thơm, thả mượt thay vì búi gọn và giấu kỹ dưới vành nón cũ như thường ngày. Chiếc áo cánh màu xanh da trời có vẻ như lần đầu được thay thế cho đám áo quần nhà nghèo đã cũ màu vì nắng gió. Nhưng đôi mắt ấy, dáng hình ấy thì không lẫn vào đâu được. Nó cứ bắt anh phải lục tìm trong ký ức gần xa, soi lại từng ngóc ngách thẳm sâu.
Đó là những lần phà sắp cập bờ. Người cầm lái cố quay phà chầm chậm cho một người trung niên ngăm đen, khỏe mạnh nhảy phóc lên lớp ván được đóng nhô ra ngoài mặt sông. Anh neo dây chưa xong đã thấy có người bước khỏi phà, đi như chạy vào dòng người ngược xuôi hối hả.
Xe, hàng, người đứng ngồi chật kín lòng phà. Vội vã lên xuống phà đầu tiên vẫn là những cô cậu học sinh áo trắng, rồi đến cán bộ phải tranh thủ kịp giờ làm việc. Bao giờ cô gái ấy cũng chậm rãi chen giữa đám đông sau cùng. Có khi cô bị mất hút đâu đó, đến lúc lắc lư gánh rau trên đường phố anh mới kịp nhận ra. Dẫu hơi khom người về phía trước, gánh rau quả có phần kềnh càng, cao ngang đầu người, anh vẫn cảm giác như đã từng quen cô gái từ một tiền duyên nào đó. Rồi cứ thế anh nhìn theo cho đến khi gánh hàng tòn teng lẩn khuất vào hướng chợ chính.
Chiếc răng khểnh cực kỳ duyên dáng mỗi khi cười. Phải lần dò theo nét đặc trưng ấy để tìm cho ra sự thật ẩn khuất đằng sau. Nghĩ vậy, anh lật úp chiếc ly uống nước xuống mặt bàn. Thấy tín hiệu quen thuộc, cô gái ngồi cát-sê xinh đẹp quay mặt vào trong, nói nhỏ điều gì đó với người đằng sau bức rèm. Lập tức, một cô gái đậm mùi nước hoa, môi son, bồng bềnh tóc đến quàng tay anh dẫn lên lầu.
Cô định dìu anh vào sâu hơn trong phòng kín, nhưng anh kịp giữ tay cô lại vì chợt nhận ra người anh cần tìm đang ngồi ở một góc khuất gần đó. Anh chỉ tay cho cô gái ngồi xuống ghế đối diện. Đèn màu lờ mờ, không đủ soi rõ khuôn mặt cô gái và chàng trai đang thì thầm ở bàn đối diện. Anh chờ nụ cười hé lộ chiếc răng khểnh, như chờ một niềm tin và chút xao động nào đó. Nhưng khi nụ cười vừa nở đủ để anh chạnh lòng, đôi trai gái lại đứng lên, dìu nhau xuống cầu thang. Họ vội vàng như lúc bước vào quán và chẳng để ý đến ai.
- Hôm nay anh không được khỏe và hơi bận, hẹn em lần khác nhé!
Anh nói với người con gái ngồi đối diện, lòng nghe nôn nao. Cô gái tròn mắt chưa hết ngạc nhiên khi anh vội đứng lên bước xuống cầu thang. Dưới chân anh, dường như những tấm ván gỗ đang vặn mình khó chịu vì bất ý điều gì đó. Phà đã ngủ say. Phố khuya mà chưa vắng, trên đường người xe vẫn thong dong qua lại hóng mát, ngắm sông. Bên kia sông, những đốm sáng lập lòe càng thưa thớt hơn dưới những mái nhà thấp bé chìm trong bóng tối. Anh lạnh người chợt nhớ biệt danh mà người đời đã đặt cho Xóm Chuối: “Xóm Đĩ”.
Một chiếc ghe nhỏ đang sang sông. Ánh sáng không đủ soi rõ mặt người chèo, làm sao để anh có thể nhận ra những ai đang ngồi thụp dưới lòng ghe. Đường trở về thênh thang, chật người xe. Đi giữa một bên sông, một bên phố, nhưng anh chỉ nghĩ đến một người. Đó là người con gái quen mà lạ, thoáng ẩn thoáng hiện như một bóng ma ngoài đời và trong anh.
Mong sao cô không ngồi trên chiếc xe Jeep với chàng trai áo lính, cũng không đi về hướng Xóm Chuối bí ẩn bên kia sông.
Sáng hôm sau, anh dậy sớm hơn thường ngày. Giấu vội khẩu súng ngắn trong áo quần, anh đi thẳng về hướng sông, nơi có con phà đã dậy từ trong đêm, trầm một nửa thân ngâm mát, nửa kia ưỡn lên chờ bình minh. Sông không lạnh như cái tên Hàn ai đó đã đặt, mà ấm áp từ lòng sâu đến mặt lộ; cũng không dữ dằn, xa lạ như những con sông quê anh từng biết. Nó đằm thắm, thân thiện như được sinh ra từ phố và có bổn phận phải lo cho phố từng miếng ăn, giấc ngủ.
Không chỉ riêng hoàng hôn hay bình minh như lúc này, giữa trưa nắng nóng hay quá khuya vắng ngắt, sông vẫn lặng lẽ điểm thêm cho phố những nét duyên khó lẫn. Có lẽ chỉ khi trải nghiệm như anh, ở vào những khoảnh khắc tĩnh lặng thế này, mới đủ tâm thế cảm nhận trọn vẹn mối lương duyên sông - phố.
Đây đó càng lúc càng nhiều những chiếc ghe nhỏ xuôi ngược, qua lại trên mặt sông dịu sóng. Dòng sông như không chảy, nên càng thấy những con đò bình yên đến lạ. Người người đã bắt đầu lên phà, kèm theo những gánh hàng, xe đạp, xe máy… Đây đó những nụ cười tươi ẩn trong mái tóc nhẹ bay trên vai áo trắng học trò. Đây đó những ánh mắt trong veo, hoặc đượm chút suy tư vì bỗng chốc được chạm vào sâu thẳm của sông. Có phải hiếm hoi lắm mới có được những khoảnh khắc mà người dân nghèo, tất bật bên kia phố, được tịnh tâm thả hồn cùng sông nước.
Kẻng báo hiệu phà chuẩn bị xuất bến. “Pịch… pịch… pịch… pịch…”, tiếng máy rướn cao rồi “xình xịch…” chậm đều, dứt khoát. Phà đã bớt rung lắc, nhưng bọt nước vẫn tung trắng xóa, khói đen vẫn phụt lên, hăng hắc quyện cùng mùi xăng dầu. Dưới ánh nắng sớm mai càng dễ nhận ra mạn phà sơn xanh đã chuyển sang ố vàng, gỉ sắt. Đa dạng những mảnh đời khác nhau đang gom lại trong lòng phà: có mảnh đời lặng lẽ nhìn sông, có mảnh đời tươi vui nhìn trời, cũng có mảnh đời như đang được bọc kín bởi một lớp vỏ bí ẩn.
Anh nhất định phải biết rõ hơn về mảnh đời của cô gái đã ngồi cùng chàng trai lạ trong quán cà phê số 1 đêm qua. Đây là lần đầu tiên, từ khi nhận nhiệm vụ tại khu phố này, anh cố tình dậy sớm để cùng phố thức dậy, sống trọn với những chuyến phà, con đò trên sông. Cũng là lần đầu anh không thấy dáng hình quen thuộc của cô gái bán rau ngồi thụp giữa lòng phà. Khi tất cả hành khách đã lên bờ, vẫn không thấy gánh rau chân chất ấy băng qua đường rồi lắc lư vào con hẻm quen.
Anh quyết định đi về phía chợ, nơi cô gái thường ngồi bán rau mỗi ngày.
Nhưng trước mắt anh chỉ còn lại một khoảng trống giữa đám người buôn bán lẻ đang ngồi bệt bên vệ đường. Khoảng trống ấy như chảy thẳng vào tim anh, nửa lo lắng, nửa tiếc nhớ.
- Bác ơi, cô gì trẻ trẻ bán rau ở đây đâu rồi hở bác?
- Không biết chú ơi, mới hôm qua vẫn bán, hôm nay chắc bận việc gì đó nên nghỉ... Mà chú mua chi, tui bán cho...
- Dạ không, con đến gửi tiền nhờ cô mua ít bắp bên quận 3.
Anh vội trả lời người bán hàng đứng tuổi rồi cũng vội quay đi. Không đi về hướng “phố xá nghênh ngang”, anh lại ngược ra bờ sông, nhìn sang “bên tê sông Hàn xanh xanh tàu lá”.
Nắng đã lên cao, nhưng những mái nhà lụp xụp vẫn không sáng sủa hơn. Biết mình không có nhiệm vụ ở đó, nhưng anh vẫn bước xuống phà, tựa lan can chờ tiếng kẻng nhổ neo, tiếng máy nổ phình phịch. Biết đâu những bước chân vô định lại giúp anh khám phá thêm nhiều điều mới lạ.
Xóm chưa thành xóm, vì nhà chưa thành nhà, vườn chưa thành vườn, đường đi cũng chưa ra đường. Những khóm chuối xác xơ tàu lá, bẹ khô vàng rủ xuống, nửa ngâm trong nước tù đọng, nửa phơi mình chịu trận trước luồng gió mặn từ biển thổi vào. Đây đó trải dài những bãi đất trống phủ đầy cỏ dại. Xa xa, một căn cứ quân sự nằm lẻ loi sau hàng rào gai thép. Không thấy bóng người, chỉ thỉnh thoảng vài chiếc xe nhà binh ra vào. Dân lao động trong xóm dường như chỉ chọn nơi này để ngủ đêm; ban ngày họ tản đi khắp nơi kiếm sống. Vài đứa trẻ thất học, da đen sạm, tóc cháy nắng, đang nghịch bên đoạn sông tù đọng, phả lên mùi nước tanh nồng khó chịu.
“Em đã sống ở đây sao?”. Anh thất vọng quay lại phố. Con phà dường như đang rên rỉ dù nắng vẫn sáng loáng trên mặt sông, dù phà vẫn chật ních tiếng nói cười. Bên kia, phố vẫn tưng bừng với nhà cao thấp chen nhau và dòng người xe hối hả...
*
* *
Hồ sơ anh gom được về cô gái bán rau có chiếc răng khểnh cực kỳ duyên dáng dường như không khớp với thực tế tai nghe mắt thấy. Cô gái tên Trần Thị Bông, sinh ra từ vùng Tí Sé xa tít đâu đó. Nhà bị bom đạn đốt cháy, mẹ chết, cha đi theo kháng chiến chưa rõ sống chết ra sao. Cô phải xuống phố sống tị nạn cùng gia đình người anh rể. Hai anh chị không vốn liếng, không nhà cửa, nên ở trọ và làm thuê là chính. Dân Xóm Chuối hầu hết đều như vậy.
Người ta vẫn hay đùa rằng bên kia sông là đất thánh của dân “tứ phương thập loại cô hồn”. Ban đêm, xóm hút thêm nhiều người lạ mặt ồn ào ra vào. Sáng sớm họ lại mất biệt, xóm trở nên vắng hiu, chỉ còn những tàu lá chuối tiếp tục xác xơ trong gió biển và cát trắng.
Bằng nghiệp vụ riêng, anh còn biết anh chị cô Bông là dân “đầu sóng ngọn gió” chính hiệu, suốt ngày gửi thuyền theo sóng, phận người theo gió. Con tôm con cá không đủ nuôi hai đứa con ăn học, nên mỗi người phải tự lập cuộc sống của mình. Anh cũng biết trời đất khi thuận khi nghịch. Mảnh lưới có lúc nặng tôm cá, có lúc nhẹ tênh nắng gió. Gánh rau quả của cô Bông nhiều khi đã héo từ mảnh đất cằn cỗi, từ gió mặn cho đến phiên chợ ế ẩm.
Những suy nghĩ ấy khiến anh quyết định bỏ thói quen chỉ đứng nhìn cô gái qua phà, nhìn gánh hàng lắc lư trên hè phố. Anh mạnh dạn đi về phía chợ với những đồng bạc lẻ cầm sẵn trong tay, mong sao góc chợ hôm nay không lại hẫng hụt vì một khoảng trống nhói lòng như hôm qua.
- Dạ, anh mua hoa hay rau quả? - Cô gái hỏi nhỏ nhẹ, nhìn anh bằng đôi mắt vẻ như vừa giật mình.
- Mai ngày rằm, cô bán cho tôi ít hoa quả về thắp hương ông bà.
Cô gái vừa dạ vừa nhanh tay gói hàng, bàn tay trắng mịn, không giống với bất kỳ người dân chài nào. Ánh mắt cô, dù được giấu dưới vành nón lá, vẫn gợi nhớ hình ảnh một sơn nữ trong cổ tích mà anh từng say mê. Chiếc răng khểnh thì khỏi nói, lần đầu được chạm gần, anh thấy hơi run, chẳng dám nhìn lâu. Bâng quơ cái nhìn lại đập vào mắt anh những cửa hàng sáng trưng đối lập, cao ngất ngưởng đủ loại hàng sang trọng. Cô bán hàng rực rỡ váy áo đang soi gương chuẩn bị lại son phấn cho một ngày mới.
Đi một đoạn, anh giả vờ quên, quay lại:
- Sáng mai qua, cô mua giúp tôi một ít bắp ngon bên đó được không?
Lời nhờ giúp lơi khơi như một câu chất vấn nghiệp vụ, mà cũng như lời tự thú của trái tim. Cô gái nghĩ gì khi biết anh hiểu về công việc, nơi ở của cô rất rõ? Cô sẽ nghĩ về những lần bốn mắt gặp nhau trên phà là vô tình hay cố ý? Cuối cùng, dù cô nghĩ thế nào anh vẫn cảm thấy mình đang là người chiến thắng. Anh vừa huýt sáo, vừa xách đùm hoa quả đi về phía cơ quan đang công tác. Còn cô gái, sau lần ấy, cô càng dè dặt hơn mỗi lần thoáng thấy anh nép mình bên thành phà, đứng ở một góc chợ nào đó hay lững thững một mình ở cái Xóm Chuối nhiều tai tiếng.
*
* *
Những ngày cuối tháng Ba, trời mây và sông nước vẫn sống cuộc đời bình lặng muôn thuở. Chỉ có phố dường như đang xộc xệch, chao đảo trật tự thường ngày. Con phà vội vã hơn, chật chội hơn. Đường phố đông kín người xe và những sắc áo lạ từ khắp nơi đổ về. Phố giật mình nhìn dòng người từ bên kia đèo phía Bắc bơ phờ tìm nơi lánh nạn. Rồi tiếng máy bay, đại bác, xe nhà binh gầm réo ngày càng dồn dập. Áo lính tràn ra đường, áo dân phố lùi dần vào sau những cánh cửa đóng kín. Trong đêm phố, nhiều gia đình âm thầm tính chuyện tẩu tán người và tài sản.
Phố không ngủ. Trong cái ngột ngạt âm ỉ ấy, một mầm sống mới dường như đang kín đáo nhú lên. Anh đã kiểm tra lại và biết chắc trong mầm sống ấy có gánh hàng của cô Bông - vừa bị vứt đâu đó. Cô đột ngột biến mất khỏi Xóm Chuối, khỏi con phà và góc chợ quen thuộc. Lòng anh cũng rối như phố. Gần đây, khi hai người thường xuyên gặp nhau, hồi hộp nhìn nhau đầy tình ý, cũng là lúc anh biết cô đang nằm trong một đường dây hoạt động nội thành. Chính bạn anh là người phát hiện manh mối về chàng sĩ quan giả đã ngồi với cô Bông trong quán cà phê số 1.
Lẽ nào tình yêu lại có thể chĩa súng bắn vào nhau? Cũng là trai gốc quê, lẽ nào một ngày khó lường nào đó chính anh lại còng tay cô gái quê trong veo như mây trời, sông nước? Lẽ nào cô bán hàng rong bỗng chốc bảo anh phải bỏ súng xuống, giơ tay lên? Nhiều đêm không ngủ chỉ vì những trăn trở khó xử đối với một cảnh sát chìm có uy tín như anh. Một bên là tình yêu, một bên công việc, anh bị kẹt giữa cho đến bao giờ? Rồi anh tự an ủi mình, không, tình yêu đích thực rồi sẽ vượt qua mọi thử thách. Một ngày nào đó nhất định anh sẽ nói rõ sự thật được giấu kín lâu nay để tìm cách dìu cô gái quay về với mình.
Nhưng cái ngày ấy không có được rồi. Biết tìm đâu ra cô Bông bán rau giữa phố hỗn loạn, chợ không còn chợ, trật tự xã hội không biết ai đang là người nắm giữ. Áo lính biến mất, nhưng súng có thể rút ra, bóp cò từ bất kỳ bàn tay ai đó. Những đôi mắt nghi ngờ nhìn nhau, người có thể dẫm đạp lên nhau để toan tính chuyện riêng tư. Cửa hàng, công sở có thể bị đập phá, cướp sạch. Cũng may, cuộc sống chỉ vỡ trận vừa đủ một sáng đẹp trời, rồi đâu lại vào đó, mặc niềm vui vỡ òa trong sự ngỡ ngàng.
“Bông ơi, giờ em đang ở đâu?”. Anh vẫn muốn biết về người con gái ấy, dù đang khóa chặt cổng ngoài, cửa trong, co ro với phận mình không biết rồi sẽ dạt trôi về đâu. Trước đó, một nửa gia đình anh đã theo bạn xuôi tàu vào Nam, nửa còn lại về quê sống với ông bà nội. Lần đầu tiên anh nằm một mình trong căn nhà trống vắng, nghĩ đến cái chết mà không cảm thấy hối tiếc hay sợ hãi. Mong sao mọi người thân vẫn được sống bình yên, trong đó có Bông, mối tình đầu của anh. Giữa biến động chông chênh đời người mới thấy tình yêu phả đầy đủ nhất hương vị nồng nàn của nó.
Ngày đang trôi dần về cuối, anh như một ốc đảo cô đơn nên chẳng cần biết phố đang vận hành ra sao. Bỗng có tiếng chuông gọi cửa. Thời khắc chạm vào cái chết đã đến, không còn con đường nào khác. Run run như người sắp bước ra pháp trường, anh khẽ đến vén bức rèm cửa sổ nhìn xuống. Bỗng anh giật mình hoảng hốt, là thực hay mộng khi người đứng dưới kia, đang bấm chuông gọi cửa lại là Bông. Vẫn ánh mắt ấy, chiếc răng khểnh ấy, không thể nhầm lẫn được, mặc dầu cái mũ tai bèo đã thay cho chiếc nón lá, bộ đồ màu xanh lá cây chưa từng thấy Bông mặc trên phà lần nào. Anh không thể kìm giữ nổi sự hoảng loạn.
Xuống mở cửa hay không? Gặp em hay trốn luôn trên căn gác này? Nửa rạo rực thôi thúc anh chạy nhanh xuống cầu thang, nửa kia nghe xa xót thân phận nên muốn giữ chân anh lại. Giây phút suy nghĩ, đắn đo như dài ra thênh thang, để hồi hộp, lo âu, mừng vui và sợ hãi trộn vào nhau, ào đến hành hạ anh nát vụn. Cuối cùng, anh đã quyết phải xuống, xuống không phải để van xin một người từ trận tuyến đối lập, mà để được nói “Bông là mối tình đầu của anh”. Rồi một viên đạn tàn nhẫn nào đó ghim vào đầu, anh vẫn nhẹ lòng.
- Anh Hoàng… - Bông vẫn giọng nói lơ lớ chất quê, nhẹ nhàng như lúc bán rau cho Riêng ánh mắt có vẻ sáng hơn, linh hoạt hơn những lúc ngồi co ro trong lòng phà.
- Em… Tại sao chúng ta lại gặp nhau trong hoàn cảnh thế này…
Anh chỉ nói được mỗi câu ấy, rồi đứng chết lặng, mặc cho Bông kể lể như chưa hề có cơn bão dữ dội vừa tràn qua phố. “Số anh lớn lắm đấy, không có em là bị giết ở Xóm Chuối rồi. Nhận nhiệm vụ ở bến phà Bạch Đằng mà qua chi bên đó…? Cái lần vô tình gặp nhau trong quán cà phê số 1 mà anh còn tiếp tục theo chân em là bị ném xuống sông mất rồi…”. Bông còn kể ý định gói theo bó rau cho anh lá thư nói rõ mọi sự thật để hứa hẹn một thỏa thuận về tình yêu. Bất ngờ nhất là anh thấy Bông lấy ra một ổ khóa riêng, giơ cao: “Em luôn theo dõi và biết chắc anh bị kẹt lại đây một mình. Em không cho anh trốn thoát đâu, nếu không chịu mở cửa, em sẽ khóa giữ anh lại trong đó, cho đến khi mình được gặp lại nhau”. Lần đầu tiên anh thấy Bông cười như chưa hề có những gánh rau nghiệt ngã và lơ lửng phận người treo trên sợi tóc.
Đó là lần cuối cùng anh được gặp Bông. Sáng hôm sau, theo lời chỉ dẫn của Bông, anh đến trình diện chính quyền mới. Người cán bộ xem giấy tờ, nhìn anh rất lâu, rồi nói:
- Anh Lê Hoàng đúng không? Cô Bông đã gửi giấy chứng nhận hợp tác của anh trước đây với chúng tôi. Tốt lắm! Cô vừa nhận nhiệm vụ mới nên có gửi lời chào tạm biệt anh…
*
* *
Nửa thế kỷ… Nửa vòng trái đất… Nửa đời tìm kiếm…
Phố khác xưa nhiều quá. Dù dạo bên ni hay bên tê sông Hàn, anh vẫn không tìm đâu ra cái Xóm Chuối nghèo ẩm thấp, xác xơ tàu lá, leo lét ánh đèn khó hiểu và tanh nồng mùi bùn ứ đọng. Đâu rồi con đò nhỏ ngược xuôi, chuyến phà dậy sớm, thức khuya cùng những phận người suốt đời lam lũ, bầm dập? Trả lời anh, sông vẫn lặng lẽ trôi, lăn tăn sóng nhẹ cứ gợi buồn nhớ xa xăm. Ánh điện từ những cây cầu mới xây đang thả xuống dòng sông từng vạt sao lấp lánh như cố soi rõ ký ức một thời.
Em đâu rồi Bông ơi? Một tay giữ gánh hàng, một tay cầm tay tôi để bước qua con phà chòng chành, em còn nhớ không? Hai khẩu súng khác nhãn hiệu được cất giấu đâu đó, có thể dè dặt đôi chút, nhưng không bắn vào nhau vì còn trái tim ở giữa, một trái tim màu đỏ tươi, có chung chất suối quê và con sông Hàn êm chảy. Em nói, phố đông người nhưng em chỉ thấy mỗi mình anh đứng bên kia phố từ lúc con phà còn đang lơi khơi giữa dòng. Phần anh, mỗi ngày được nhìn thấy em sang sông, vào hẻm, ngồi thụp xuống bên gánh hàng quen quen là anh cảm giác cuộc sống đầy đủ và an yên lắm rồi. Phố dù phồn hoa bao nhiêu, vô tình bao nhiêu vẫn không thể quên đôi gióng được em xếp gọn, mang về lại bên kia sông. Như anh không vô tình với đôi mắt em xa xăm nhìn sông mỗi bận đi về.
Anh là ai? Có phải cuộc sống hối hả mãi vùi mình vào mớ bòng bong không có quyền lựa chọn? Để khi được sống chậm lại như lúc này, anh mới nghiệm ra mình đã thả tay đánh mất những điều đáng quý nhất của cuộc đời. Chỉ là hạt cát của sông, là kẻ vãng lai giữa hai bờ thời gian, nhưng anh tin sông vẫn là chứng nhân tin cậy. Mảnh đời lành vỡ, được mất nào rồi cũng sẽ trầm tích xuống đó, tạo thành lớp lớp phù sa đa thanh sắc. Có lớp trôi ra biển, lớp sâu kín lắng đọng cùng sông, lớp vô hình ngấm vào lòng phố. Mùi phù sa không tanh mà thơm, màu phù sa không chỉ đen sẫm mà đủ cả xanh đỏ tím vàng. Ở đó, có lớp phù sa màu tím, màu tình yêu thơm mùi bồ kết tóc em...
T.Đ