Văn hóa hát bội duyên hải Nam Trung Bộ - nhìn từ sắc thái và biến đổi

04.05.2026
Nguyễn Thị Thanh Xuyên

Văn hóa hát bội duyên hải Nam Trung Bộ - nhìn từ sắc thái và biến đổi

Hát bội xác lập không gian biểu tượng để diễn đạt các giá trị đạo đức. Trong ảnh: Trích đoạn tuồng Thoại Khanh - Châu Tuấn do Nhà hát Nghệ thuật truyền thống thành phố Đà Nẵng biểu diễn. Ảnh: P.C.A

Hát bội là loại hình nghệ thuật cổ điển, có tính chất biểu trưng và tổng hợp, đạt đến tính chuyên nghiệp và lan tỏa trong dân gian ở phạm vi cả nước. Tại mỗi vùng miền, nghệ thuật hát bội có những đặc điểm riêng, chịu ảnh hưởng bởi văn hóa, phương ngữ, sinh hoạt tinh thần và thị hiếu của cộng đồng cư dân.

Hát bội không chỉ truyền tải yếu tố sân khấu cảnh trí thu hút thị giác của khán giả mà còn tạo nên đặc trưng riêng từ làn điệu, giọng hát, điệu bộ, hội họa, ý nghĩa xã hội và triết lý đạo đức. Ở góc độ nghệ thuật, hát bội đóng góp vào kho tàng nghệ thuật truyền thống đặc sắc của người Việt cùng với nghệ thuật hát chèo, hát quan họ, bài chòi, đờn ca tài tử… Tại miền Trung, nghệ thuật hát bội phát triển rực rỡ vào thời nhà Nguyễn và định hình những đóng góp nhất định đối với đời sống văn hóa - xã hội của cộng đồng. Trong thế kỷ XX, nghệ thuật hát bội trải qua nhiều thăng trầm song vẫn tạo nên dấu ấn quan trọng trong đời sống tinh thần của cộng đồng cư dân Nam Trung Bộ.

Hiện nay, hát bội có vai trò kết nối giữa yếu tố nghệ thuật cung đình và trình diễn dân gian dưới ảnh hưởng từ tiến trình di sản hóa, định hình vị thế mới của giá trị di sản văn hóa phi vật thể trong phát triển kinh tế - xã hội. Tại Nam Trung Bộ, nghệ thuật hát bội mang đặc trưng của vùng miền và xứ sở, để lại dấu ấn riêng biệt với nghệ thuật hát bội xứ Quảng và Bình Định cùng với diễn xướng hát bội dân gian ở các địa phương trong vùng. Bên cạnh hát bội chuyên nghiệp được truyền thừa và đào tạo bài bản của Nhà hát tuồng Đào Tấn và Nhà hát tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh, thì những đoàn tuồng không chuyên đã góp phần lan tỏa và phát triển nghệ thuật hát bội, khẳng định vị thế và vai trò của hát bội trong sinh hoạt tinh thần của người dân. Như vậy, có sự tồn tại song song giữa hát bội chuyên nghiệp và không chuyên ở Nam Trung Bộ tạo nên tính đa dạng và phong phú về hình ảnh, hiệu ứng nghe nhìn và thụ hưởng văn hóa. Trong thời gian dài, nghệ thuật hát bội không chỉ hiện trên sân khấu của nhà hát mà còn gắn với không gian thiêng của đình làng, lăng Ông Nam Hải và không gian sinh hoạt văn hóa, sản xuất của cộng đồng. Trong không gian thiêng và không gian sinh sống của cộng đồng, nghệ thuật hát bội được nuôi dưỡng và thăng hoa.

Nghệ thuật hát bội tồn tại, phát triển và “có đất sống” trong xã hội là nhờ tâm huyết của nghệ nhân, nhất là những nghệ nhân sống bằng “nghề hát bội” trong các đoàn tuồng không chuyên với tài năng, trải nghiệm và thích ứng với bối cảnh thị trường. Tính chất độc đáo của nghệ thuật hát bội thể hiện ở sự hình thành những cộng đồng yêu thích loại hình diễn xướng này, thường là cộng đồng ngư dân, nông dân, đặc biệt là người trung niên và lớn tuổi. Sự gắn bó của ngư dân, nông dân đối với hát bội dựa trên tính gắn kết giữa hát bội với tín ngưỡng thờ thần linh và loại hình nghề nghiệp của cư dân. Yếu tố chu kỳ theo tiết khí thu đông của tín ngưỡng thờ thần linh hoặc tín ngưỡng cầu mùa của ngư dân và nông dân diễn ra đều đặn hằng năm hình thành không gian và thời gian của tục hát thứ lễ. Nghệ thuật hát bội với tính trang trọng, biểu trưng, truyền tải yếu tố “lễ thức”, “chuẩn mực” nên có nhiều cơ hội hiện diện trong sinh hoạt tín ngưỡng và lễ hội của cộng đồng như một cách thức bày tỏ lòng biết ơn đối với tiền nhân và cầu nguyện mưa thuận gió hòa. Hát bội cũng thể hiện mối liên kết với đời sống thịnh vượng của cộng đồng, thể hiện qua sự gia tăng của nhu cầu xem hát bội khi ngư dân được mùa cá. Bên cạnh đó, các giá trị đạo đức, triết lý của nghệ thuật hát bội cũng góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp. Đặc biệt, với tiến trình di sản hóa, sự gắn kết của hát bội trong không gian thiêng của cộng đồng, không gian đường phố, trường học thể hiện tính chất tái bối cảnh và kiến tạo hình ảnh hát bội theo xu thế mới của tiến trình bảo tồn thích ứng.

Như vậy, có một miền văn hóa hát bội ở duyên hải Nam Trung Bộ kết nối giữa ký ức xưa cũ với hơi thở cuộc sống hiện đại. Bài viết này phân tích tiến trình phát triển, đặc trưng và kiến tạo sắc thái văn hóa hát bội từ không gian văn hóa, nghệ thuật biểu diễn và chuẩn mực đạo đức.

1.   Khái quát về hát bội ở duyên hải Nam Trung Bộ

Hát bội là loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống của người Việt, cùng với kịch Hy Lạp, kịch Noh Nhật Bản và kinh kịch Trung Hoa là những loại hình sân khấu cổ xưa và bác học của nhân loại, sử dụng hóa trang/mặt nạ và trang phục truyền thống để thể hiện tính chất biểu diễn nội tâm của nhân vật. Hát bội Việt Nam có đặc trưng vùng miền rất rõ rệt, có thể phân chia thành hát bội miền Bắc, hát bội miền Trung và hát bội miền Nam. Sự hình thành các dòng hát bội ở Việt Nam là kết quả của quá trình di dân, tiến trình hát bội đi từ dân gian vào cung đình và ngược lại, chịu ảnh hưởng của yếu tố thổ ngữ, phương ngữ và văn hóa địa phương sâu sắc. Hát bội ở khu vực duyên hải Nam Trung Bộ là dòng hát bội có liên quan đến hát bội cung đình Huế, khi đến khu vực này, cùng với yếu tố văn hóa địa phương, phát triển thành hai dòng hát bội đặc trưng là hát bội xứ Quảng và Bình Định.

Hát bội của người Việt đã xuất hiện từ rất xa xưa. Theo Hoàng Châu Ký (2006), hát bội của người Việt có nguồn gốc từ các trò diễn dân gian. Tương tự, Đoàn Nồng (1943) cũng cho rằng dấu vết của hát bội thể hiện trong trò xuân phả ở Thanh Hóa. Đồng thời, dấu vết của hát bội cũng biểu hiện trong các điệu khiêu vũ, múa hát mà vua chúa đã sử dụng để tế lễ1. Nguồn gốc nghệ thuật hát bội là chủ đề gây ra nhiều tranh luận trái chiều giữa quan điểm nghệ thuật hát bội có nguồn gốc từ phương Bắc (Trung Quốc) và nghệ thuật hát bội là loại hình sân khấu truyền thống của người Việt với sự dung hòa và làm giàu một số yếu tố ngoại lai. Quan điểm thứ nhất thường căn cứ vào sự kiện diễn ra ở đời nhà Trần (1258), quân ta bắt được kép hát là Lý Nguyên Cát trong quân đội của nhà Nguyên, người này đã dạy cho người Việt lối hát bội Nam Hí của Nam Tống hoặc tạp kịch của nhà Nguyên (Lê Văn Chiêu, 2007). Tuy nhiên, Hoàng Châu Ký (2006) cho rằng lối hát bội do Lý Nguyên Cát dạy người Việt không có nhiều đặc điểm giống với nghệ thuật hát bội đã phát triển trong suốt thời gian dài ở Việt Nam. Hoàng Châu Ký (2006) và các học giả khác như Đoàn Nồng (1943), Tuần Lý Huỳnh Khắc Dụng, (1970),Trần Văn Khải (1966) là những nhà nghiên cứu hát bội có tinh thần dân tộc đã cung cấp nhiều lập luận đa dạng để chứng minh nghệ thuật hát bội của người Việt không có nguồn gốc từ Trung Quốc. Hát bội của người Việt đã manh nha từ thời Đinh, Tiền Lê, cho đến thời Lý, Trần, Hậu Lê khi nền độc lập dân tộc đã được củng cố và thoát ly khỏi ảnh hưởng của phương Bắc. Điều đó cho thấy nền tảng gốc rễ của hát bội của người Việt đã xuất hiện trước, các nội dung khác như điệu bộ, hóa trang tiếp thu từ phương Bắc chỉ thể hiện tính chất hình thức (Trần Văn Khải, 1966). Đối với hát bội ở miền Trung, tính dân tộc càng thể hiện rõ rệt hơn, với những thay đổi lớn lao về nội dung và hình thức so với hát bội của phương Bắc1.

Thế kỷ XVII - XIX là giai đoạn phát triển cực thịnh của hát bội, và cũng là thời kỳ nở rộ tài hoa của tiền tổ và hậu tổ hát bội. Sau khi từ quan, Đào Tấn xây dựng Học bộ đình ở làng Vinh Thạnh (tỉnh Bình Định cũ, nay là tỉnh Gia Lai) để dạy hát bội, đào tạo ra thế hệ học trò xuất sắc tạo tiền đề phát triển hát bội Bình Định cho đến ngày nay. Đào Tấn là kịch tác gia lớn của thời đại này với nhiều tác phẩm nổi tiếng như Hộ Sanh Đàn, Trầm Hương Các, Diễn Võ Đình và hiệu đính pho Vạn Bửu Trình Tường (kịch tuồng trăm hồi của tiền nhân ở cung đình Huế sáng tác). Từ giữa thế kỷ XIX cho đến đầu thế kỷ XX, tại Bình Định diễn ra hát bội tại văn miếu hàng năm, là dịp biểu diễn hát bội, tôn vinh và phong tặng danh hiệu chánh ca, phó ca. Tục lệ này góp phần nâng cao chất lượng nghệ thuật hát bội trong dân gian, nhờ đó góp phần hình thành thế hệ danh ca hát bội Bình Định. Hai dòng hát bội xứ Quảng và Bình Định về cơ bản thống nhất về cách thức biểu diễn, hóa trang, trang phục và kịch bản, chỉ có một số dị biệt do yếu tố thổ âm và phương ngữ. Trong thế kỷ XX, hát bội Bình Định lan tỏa vào các địa phương khác như Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận với nhiều gánh hát nổi tiếng, tạo nên sự thống nhất và đa dạng của hát bội duyên hải Nam Trung Bộ.

Vào thập niên 1930-1940, hát bội chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ của cải lương từ miền Nam lan tỏa ra miền Trung và miền Bắc. Để thu hút khán giả trở lại với sân khấu hát bội, một số nghệ nhân sáng tác thêm làn điệu xuân nữ dành cho hát tuồng, viết lại một số kịch bản tuồng có yếu tố hiện đại, gọi là dòng tuồng xuân nữ giàu chất trữ tình. Từ thập niên 1950, nghệ sĩ tuồng ở liên khu V ra miền Bắc tập kết, sau đó quay trở về phục vụ phong trào cách mạng. Đây là thời kỳ dòng tuồng cách mạng phát triển. Trong thập niên 1960, đoàn tuồng Đào Tấn và đoàn tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh được thành lập đặt nền tảng cho nghệ thuật tuồng hiện đại hình thành và phát triển, tiếp tục giữ lại các vốn tuồng cổ, và những sáng tác mới dựa trên câu chuyện lịch sử để phục vụ các nhiệm vụ chính trị ở địa phương.

2.  Một vài nét đặc trưng của hát bội duyên hải Nam Trung Bộ

Tính chất biểu diễn: hát và biểu diễn nội tâm, biểu lộ cảm xúc từ bên trong, sử dụng chất giọng ấm, truyền cảm và hát giọng thật.

Làn điệu: thống nhất về làn điệu tuồng, bao gồm cung bắc (bạch, thướng, xướng, thán, ngâm vịnh) và cung nam (nói lối, nam ai, nam bình, nam thương…). Hát khách,  hát  tẩu và hát nam có tính chất thống nhất, song làn điệu hát bội ở duyên hải Nam Trung Bộ có đặc trưng về ngữ khí, ngữ điệu, thổ âm và phương ngữ riêng. Trong đó, nói lối là nghệ thuật nói cách điệu có khuôn khổ kịch bản theo giọng văn biền ngẫu, gắn kết với tính chất biểu diễn nội tâm, thiên về giọng trung thanh tạo ra tính chất trầm hùng và bi tráng của sân khấu hát bội Nam Trung Bộ.

Sự kết hợp giữa nghệ thuật đài từ sân khấu (nói lối), làn điệu hát nam và biểu diễn nội tâm sâu sắc tạo nên tính khác biệt của hát bội Nam Trung Bộ so với tuồng Bắc và tuồng Nam. Trong đó, lối hát bội xứ Quảng và Bình Định có vài nét khác biệt. Hát bội xứ Quảng mượt mà và trữ tình đậm chất văn học tự sự. Hát bội Bình Định cũng giàu chất trữ tình nhưng có thêm yếu tố bi hùng kịch, tính chất anh hùng được đẩy lên cao trào, chú trọng kết hợp giữa làn điệu, vũ đạo và võ thuật để biểu diễn tính cách và nội tâm nhân vật.

Kịch bản: đa dạng về kịch  bản, bao gồm tuồng thầy (tuồng đồ), tuồng truyện, tuồng tiểu thuyết, tuồng lịch sử, tuồng cách mạng, tuồng xuân nữ. Các vở tuồng ở Nam Trung Bộ được sáng tác, chỉnh lý qua thời gian dài, có chiều sâu bác học. Trên các sân khấu hát bội ở duyên hải Nam Trung Bộ, các kịch bản tuồng được sử dụng theo bối cảnh và nhu cầu người dân. Chẳng hạn, đối với hát thứ lễ, chỉ sử dụng tuồng đồ vì tính chất trang nghiêm, nội dung sâu sắc ca ngợi “nhân, lễ, nghĩa, trí, tín”. Kịch bản tuồng luôn thay đổi để phù hợp các giai đoạn lịch sử khác nhau, thể hiện sự thích ứng cao độ với yếu tố thời đại và thị hiếu dân chúng. Nhìn chung, kịch bản tuồng được sáng tác để đáp ứng nhu cầu xã hội và nhân sinh; do đó phản ánh được hơi thở của thời đại.

3.  Sắc thái văn hóa hát bội Nam Trung Bộ

Không gian văn hóa hát bội: sự chuyển tải của ký ức và chuẩn mực đạo đức

Hát bội gắn kết với không gian nghi lễ, lễ hội ở đình miếu như một phần của đời sống tinh thần và tâm linh không thể thiếu của cộng đồng cư dân. Giá trị cốt lõi của hát bội thể hiện ở tính chất biểu diễn nội tâm và truyền tải ý nghĩa chân thiện mỹ. Nhân vật và tích tuồng đa dạng, đặc biệt nổi trội ở các tuồng đề cao đạo đức và giá trị trung quân ái quốc. Giá trị cốt lõi của hát bội phù hợp với không gian lễ thức trang trọng và linh thiêng. Thông thường, từ Gia Lai (Bình Định cũ) trở vào các địa phương phía Nam, trong hát thứ lễ thường sử dụng tuồng nói về ông Quan Thánh (tuồng Phục Huê Dung, Cổ thành) với nội dung đề cao giá trị nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Hát thứ lễ cũng là hát dâng cho thần linh, do đó, sự hiển thánh của Quan Công được dân chúng thờ cúng cũng là một yếu tố phù hợp với không gian lễ thức đình, miếu và được truyền tải qua cảnh trí sân khấu hát bội cùng với trang phục, đạo cụ và lối diễn xuất nội tâm. Giá trị biểu tượng của hát bội là “cầu nối” giữa nghệ thuật sân khấu và tính thiêng của nghi lễ đình, miếu. Biểu tượng của cảnh trí sân khấu, trang phục, hóa trang và vũ đạo ước lệ gợi lên biểu tượng về nhân vật thời phong kiến với tính cách trung nghĩa là những chuẩn mực kết nối với tính thiêng liêng và nghiêm túc của hát thứ lễ phục vụ thần linh.

Tùy theo phong tục của mỗi địa phương, thời điểm hát thứ lễ có nhiều khác biệt, nhưng đều thống nhất là hát thứ lễ diễn ra sau khi cung nghinh rước thần linh về đình, miếu, lăng. Tại Đà Nẵng, một số đình, lăng (lăng Thanh Khê, lăng Nại Hiên Đông) không diễn tuồng thứ lễ mà chỉ có hát múa trình tường, chúc Phúc Lộc Thọ sau lễ Túc Yết. Một số đình, lăng tại Bình Định cho đến Bình Thuận cũ, hát thứ lễ diễn ra sau lễ tế thần lúc nửa đêm hoặc buổi chiều. Trước khi hát thứ lễ là lễ Khai Diên (chánh tế đánh ba hồi chín tiếng để thông báo mở hội làng), sau đó là lễ Đại Bái của đoàn hát, rồi đến múa Khai Diên, diễn tuồng thứ lễ và kết thúc bằng lễ Tôn vương. Lễ Tôn vương có thể diễn ra sau tuồng thứ lễ hoặc sau khi hoàn mãn lễ hội. Trong tuồng thứ lễ, phải có những đào kép giỏi nghề để thể hiện đúng chuẩn mực của vũ đạo, hóa trang và diễn xuất. Sau lễ tế chính, người dân được thưởng thức các loại tuồng đa dạng hơn như tuồng đồ, tuồng truyện hoặc tuồng tiểu thuyết.

Hát bội không chỉ gắn kết với không gian thiêng của đình, miếu mà còn đi vào đời sống của cộng đồng như một biểu tượng và chỉ dấu về sự an vui, sung túc. Tùy theo kinh phí và nguồn lực, có những đình miếu tổ chức hát bội một lần/năm hoặc ba năm hát một lần. Mặc dù thời gian hát đáo lệ có khác nhau nhưng đều chuyển tải cùng một ý nghĩa là hát bội như một sinh hoạt tinh thần quan trọng để mang lại sức sống, niềm vui và ước vọng về sự bình yên, no đủ. Bên cạnh đó, hát bội còn xác lập một không gian biểu tượng (cảnh trí sân khấu, trang phục, hóa trang, vũ đạo và nội dung tuồng) để diễn đạt các giá trị đạo đức và tâm thức đã được cộng đồng xem là chuẩn mực và “khuôn vàng thước ngọc” định hướng đời sống, ứng xử. Mặc dù không gian hát bội không trực tiếp biểu hiện tính thiêng của nghi lễ nhưng nó chuyển tải ước vọng của cộng đồng về sự sung túc và gắn kết với thần linh. Sự kết hợp độc đáo của hát bội với nghi lễ ở đình, miếu hình thành giá trị biểu tượng có sức lôi cuốn mạnh mẽ, định hình lễ thức biểu diễn nghệ thuật trang trọng và chuẩn mực.

Nghệ thuật biểu diễn hát bội: kết nối khán giả với cái đẹp của văn hóa hát bội

Hát bội là loại hình nghệ thuật tổng hợp của hóa trang, phục trang, vũ đạo, ngữ điệu và biểu diễn nội tâm nhân vật. Tính chất ước lệ và giá trị biểu tượng của sân khấu hát bội thể hiện sự phát triển cao độ của tư tưởng bác học. Trên nền tảng thống nhất của nghệ thuật hát bội ở duyên hải Nam Trung Bộ, hai dòng hát bội xứ Quảng và Bình Định đều có những nét đặc sắc riêng về tính chất biểu diễn. Hát bội Bình Định chạm đến tính chất bi hùng kịch, chú trọng kết hợp giữa vũ đạo và võ thuật cùng với làn điệu nói lối đặc trưng để biểu diễn tính cách và nội tâm nhân vật. Hát bội xứ Quảng giàu chất trữ tình, mượt mà và cũng chú trọng vào biểu diễn nội tâm. Chất tuồng ở duyên hải Nam Trung Bộ là sự kết hợp giữa biểu diễn nội tâm và ngữ khí, thổ âm địa phương, thiên về giọng trung thanh tạo ra tính chất trầm hùng và bi tráng. Chất tuồng trầm hùng và bi tráng này vừa là nét đặc sắc vừa là giá trị thẩm mỹ cốt lõi của sân khấu tuồng Nam Trung Bộ.

Tính chất biểu diễn nội tâm hòa quyện cùng với làn điệu nói lối sử dụng phương ngữ, thổ âm đặc trưng ở duyên hải Nam Trung Bộ tạo nên ngữ khí, ngữ điệu riêng. Nói lối bắt nguồn từ văn biền ngẫu song quan, bao gồm nói lối thường, nói lối ai… phát triển thành nghệ thuật nói cách điệu theo khuôn khổ của kịch bản tuồng, đảm bảo nghệ thuật đài từ hay tiếng nói sân khấu của hát bội. Tính chất biểu diễn nội tâm sử dụng nói lối dựa trên kịch bản tuồng nhưng không áp đặt, đây là nét độc đáo và cũng là giá trị hiếm có của hát bội ở duyên hải Nam Trung Bộ. Diễn viên trên sân khấu  tuồng nói lối theo hướng tự do tung hứng với khả năng ứng tác tuyệt vời, tự giãi bày và bộc lộ bản thân qua điệu nói lối mộc mạc, chân phương, không áp đặt kịch bản nhưng diễn tiến kịch vẫn tự nhiên tiếp nối. Nhìn chung, giá trị thẩm mỹ và nghệ thuật biểu diễn của hát bội đã đạt đến đỉnh cao từ phương thức trình diễn sân khấu hát bội, bao gồm hóa trang, ngữ điệu, biểu diễn nội tâm với những tình tiết đắt giá, ghi dấu ấn trong đời sống văn hóa của người dân ở duyên hải Nam Trung Bộ.

Văn hóa hát bội kết tinh giá trị đạo đức

Nghệ thuật hát bội hàm chứa một hệ thống các biểu tượng có giá trị giáo dục hướng đến chân thiện mỹ. Hát bội phản ánh diện mạo xã hội thông qua các nhân vật với các tính cách đa dạng trong kịch bản tuồng (trung nghĩa, gian tà, nịnh…) với các tầng lớp khác nhau (vua, quan, dân thường). Nội dung răn dạy đạo đức, ca ngợi tiết khí, trung nghĩa, đề cao tình nhân ái, vị tha được truyền tải trong giọng văn bác học giúp cho tuồng đi sâu vào đời sống người dân. Tuồng cổ n Hậu nói về tình bạn giữa Kim Lân và Đinh Tá với chi tiết đặc sắc “Kim Lân qua đèo” lột tả ý nghĩa cao cả của tình bạn thủy chung ngay cả khi âm dương cách biệt. Các tuồng cổ khác như Ngọn lửa Hồng Sơn, Tam nữ đồ vương đề cao vai trò của người phụ nữ đối với giang sơn. Tuồng cổ phát triển trong lòng xã hội quân chủ, mà ở đó, thân phận người phụ nữ thấp kém và bị khinh rẻ, nhưng tuồng đã tái kiến tạo giá trị của người phụ nữ vượt xa tư tưởng thời đó, đặt họ trên địa vị bình đẳng với nam giới, chủ động tạo dựng cuộc sống và vị thế của bản thân. Tình yêu nước, căm ghét lũ gian tà thường được đẩy lên cao trào trong tuồng cổ, giá trị trung quân ái quốc, công minh liêm chính là thước đo của người quân tử... Có thể khẳng định, tuồng cổ mang giá trị vượt thời đại, nhờ đó đến gần với công chúng hơn, phản ánh chân thực trạng thái tinh thần và đời sống của người dân. Giá trị đạo đức của tuồng cổ có ý nghĩa như “cầu nối” tư tưởng với khán giả trẻ hiện nay, nhất là trong giáo dục học đường. Các vở tuồng cổ kể trên vẫn hiện diện trong lễ hội cộng đồng và được công chúng ưa chuộng.

4.  Sự biến đổi của nghệ thuật hát bội trong bối cảnh hiện nay

Hiện nay, khu vực Nam Trung Bộ vẫn còn nhiều đoàn tuồng chuyên nghiệp như Đoàn tuồng Đào Tấn, Đoàn tuồng Khánh Hòa, Nhà hát tuồng Đào Tấn, cùng với nhiều đoàn tuồng không chuyên ở Gia Lai, Khánh Hòa và Lâm Đồng. Các đoàn tuồng chuyên nghiệp có lợi thế đào tạo nguồn nhân lực hơn, đặc biệt là diễn viên trẻ, không chỉ bên ngành tuồng mà còn có thanh nhạc, múa. Đối với các đoàn không chuyên, phương thức truyền nghề trong gia đình góp phần gìn giữ nét văn hóa đặc trưng của hát bội.

Tuy nhiên, hiện nay người trẻ không còn mặn mà với nghề hát bội mà tìm kiếm những ngành nghề mang lại thu nhập cao hơn. So với các đoàn chuyên nghiệp, nguy cơ giảm sút nhân lực của đoàn không chuyên cao hơn. Bên cạnh đó, nghệ nhân thuộc các đoàn không chuyên làm nhiều nghề khác nhau như nông nghiệp, buôn bán, đi biển… Hát bội là niềm đam mê và cũng là một nguồn thu nhập thứ hai. Nghệ nhân, diễn viên hát bội không chuyên dành thời gian cho hát bội từ tháng giêng đến tháng 8 âm lịch để trình diễn hát bội ở đình, miếu, lăng trong dịp lễ hội hoặc tế lễ thần linh của cộng đồng. Sau các buổi biểu diễn, họ trở về nhà và tiếp tục mưu sinh. “Đất diễn” của hát bội ở không gian lễ hội cộng đồng và sự cạnh tranh của nhiều đoàn khác nhau là minh chứng cho thấy hát bội vẫn có “thị trường” riêng và khán giả mộ điệu. Bên cạnh hát thứ lễ ở đình, miếu, lăng, nghệ sĩ hát bội thuộc đoàn chuyên nghiệp còn tham gia ở các điểm biểu diễn tại đô thị theo phong trào “nghệ thuật tuồng xuống phố” hoặc tham gia các chương trình biểu diễn tại sân bay, sân khấu học đường… Đoàn chuyên nghiệp có nhiều đất diễn hơn, cơ hội mở rộng và phát triển thuận lợi hơn so với đoàn không chuyên.

Để tồn tại và phát triển trong bối cảnh mới, các đoàn hát bội không ngừng đầu tư đổi mới về  cảnh  trí sân khấu, trang phục biểu diễn, cách thức biểu diễn tân tiến, múa hát nhiều hơn, giảm bớt các tình tiết nói lối, đẩy nhanh tiết tấu, chọn lựa các vở tuồng có độ “nóng” và hoành tráng để đáp ứng thị hiếu của công chúng. Ngoài ra, tiết mục “nghệ thuật tuồng xuống phố” thường trình diễn các trích đoạn tuồng với thời lượng ngắn, lồng ghép với các tiết mục múa hát, hòa tấu nhạc cụ dân tộc để làm mới nghệ thuật truyền thống. Dù vậy, hiện tượng “tuồng xuống phố” này cũng được lồng ghép vào biểu diễn trong lễ hội cầu ngư tại Thanh Khê (Đà Nẵng) trong năm 2026 mà không biểu diễn các vở tuồng cổ với thời lượng dài hơn để phục vụ người dân. Cách thức biểu diễn này hướng đến tính hiện đại, nhưng hạn chế là khiến cho khán giả hụt hẫng, nhất là khán giả lớn tuổi vì không được nghe trọn vẹn một vở tuồng. Trong khi đó tại lễ hội cầu ngư tại lăng Ông Vạn Đồng Hiệp (phường Sơn Trà, Đà Nẵng), Nhà hát nghệ thuật truyền thống thành phố Đà Nẵng (Nhà hát tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh) biểu diễn các vở tuồng dân gian rất đặc sắc như Trạng nguyên gánh củi, Lưu Kim Đính đáp ứng nhu cầu thưởng thức của người dân. Hát tuồng cũng được đưa vào các lễ hội cộng đồng khác như Lễ hội Quán Thế Âm trong năm 2026. Như vậy, sự hiện diện của hát bội đã mở rộng ở nhiều không gian, sự kiện, kể cả những lễ hội chưa từng có dấu ấn của hát bội. Từ Quảng Ngãi trở vào Lâm Đồng, hát bội trong lễ hội cầu ngư, thanh minh, xuân thu tế… thường có tính chất trang trọng (hát dâng cúng thần linh và làm lễ tôn vương), sau đó là hát nhiều đêm để phục vụ người dân. Đây là nét đẹp văn hóa vẫn còn gìn giữ cho đến hiện nay. Mặc dù có nhiều sự biến đổi như thiếu vắng người am hiểu và biết đánh trống chầu, ở một số đoàn không chuyên đã lượt bỏ nói lối, điệu nam ai… nhưng hát bội vẫn là “viên minh châu” truyền tải các giá trị đạo đức, nhân văn bộc lộ qua từng điệu bộ, cử chỉ và hóa trang của nhân vật.

Kết luận

 Nét đẹp của sân khấu hát bội ở duyên hải Nam Trung Bộ thể  hiện bản sắc hát bội riêng biệt, hun đúc từ tinh thần, tính cách, ngữ điệu và văn hóa của cộng đồng. Sự tồn tại của một “miền văn hóa hát bội” ở duyên hải Nam Trung Bộ phản ánh nỗ lực gìn giữ sân khấu hát bội của nhiều thế hệ nghệ nhân, nghệ sĩ, không chỉ trong lĩnh vực chuyên nghiệp mà còn “truyền lửa” hát bội từ trong gia đình. Tính chất đặc sắc của hát bội duyên hải Nam Trung Bộ là một phần trong sinh hoạt văn hóa của cộng đồng, được vun bồi về cả yếu tố sân khấu chuyên nghiệp và chắt lọc tinh hoa từ nghệ thuật dân gian.

Trong không gian văn hóa cộng đồng ở duyên hải Nam Trung Bộ, hát bội thăng hoa và kết tinh các giá trị chuẩn mực đạo đức, kết nối giữa thẩm mỹ nghệ thuật và khán giả, giữa truyền thống xưa cũ và chuẩn mực đạo đức đương thời. Hiện nay, hát bội chịu sự tác động của bối cảnh kinh tế - xã hội hiện đại và sự lấn át của nghệ thuật đương đại, cùng với sự thay đổi thị hiếu, thẩm mỹ và nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của công chúng. Hát bội đang có những bước chuyển đổi liên kết với sân khấu học đường, nghệ thuật đường phố và đời sống mới bằng nhiều hình thức khác nhau. Điều này mang đến diện mạo mới cho hát bội hội nhập vào đời sống đương đại, nhưng cũng khiến cho hát bội mai một và trở nên nhạt nhòa, thiếu chiều sâu và khó phát huy các giá trị đặc sắc hiếm có.

Do đó, hát bội cần được nuôi dưỡng nhiều hơn nữa về hình thức và nội dung, gìn giữ và lưu trữ, số hóa các tác phẩm biểu diễn hát bội độc đáo. Bên cạnh đó, cần sử dụng không gian hát thứ lễ, hát lễ để chuyển tải các tác phẩm tốt cùng với lối biểu diễn nội tâm độc đáo. Điều này không chỉ góp phần gìn giữ giá trị đặc trưng của hát bội mà còn mang lại cho khán giả chất lượng biểu diễn hát bội chuẩn mực và chất lượng. Việc biểu diễn hát bội không chỉ chú trọng đến đáp ứng thị hiếu của công chúng mà còn chú trọng đến chất lượng của kịch bản, cách thức biểu diễn và làn điệu, thể hiện sự tôn trọng khán giả và tránh để hát bội trở nên nhạt nhòa, mất đặc trưng, khiến cho thế hệ trẻ ngộ nhận và hiểu sai về hát bội.

N.T.T.X

1. TS, Viện Khoa học xã hội vùng Trung Bộ và Tây Nguyên

2. Đoàn Nồng, Sự tích và Nghệ thuật hát bộ, Mai Lĩnh Tư thư cục, 1943, tr 21.

3. Đoàn Nồng, sđd, tr 16.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Đoàn Nồng (1943), Sự tích và nghệ thuật hát bộ, Mai Lĩnh Tư thư cục.
  2. Hoàng Châu Ký (2006), Sơ khảo lịch sử nghệ thuật tuồng, Hà Nội, NXB Sân Khấu.
  3. Lê Văn Chiêu (2007), Nghệ thuật sân khấu hát bội, TP. Hồ Chí Minh, NXB Trẻ.
  4. Trần Văn Khải (1966), Nghệ thuật sân khấu Việt Nam, Nhà sách Khai Trí.
  5. Tuần Lý Huỳnh Khắc Dụng (1970), Hát Bội Théatre Traditionnel du Viet Nam, Sài Gòn, Nam Chi Tùng Thư - Kim Lai Ẩn Quán.