Sứ thần đất Quảng khai xuân nơi đất khách

Phạm Phú Thứ (1821 – 1882)
Trong lịch sử ngoại giao triều Nguyễn, những sứ thần xuất thân từ vùng đất Quảng Nam như Phạm Phú Thứ và Nguyễn Thuật đã có những cái Tết Nguyên đán đặc biệt nơi đất khách quê người. Giữa biển khơi xa lạ trời Tây hay trên đường sang Trung Hoa, “khí xuân” hải ngoại được họ đón nhận với tâm thế đặc biệt: vừa an nhiên hòa nhập, vừa canh cánh một “lòng xuân” hướng về đại sự quốc gia. Hành trình và thơ ca của các trí thức Nho học xứ Quảng là minh chứng sống động cho tinh thần trách nhiệm và lòng trung quân ái quốc của họ.
Khí xuân hải ngoại
Nếu Tết cổ truyền thường gắn với sum vầy gia đình, bếp lửa quê nhà, thì với các sứ thần, không gian đón giao thừa lại là những vùng đất xa lạ, nơi giao thoa của các nền văn hóa. Mỗi người một cảnh ngộ, tạo nên những “khí xuân” hải ngoại độc đáo.
Trong chuyến Tây sứ năm 1863 - 1864, Phó sứ Phạm Phú Thứ đã đón Tết Giáp Tý (1864) trên một con tàu viễn dương neo đậu tại cảng Aden (thuộc địa Anh). Khung cảnh thật khác lạ: cổ truyền Việt Nam gặp gỡ văn minh phương Tây giữa một hải cảng quốc tế. Công việc chuẩn bị Tết vẫn được duy trì tỉ mỉ với việc dùng “bạc Tây” mua “bò mộng, rượu, ngan, ngỗng, hoa quả” để “khoản đãi quan binh dưới tàu”. Điều đặc sắc là sự chủ động chúc mừng từ phía Tây phương.
Sáng mồng Một, thuyền trưởng người Pháp đã nâng ly rượu sâm-banh, thứ rượu được Phạm Phú Thứ ghi chú cẩn thận là “chất nhẹ, vị ngọt” và rất được người Tây trọng dụng để chúc mừng: “Trước để chúc nước Đại Nam hùng mạnh, sau cùng với thần đẳng chúc mừng tân niên”. Bữa tiệc Tết do thuyền trưởng tổ chức vì biết đó là “Tết lớn của nước Nam ta” càng cho thấy sự giao thoa văn hóa đầy trân trọng. Tết Việt, trong hoàn cảnh ấy, đã trở thành cầu nối ngoại giao ấm áp.
Còn với Nguyễn Thuật, Phó sứ sang Trung Quốc năm Nhâm Ngọ (1882), cái Tết lại diễn ra trong không gian tĩnh lặng, thư thái hơn trên hành trình sông nước. Trong bài thơ Nguyên đán châu trung ngẫu thành, ông viết: “Khách lý vô giai sự/ Nghinh xuân diệc ngẫu nhiên” (Làm khách chẳng có việc gì vui/ Đón xuân cũng chỉ là ngẫu nhiên). Tâm thế của ông là sự an nhiên, chấp nhận hoàn cảnh. Giữa không gian tạm dừng thuyền giữa dòng nước, ông tìm thú vui trong những hành động giản dị của kẻ sĩ: Khai quyển tiêu nhàn nhật/ Hàm bôi đối trường niên (Mở sách tiêu ngày nhàn/ Nâng chén đối năm dài). Sự an nhiên ấy không phải là thờ ơ, mà xuất phát từ sự chủ động và tinh thần trách nhiệm được thể hiện rõ trong nhật ký hành trình. Các ngày Tết của ông được lấp đầy bằng các hoạt động ngoại giao bài bản: ngày mồng 2 thì sai người đem quế, đũa ngà - những thổ sản quý của Việt Nam tặng quan viên nhà Thanh; ngày mồng 3 lo thanh toán cước phí; ngày mồng 4 lại tiếp tục lên đường.
Một cái Tết “xa” nhưng không hề “rối”, diễn ra nhịp nhàng và có trật tự.
Dù trên tàu Pháp giữa biển khơi hay trên thuyền sứ giữa dòng sông Trung Hoa, “khí xuân” nơi hải ngoại trong lòng các sứ thần đất Quảng vẫn toát lên vẻ trang trọng, tự chủ và đầy bản lĩnh ngoại giao.
Lòng xuân với nước
Đằng sau những khung cảnh đón Tết khác lạ ấy là một điểm chung xuyên suốt và sâu sắc: một“lòng xuân” luôn thiết tha hướng về đất nước, về trách nhiệm “phụng đại sự”. Điều này được giãi bày rõ nhất qua thơ ca - nơi chứa đựng tâm tư thầm kín nhất của các vị sứ thần.
Phạm Phú Thứ đã gửi gắm nỗi lòng vào bài Giáp Tý Nguyên đán sáng tác khi thuyền qua Biển Đỏ. Mở đầu bằng thời khắc Giáp Tý khai thiều đán (Năm Giáp Tý mở buổi sớm xuân), tâm trí ông đã hướng ngay về đất nước: Hoàng phong doanh hải phiên (Đức vua như ngọn gió lành tràn khắp bờ biển). Giữa không gian mênh mông, lạnh lẽo (Tuyết diễu từ tây cực), nỗi cô đơn của kẻ lữ thứ và nỗi nhớ nhà da diết thể hiện qua hình ảnh ngũ canh đồng đãi lậu (suốt năm canh cùng đợi giọt đồng hồ). Thế nhưng, mọi cảm xúc riêng tư cuối cùng đều được gom lại, vượt lên để hòa vào nhiệm vụ chung qua lời chúc tụng thiên tử: Vạn tuế hiến sơn ngôn (Dâng lời chúc tụng vạn tuế lên vua). Ngay trong bài thơ ghi lại bữa tiệc Tết trên tàu Pháp, giữa những “đao xoa” (dao nĩa) và rượu sâm-banh, ông vẫn thành kính hướng về Vị khánh Đại Nam xuân (Để mừng xuân nước Đại Nam). “Lòng xuân” của Phạm Phú Thứ là nỗi thao thức canh cánh, luôn lấy “đại sự” làm trọng.
Trong khi đó, Nguyễn Thuật lại thể hiện “lòng xuân” với nước qua sự an nhiên vững chãi và ý thức sâu sắc về sứ mệnh. Bài thơ Nhâm Ngọ Nguyên đán nhật sáng tác tại huyện Hưng An (Trung Quốc) mở đầu bằng hình ảnh uy nghi của sứ bộ: Sứ tinh kim tạc chiếu Tương Li (Cờ sứ hôm qua và hôm nay chiếu rọi sông Tương, Li). Mọi cảnh sắc xuân tươi đẹp đều được ông đặt trong mối liên hệ với trách nhiệm: Diêu hướng Nam Sơn chúc thọ kỳ (Xa hướng về núi Nam cung chúc phúc thọ bền lâu). Hai câu thơ tiếp theo càng khẳng định niềm tin và khát vọng chính trị của ông về một đất nước thịnh trị, nhân ái. Cuối cùng, ông tự nhủ rằng những nghi lễ chúc tụng chỉ là hình thức, cái cốt lõi là phải có đóng góp thực chất để giữ vững nền thái bình: Xưng thương tấn bích hồn nhàn sự/ Ưng hữu thao cung tụng ngọc trì (Nâng chén rượu, dâng biểu chúc thọ đều là việc thường nhàn/ Ắt nên có bài tụng ca nơi ngọc thềm trong cảnh thái bình). “Ngọc trì” (thềm ngọc) chính là biểu tượng cho triều đình, cho quốc gia mà tâm hồn ông luôn hướng về.
Cả hai vị sứ thần đất Quảng đều mang trong mình những nhiệm vụ nặng nề. Phạm Phú Thứ đi sứ phương Tây với hy vọng tìm cách chuộc lại ba tỉnh Nam Kỳ đã rơi vào tay Pháp. Còn Nguyễn Thuật sang Trung Quốc với mong mỏi nhà Thanh thực hiện nghĩa vụ bảo hộ, hỗ trợ Đại Nam chống lại sự xâm lược của Pháp. “Lòng xuân” của họ, vì thế, không đơn thuần là cảm xúc nhớ nhà ngày Tết, mà là ý thức sâu sắc về trọng trách giải quyết vận mệnh đất nước trong buổi gian nan.
Sự viên mãn của “lòng xuân” ấy chỉ thực sự trọn vẹn khi họ hoàn thành sứ mệnh và trở về. Phạm Phú Thứ từng ghi lại cảm xúc đó trong bài thơ Thuyền đến Đà Nẵng sau chuyến đi sứ Trung Hoa. Khi con thuyền về đến cửa biển quê hương đúng tiết xuân, cảnh vật hiện lên thật tươi mới: Cố quốc Vân sơn đa khí sắc (Núi Hải Vân ở quê cũ nhiều khí sắc). Hai chữ “khí sắc” và “chính xuân tình” (đúng là cảnh xuân) chính là sự bừng nở của niềm vui sướng, nhẹ nhõm khi đã hoàn thành “đại sự”, mang “lòng xuân” trở về trong sự vẹn toàn.
Qua những trang nhật ký và thi ca, hình ảnh các sứ thần đất Quảng - Phạm Phú Thứ và Nguyễn Thuật, hiện lên không chỉ là những nhà ngoại giao tài ba, mà còn là những trí thức Nho học mẫu mực, mang trong mình một tấm lòng son sắt với quê hương, đất nước. “Lòng xuân” của họ là sự kết hợp giữa tình yêu truyền thống dân tộc, ý thức trách nhiệm công vụ và khí chất an nhiên tự tại, đã trở thành ngọn lửa ấm áp sưởi ấm những ngày xuân viễn xứ, là la bàn định hướng cho mọi hành động. Trong mùa xuân mới, câu chuyện về họ gợi cho hậu thế những bài học sâu sắc về tinh thần trách nhiệm, lòng yêu nước và bản lĩnh của người trí thức trước vận mệnh quốc gia.
N.H.T