Chẳng biết trong lòng có những ai...

Thi sĩ Phạm Hầu
Thềm xuân, nhìn những cành mai đương nụ, lòng ngân lên khe khẽ: Lòng xiêu xiêu, hồn nức
hương mai. Rồi chợt nhận ra, Phạm Hầu, người thi sĩ ấy, cũng là một thức hương mai, tinh khiết, ngắn ngủi mà rất mực tao nhã.
Chẳng biết trong lòng ghé những ai
Thềm tim từng dội gót vân hài
…
Đưa tay ta vẫy ngoài vô tận
Chẳng biết xa lòng có những ai?
Thi sĩ Phạm Hầu đã mở khép bài thơ Vọng Hải Đài, thi phẩm được trích dẫn trong Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh - Hoài Chân như là tiêu biểu cho sự nghiệp thi ca của ông, như thế.
Bài thơ nổi tiếng không phải vì Vọng Hải Đài là một danh thắng trên dãy Hải Vân sơn, mà đúng hơn là danh thắng kia đã thêm phần sang trọng vì có thi nhân Phạm Hầu đặt bút làm nên thi phẩm Vọng Hải Đài. Và ta nghe như thấp thoáng một chuyện tình. Cũng như bao chuyện tình tưởng tượng mà các thi nhân tự thêu dệt cho mình để làm nên những bài thơ? Mà sao thầm thì thấm thía đến thế?
Tháng ngày đi rước tương tư lại
Làm rã chân thành sắp sửa xiêu
Chẳng biết xa lòng có những ai? Không dưng sao lại dừng chân nơi Hải Vân sơn, nơi bời bời mây trắng, nơi lồng lộng gió ngàn để ngóng gót vân hài mà đón gió tương tư?
Xa lòng là những đâu? Vọng Hải Đài trên đỉnh Hải Vân sơn với những cánh tay vẫy dài về hai phía, xứ Quảng và Huế. Thi nhân quê xứ Điện Bàn lẽ nào lại phiêu dạt lên chốn non ngàn để ngoái nhìn về chốn cũ rồi lại mệnh danh quê hương là phía xa lòng? Hay phía xa lòng là phía bên kia, nơi có giọng người con gái mô - tê - răng - rứa cứ êm đềm lặng hoài với dòng Hương Giang?
Tôi đang chăm chắm kiếm tìm dấu vân hài đã từng dạo gót ngang qua thềm tim của người thơ để những lúc trời đau gió thở dài (thơ Huy Cận), người lại lục vấn lòng mình chẳng biết xa lòng có những ai? Và, được biết câu chuyện tình không là một tưởng tượng, nó đã thực đang khi và cả sau khi thi nhân đã mất.
Phạm Hầu quê Quảng Nam (nay là thành phố Đà Nẵng), vì cha là quan Thượng thư Phạm Liệu, nên có thuở Phạm Hầu theo cha ra Huế học. Nhà quan Thượng thư ở đâu chừng dốc Bến Ngự. Huế những năm trước 1945 ai cũng biết về người con gái tên Mừng, theo như lời kể của nhà thơ Lưu Trọng Lư trong Nửa đêm sực tỉnh: “Mừng là người con gái đẹp không phấn son, nhưng mỗi bước đi đều uốn sóng từng sợi tóc trên trán”. Nàng trọn vẹn công dung ngôn hạnh, ra đường ngồi xe, song ở nhà là người làm vườn, thạo cổ cầm và từng vào hầu bà Từ Cung. Người con gái được cả đám đông yêu chiều, từ các nghệ sĩ thành danh đến các sĩ quan hiến binh, thậm chí có cả người con nhà hoàng tộc, là cháu của Tùng Thiện vương nổi tiếng. Lòng ngưỡng mộ ấy, Mừng nhận mà không đón, cung kính mà không buông tuồng. Vẫn lời kể của Lưu Trọng Lư: “Cả khi Mừng ngồi trên xe, những người con trai quanh xóm, trên đường, thường vất vào xe Mừng những bức thư tỏ tình. Mừng vẫn cung kính nhận”. Người đẹp nổi tiếng như thế, làm sao một tâm hồn nghệ sĩ như Phạm Hầu lại có thể dửng dưng. Song tình yêu của Phạm Hầu cũng kín đáo như tính tình và tâm hồn vốn mong manh dễ vỡ của ông. Nhà văn Đinh Công Vĩ trong Chuyện tình kẻ sĩ Việt Nam kể: “Người ta đồn rằng Mừng đã có một đứa con riêng, chuyện của người chị Mừng, người ta lắp qua cho Mừng. Hầu tưởng đó là sự thật”. Nỗi đau của người là ảo mà nỗi đau trong tâm hồn thi nhân là thật. Phạm Hầu bỏ Huế ra Hà Nội học Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, làm thơ, vẽ tranh tặng người trong mộng tưởng. Tác phẩm của Phạm Hầu là cả một thế giới rêu xanh (họa phẩm Cô đơn vẽ hòn đá rêu xanh của Phạm Hầu từng đoạt giải nhất tại triển lãm quốc tế Tokyo), là mênh mông bạt gió như Vọng Hải Đài, là đài các xa vắng như Dạ nhạc:
Nàng khóc bằng tay trên phím ngà
Những ngón tay dài như lệ sa
Mừng không hề biết có một người làm thơ, vẽ tranh cho mình. Đó là một chuyện tình thầm.
Phạm Hầu mất năm 1944.
Câu chuyện tình có một kết thúc đẹp bởi chuyện tình ấy đã không còn thầm lặng với Mừng, vì người cùng chung nhà trọ với Phạm Hầu khi ở Hà Nội là nhà thơ Lưu Trọng Lư, sau này lại là chồng của Mừng. Lưu Trọng Lư kể: “Mừng cùng tôi đến thăm ngôi mộ người bạc mệnh. Mừng đi quanh vườn, ngắt một bông hồng cho tôi. Tôi để trên tay nhìn một giây lâu rồi trao lại cho Mừng. Mừng rút một cuốn sách nhỏ từ túi áo, giở ra một tờ giấy trắng tinh không chữ rồi ép mạnh và lại bỏ vào túi áo. Tôi hỏi bâng quơ: “Mừng giữ vần thơ nào của Hầu?”. Một giọt nước mắt bật ra khỏi mi mắt Mừng”.
Tâm tình của người con gái Huế ấy với chàng thi sĩ có lẽ còn cảm động hơn trong lời kể từ Vẫy ngoài vô tận (Hoàng Minh Nhân chủ biên): Gần nửa thế kỷ sau, cô Mừng tâm tình “... tôi nghĩ rất kỹ là một mối tình đẹp, và rất thiêng liêng, không nên kể lại. Mà chỉ để riêng cho người đã vì mình mà hy sinh một tài năng”.
Và bây giờ tôi đã tưởng tượng ra thi nhân Phạm Hầu đã tâm sự cùng ai trong xa vắng. Thanh thoát như tiên, như mộng tưởng, như những giấc chiêm bao, như tác giả Thi nhân Việt Nam đã phác họa về thi sĩ Quảng Nam Phạm Hầu: “Ở giữa đời Phạm Hầu là một cái bóng, chân đi không để dấu trên đường đi. Người còn mãi sống với mình và con người ta tưởng không có gì là một người giàu vô vạn. Lòng người là một vọng hải đài, người chỉ việc đứng trên đài lòng mà ngắm: “Qua lại thiếu gì mây sớm gió chiều”.
Với những gì thi nhân Phạm Hầu đem đến cho tình yêu, và những gì tình yêu đem đến cho ông, chợt nhớ lời thi nhân từng tâm sự: Nghệ sĩ không thể không đau khổ. Nhưng cái đau khổ đó không phải là một thất vọng.
Đem tình yêu khắc lên vách núi, gửi cho mây ngàn để rồi lưu lại một cái tên Vọng Hải Đài. Tình yêu ấy mãi man mác, mênh mông cùng quê hương đất nước.
N.T.A