Ký ức một người lái đò

23.01.2026
Hồ Duy Lệ

Ký ức một người lái đò

Về quê thưởng thức trời xuân, tôi gặp ông Xe đứng ở đầu cầu Cửa Đại. Tôi mời ông lên xe, đi một vòng ngắm sông nước, rừng dừa. Trên đường về nhà, ông kể cuộc đời trải qua hòa bình và chống giặc.

Ông nội tên là Chạy. Cha tên là Mau. Cha mẹ sinh bốn người con trai: tôi là Đi, ba em là Cày, Bừa, Bộng. Một lần, dì Bốn dẫn dượng đến thăm, thấy tôi lanh lợi, dượng nói vui: “Đi nè, từ nay con đi xe, không đi cày, đi bừa, đi bộng, cực cả đời rồi!”. Từ đó, dì tôi, dượng tôi, rồi cả mẹ tôi, thỉnh thoảng không gọi tôi là Đi nữa mà gọi là Xe. Tôi toàn đi bộ rồi đi thuyền, vậy mà cái tên Xe bám theo tôi suốt cuộc đời trên sông nước, bãi bờ, qua ba bốn cuộc chiến tranh giữ nước.

Tháng 1 năm 1947, chấp hành chủ trương của Tỉnh ủy, thực hiện “tiêu thổ kháng chiến” và tản cư; với tinh thần “thà chết không chịu làm nô lệ”, nhân dân khắp nơi tham gia đào phá đường giao thông, đập phá công sở, nhà lính, bốt gác, trường học… để địch không thể lợi dụng làm nơi đồn trú. Hội An vận động nhân dân thực hiện kế hoạch “vườn không nhà trống”, chặn bước tiến của giặc Pháp; đồng thời tổ chức tản cư qua phía Nam sông Thu Bồn với khẩu hiệu “Tản cư là yêu nước”.

Đoàn thể đưa dân gồng gánh, bồng bọc, cõng con đi tản cư. Lệnh ban ra, mẹ tôi hối các con mang áo quần, gạo, mắm… bỏ lên ghe. Nửa đêm, du kích Cẩm Thanh báo tin Tây qua Hồng Triều. Cả nhà leo hết lên một chiếc ghe nặng trĩu. Cha tôi lùa tám con trâu ra bờ sông, bảo anh em tôi cùng ông dìu trâu vượt sông Thu Bồn. Người và trâu lên bờ, lội cát qua chợ Nồi Rang. Đi một chặp, mỏi chân, cả nhà dừng lại nghỉ trong khu vườn rộng của ông Chánh Lan ở Cát Cao. Cha tôi chia tay mẹ con tôi, bơi qua sông về lại Cẩm Thanh, về với đội du kích đánh Tây.

Xin ông Chánh Lan cho dựng một cái chòi lợp lá dừa dưới bụi tre, nhìn ra sông nước Cẩm Thanh. Mẹ con tôi bám ngã ba sông Thu Bồn - Bà Rén - Trường Giang, từ tinh mơ đến tối mịt, nhiều hôm thâu đêm thả lưới bắt cá, kéo trễ (còn gọi là đi rà, đi sỏng) bắt tôm. Phơi nắng dầm mưa với bãi Cát Cao trắng xóa, nắng hè khô khốc, mưa giông ngập nước; học dân địa phương trồng khoai, trồng rau, tỉa đậu, gieo mè, sống chung với dân làng tứ xứ chạy tản cư...

Những ngày ở Cát Cao, thằng Cày đi giữ trâu, thấy đồ cúng ngãi có trứng vịt, xôi, chè, thèm quá ăn một ruột, rồi trướng bụng mà chết. Hồi đó, thuốc thang không có, mẹ tôi khóc ròng rã cả ngày. Tôi thay em giữ trâu, lượm phân. Lên mười bốn tuổi, theo chân cha, tôi tham gia du kích địa phương, cùng dân quân đốn tre, khiêng sắt đường xe lửa về làm cừ trên sông Trường Giang chống hải thuyền vào vùng tự do.

Cuối năm 1947, giặc Pháp chiếm đất, đồn trú khắp nơi, gieo rắc tội ác. Chủ trương vận động bà con “hồi cư” được ban ra. Nhưng hồi cư về thì không có cái ăn cho no. Địch biết đây là chủ trương của Việt Minh, lợi dụng cảnh đói đau để phá, bắt bớ, đàn áp, dụ dỗ làm tay sai cho chúng.

Có lệnh hồi cư, mẹ con tôi lại gồng gánh xuống ghe, lùa bầy trâu về quê ngoại thôn Sáu, Cẩm Thanh. Tôi được hai cán bộ nằm vùng là Lâm Cống và Phan Đào giao nhiệm vụ làm giao liên hợp pháp. Cha cùng mẹ xin về thăm quê thôn Hai, rồi ở lại bên nội. Trong một chuyến bí mật đưa cán bộ qua sông, cha tôi hy sinh, bỏ lại mẹ con tôi bơ vơ. Lính theo Tây trong đồn bắn chết hết bầy trâu. Trâu đâu còn mà cày, bừa, bộng. Mỗi lần nghĩ đến cha, nhớ đàn trâu, tôi lại bật khóc. Mẹ ôm tôi, nước mắt lưng tròng.

Mẹ kể, sau Hiệp định Genève, ông Quảng Bưng bị tố Cộng, trước lúc xuống thuyền ra Cù Lao Chàm để vượt biển ra Bắc, dặn hai con: “Họ xin cưới thì cho cưới”. Mẹ tôi cưới cô Điền - Quảng Thị Điền, lúc đó mới mười chín tuổi, cho tôi. Hai vợ chồng dựng được cái nhà, ở được ba ngày thì bị Tây đốt. Làm lại, ở qua đêm thì trưa Tây lùng tới, lại đốt. Lại làm cái nhà, ở đêm tới sáng, trưa Tây đi lùng, lại đốt, cháy còn cái sườn. Lại cắt lá dừa đan thành tấm, lợp lên cái sườn cháy đen, gọi là nhà. Vợ chồng quanh năm suốt tháng bám sông nước, bám rừng dừa, làm lụng cùng nhau, ngủ nghỉ bên nhau, cứ năm một, bốn trai, ba gái, nối nhau chào đời. Nay, các con đã ra riêng, có việc làm, chỉ thằng Dũng ở với tôi, nói ở mà gửi con cho ông nội, hắn ra làm Bí thư ngoài Cù Lao Chàm…

Ông Trần Văn Xe nhìn ra mặt sông, nheo mắt trầm tư. Ký ức tràn về, ác liệt nhất là chiến dịch xuân Mậu Thân 1968...

Nhận lệnh làm cầu phao cho bộ đội qua sông, cả bộ phận tiền phương mất ăn mất ngủ. Công việc quá nhiều, quá nặng, lại quá gấp. Nghe nói đi giành chính quyền về tay nhân dân, ai cũng mừng. Chắc đánh lớn! Anh chị em chúng tôi bí mật chuẩn bị mấy chục chiếc ghe nhỏ cùng cơ số cọc tre, tấm cót, rồi nhận chìm tất cả xuống sông. Khi có lệnh xuất quân thì kéo ghe, kéo cót lên, cứ hai chiếc song song làm phao, gác mấy cây cọc tre qua làm thanh, đặt tấm cót tre lên làm mặt cầu, ghép sát các đôi ghe hàng ngang. Vậy là có một cây cầu nổi cho bộ đội chủ lực trú ở Cẩm Thanh vượt sông Đò - con sông nhỏ chạy trong rừng dừa Bảy Mẫu vào đất Cẩm Châu, tiến công quận lỵ Hiếu Nhơn và áp sát nhà lao Hội An…

Nửa đêm chuyển quân, mờ sáng thì đưa hàng ngàn người đấu tranh chính trị ở các xã vùng đông Duy Xuyên, Thăng Bình, cùng ba mũi quân của Cẩm Thanh, Cẩm An, Trà Quế, Cẩm Châu, tay cầm dây, giáo, mác, nhập thị “khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân”. Cực không thể tả, mà khí thế thì bừng bừng. Bộ đội thọc vào nội thị, đánh một số mục tiêu, tiếc là không gọn: đồn bốt quá nhiều, quân đâu mà đánh cho xuể. Khi bị phản kích, phải lui ra dưới làn bom đạn; pháo địch dội xuống điên cuồng, ác liệt không thể tưởng.

Thương nhất là dân đấu tranh chính trị, chưa kịp nổi dậy đã bị đàn áp bằng súng đạn, phải rút qua sông Cái. Nhiều người bị thương nhẹ ráng chạy. Nhiều người sáng sớm mang cơm bánh theo, chưa kịp ăn, đói lả cũng phải chạy. Vợ tôi cùng mấy mẹ, mấy chị ở Cẩm Thanh nấu cơm, nấu bắp, bẻ trái bắp, gói cơm, hối họ qua sông, sợ chúng đuổi theo bắt sống, bỏ tù. Chưa lúc nào phải đưa thương binh, tử sĩ qua sông nhiều như xuân Mậu Thân… Nhắc chuyện ngày xưa để nhớ - nhớ để biết ơn, vậy thôi.

Từ ngày Hội An được công nhận Di sản văn hóa thế giới, rồi cầu Cửa Đại bắc qua sông Thu Bồn, những con đường nhựa mở ra. Những cây cầu mới nối qua sông Đò, sông Đế Võng… Các vùng Cửa Suối, Trảng Kèo, Bàu Ốc, làng Thanh Hà, Kim Bồng, Cẩm Hà, Cẩm Châu, Trà Quế, Thanh Tam… dần thành làng du lịch sinh thái lạ lẫm, hấp dẫn khách bốn phương. Nhà mới mọc lên khắp nơi; khách Tây, khách Nhật, khách Hàn đầu trần, đạp xe, lội bộ vào làng... Thấy vậy là ưng cái bụng.

Giải phóng rồi, có tiền phụ cấp cũng không đủ mua gạo, chưa có lương. Hai vợ chồng tằn tiện, dành dụm, cộng với “tiền chiến trường”, gom được ba trăm, trả nợ mượn, còn năm chục làm vốn kiếm tiền trả sau. Suốt nhiều năm, vợ chồng con cái ở trong căn nhà lợp lá dừa. Dành dụm được ít tiền, vợ hối làm nhà. Tôi chần chừ cả năm, ngày nào cũng ra bờ sông xem làm cầu. Đến khi người, xe các loại nối nhau qua cầu, tôi mới quyết định làm nhà. Vợ vui nghe tin khởi công mà không được một lần bước qua cây cầu ước mơ ngàn đời. Làm xong căn nhà trên khang trang thì vợ ngã bệnh. Cha con nai lưng tráng nền căn nhà dưới thì vợ đột quỵ. Tôi bồng vợ lên nhà trên. Bả được nằm nhà mới, ăn bữa nửa chén cơm, bữa lưng chén cháo, không nói năng chi suốt hai trăm bốn chục ngày thì bỏ mấy cha con tôi, đi luôn...

Ông rót nước mời tôi, rồi xổ bầu tâm sự. Sống qua tuổi tám mươi, nhẩm tính, tôi có năm cái nhất: giao việc chi cũng làm tích cực nhất; ở chỗ ác liệt nhất; lao động giỏi nhất; Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, và... lương thấp nhất!

Hồi đánh với tụi Mỹ, có nơi mô ác liệt bằng đoạn cuối sông Thu Bồn đổ ra Cửa Đại này. Người ta gọi đó là “sông giảm thọ” - đoạn sông dài chừng cây số mà có tới hai cái đồn địch. Tôi phải kiêm hai chức: Trưởng ban Giao bưu và Trưởng ban Giao vận, ngày đêm thường trực cùng chiếc ghe qua lại trên sông giảm thọ. Có thư hỏa tốc, nửa đêm cũng bơi qua sông. Có người bị thương cần cấp cứu thì bằng mọi cách cũng phải qua sông. Cái đồn hải thuyền ở cửa biển Cửa Đại, gọi là đồn Gành. Bọn hải thuyền túc trực trên sông từ Cửa Đại lên Hồng Triều, Bàn Thạch. Bo bo rượt dưới nước nhanh như xe tăng chạy trên bờ. Ban ngày có trực thăng Mỹ. Ban đêm, muốn qua sông phải canh chừng bo bo của hải thuyền. Thuyền của ta bơi tốc lực từ Bến Đình, Cẩm Thanh qua bến Nồi Rang, Duy Nghĩa, mất chín phút. Là chín phút sinh tử!

Trừ thương binh, ai ngồi lên ghe cũng được phát cho một cây dầm. Canh chừng hải thuyền, hô xuất phát là cắm cổ bơi. Ban ngày, bo bo rượt sát bờ, thấy bụi rậm, đám dừa nước nghi ngờ là chúng xả đại liên vào như trấu. Ban đêm, pháo cối cầm canh hai bến đò. Anh em tôi chịu cực, chịu khổ là đương nhiên. Thương nhất, và cũng đáng biểu dương nhất, là mấy đứa con gái mới mười sáu, mười bảy tuổi, từ trong vùng địch thoát ly ra, liền bổ sung cho Giao vận, Giao bưu, tức là đôi tay ôm cây dầm chèo đò, đôi chân chạy đưa thư.

Hồi cư về phải làm cật lực mới có ăn, cuốc đất hoang hóa trồng khoai, trồng đậu; chèo thuyền giăng lưới đánh cá, làm nò bắt tôm, lặn hụp mò cua. Giặc phát quang trụi rừng dừa bảy mẫu. Lại ngâm bùn, phơi nắng trồng dừa nước cho tôm cua sinh sôi, có lá lợp nhà. Tây, đầm thích ngồi thuyền bơi dưới rừng dừa…

Biết câu chuyện khó dứt, tôi xin hẹn ông lần sau. Ông nói: “Tôi cũng đang có việc: Xã và thôn giao cho tôi làm Phó Chủ tịch Hội Người cao tuổi xã, kiêm cái Chủ tịch Hội người cao tuổi thôn Thanh Tam, còn giao thêm cái Phó Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam. Chức được dân ban cho là… già làng. Tôi đang theo dõi việc thi công Đình làng Thanh Tam”.

Ông bắt tay tôi: “Tôi đi vô đình đây, hôm nay Hội Người cao tuổi gặp mặt…”. Đi mấy bước, ông quay lại nhìn tôi, cười: “Xuân này, tám mươi lăm rồi. Không đi xe, đi cày, đi bừa, đi bộng nữa… Xe này, đi này, chỉ còn một chuyến đi xa!”. Rồi cười.

H.D.L

Bài viết khác cùng số

RêuGóc vườn gọi xuânNàng, tôi và Vic...Rubic TếtMưa xuân trên đỉnh bình yênMùa xuân phía trước…Nhịp chiêng xuânTrước thềm năm mớiXuân ở lại cùng ngườiTiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt NamKý ức một người lái đòNgọt ngào dư vị tuổi thơChuyện cây mai làng YênXóm cũChạm nắngLập xuânChờ mùa đông đi quaXuân trôiLãng đãng xuânVá xuânGiấc mơ xuânSoiHôn cuộc đời xanh biếc trái tim vuiMùa xuân đến muộnCây tía tô mùa xuânThăm vườn cà chua chínHoài niệm gió bấcKhi hoa vườn nhà nở sớmGởi tuổi mình xa lắm đã từ lâuXuân sớmMàu cúc nhắc sum vầyGiấc mơ dưới hiên nhà cũMùa xuân ẩn dạngQuê xưa gồng gánh hoa vàngNhư vừa sang xuânVề thôi!Mùng 3 Tết và chaPhía xuân mong manhHỏi quêXuân trởTiếng xuânKhi người thinh lặngĐịnh hình một tháng ChạpCon mãi về nơi ấyTrên đỉnh Tùng LaDự cảm GiêngNguyện cầu trước mùa xuânMùa xuân rất gầnXuân trên miền caoMùa gọi yêu thươngBếp xuânMùa Tết trong timĐà NẵngVẫn tươi rói khúc xuânMai đỏ, mai vàngMàu phốHọa tiết “ngựa rồng” trên bình phong đình làng xứ QuảngChẳng biết trong lòng có những ai...Lạc vào Xứ của HiềnCông chúng văn nghệ qua góc nhìn của Nguyễn Văn XuânSứ thần đất Quảng khai xuân nơi đất kháchVề bài bản hô hát, thể thơ và cách ứng tác của Bài chòi xứ QuảngCon ngựa trong văn hóa ViệtTết thời số hóaĐã thành cổ tích chưa?...Về Thăng Bình nghe đối...Lịch sử nhân loại được chở trên lưng ngựaĐất Quảng với những năm Bính NgọLễ trao tặng Giải thưởng Văn học - Nghệ thuật thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2021 - 2025Lộc xuânGửi hoa thêu gấmGóc phố quenSắc TếtTình xuânGiữa sương maiPhố biển tôi yêuKhúc hát chiều xuânTuổi ngựa