Đất Quảng với những năm Bính Ngọ

Tác giả bài viết (thứ hai từ trái sang) tại Lễ khánh thành công trình Bia di tích kỷ niệm “Sự kiện 76 ngày đêm nhân dân Đà Nẵng làm chủ thành phố”, ngày 25/7/2016.
Đất Quảng - với tư cách một phần sính lễ của vua Champa Jaya Simhavarman III/ Chế Mân xin cưới công chúa Huyền Trân - đã trở thành lãnh thổ Đại Việt từ năm Bính Ngọ 1306 niên hiệu Hưng Long thứ 14 đời vua Trần Anh Tông. Sau khi đưa công chúa Huyền Trân nước non nghìn dặm vào Vijaya/Đồ Bàn - kinh đô Champa, nhà Trần đã chính thức tiếp quản châu Ô và châu Lý của Champa kéo dài từ bờ nam sông Hiếu đến bờ bắc sông Thu Bồn, và chỉ một năm sau - năm Đinh Mùi 1307 - đã đổi tên thành châu Thuận và châu Hóa. Đất Quảng đương thời thuộc về châu Hóa và chỉ nằm trên địa phận châu Hóa, từ phía nam núi Hải Vân đến bờ bắc sông Thu Bồn. Năm Đinh Mùi 1307 cũng là năm vua Chế Mân qua đời và công chúa Huyền Trân xuống thuyền vượt biển hồi hương. Sau này, để tri ân công đức của công chúa Huyền Trân, người Quảng lập hai miếu thờ Bà - một ở núi Ngũ Hành, một ở làng cổ Nam Ô; gọi hòn Sơn Trà con là đảo Huyền Trân và đặt tên Huyền Trân Công Chúa cho ba đường phố Đà Nẵng - một ở phường Ngũ Hành Sơn, một ở phường Hội An và một ở phường Bàn Thạch.
Năm Bính Ngọ 1366 niên hiệu Đại Trị thứ 9 đời vua Trần Dụ Tông, đất Quảng vẫn tiếp tục thuộc về châu Hóa nhưng thực ra cũng chỉ trên danh nghĩa, bởi bang giao Đại Việt - Champa dần trở nên căng thẳng từ cuối thập niên 1300 - và ngay trong năm Bính Ngọ 1366, vua Champa Chế Bồng Nga đã đem quân vượt qua châu Thuận để tấn công Đại Việt. Đến năm Bính Ngọ 1426 niên hiệu Thiên Khánh thứ 1 đời vua Trần Cảo, địa giới đất Quảng lúc này đã được mở rộng về phía nam từ một phần tư thế kỷ trước, đến tận Quảng Ngãi ngày nay. Năm Nhâm Ngọ 1402, sau cuộc nam chinh của Thái thượng hoàng Hồ Quý Ly, vua Champa Jaya Shimhavarman/Ba Đích Lại dâng đất Chiêm Động và Cổ Lũy cho Đại Ngu (quốc hiệu Đại Việt thời nhà Hồ) và được nhà Hồ tiếp quản đổi thành lộ Thăng Hoa với bốn châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa. Thời điểm Bính Ngọ 1426, đất Quảng cùng với cả nước vẫn đang còn bị nhà Minh xâm lược (từ năm Đinh Hợi 1407). Tuy nhiên cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo đang giành được nhiều thắng lợi và chỉ trong vòng mười tháng kể từ khi chuyển hướng chiến lược vào phương Nam, cả một vùng đất rộng lớn từ Thanh Hóa đến Thuận Hóa cơ bản đã thuộc quyền kiểm soát của nghĩa quân Lam Sơn, góp phần giành thế chủ động trên khắp chiến trường, Trần Cảo cũng được nghĩa quân đưa lên ngôi vua nhằm tạo thế đấu tranh chính trị với quân Minh xâm lược, và hai năm sau - năm Mậu Thân 1428 - cả nước đã vang lên bài cáo Bình Ngô hùng hồn khẳng định: Xã tắc dĩ chi điện an/ Sơn xuyên dĩ chi cải quan (Xã tắc từ đây vững bền/ Giang sơn từ đây đổi mới. Nguyễn Trãi bản dịch của Ngô Tất Tố).
Đến năm Bính Ngọ 1486 niên hiệu Hồng Đức thứ 17 đời vua Lê Thánh Tông là tròn 15 năm thành lập đạo thừa tuyên Quảng Nam (1471-1486) đơn vị hành chính cấp tỉnh thứ 13 của đất nước, kéo dài từ bờ nam sông Thu Bồn đến núi Đá Bia/Thạch Bi sơn. Thời điểm này, vùng đất từ phía nam núi Hải Vân đến bờ bắc sông Thu Bồn vẫn thuộc huyện Điện Bàn, phủ Triệu Phong, đạo thừa tuyên Thuận Hóa (đến năm 1490, vua Lê Thánh Tông đổi đạo thừa tuyên thành xứ - đạo thừa tuyên Quảng Nam thành xứ Quảng Nam, đạo thừa tuyên Thuận Hóa thành xứ Thuận Hóa). Năm Bính Ngọ 1546 niên hiệu Nguyên Hòa thứ 14 đời vua Lê Trang Tông, xứ Quảng Nam chính thức được Lê Trang Tông giao cho Trấn Quận công Bùi Tá Hán cai quản. Có thể nói Bùi Tá Hán là vị trấn thủ tiên khởi của xứ Quảng Nam từ năm Bính Ngọ 1546 cho đến khi ông qua đời vào năm Mậu Thìn 1568, dinh trấn thủ đương thời đóng tại Chánh Lộ bên hữu ngạn sông Trà Khúc Quảng Ngãi. Để tri ân công đức của Bùi Tá Hán - người được xem là thành hoàng của đất phương Nam, người Quảng đặt tên Bùi Tá Hán cho hai đường phố Đà Nẵng - một ở phường Ngũ Hành Sơn, một ở phường Quảng Phú. Bùi Tá Hán cũng là một nhân vật đầy ấn tượng trong tiểu thuyết Minh sư - chuyện Nguyễn Hoàng mở cõi của nhà văn Thái Bá Lợi - tác phẩm từng đoạt Giải thưởng Văn học Đông Nam Á năm 2013.

Tấm bản đồ Đông Nam Á do Jodocus Hondius vẽ năm Bính Ngọ 1606 góp phần khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa. Nguồn: NGUYỄN XUÂN NGHĨA
Năm Bính Ngọ 1606 niên hiệu Hoằng Định thứ 7 triều vua Lê Kính Tông có một sự kiện liên quan đến chủ quyền biển đảo.
Đây là năm mà tấm bản đồ Đông Nam Á có tên bằng tiếng Latinh là Insulae Indiae Orientalis Praecipuae được xuất bản lần đầu ở Hà Lan, do nhà địa dư học Jodocus Hondius (1563-1612) vẽ trên cơ sở tiếp nhận và cập nhật nhiều dữ kiện của nhà địa dư học Bồ Đào Nha là Bartolomeu Lasso vào đầu thế kỷ XVI, trong đó quần đảo Hoàng Sa (nay là đặc khu Hoàng Sa, thành phố Đà Nẵng) được gọi là Paracel và được ghi thuộc Champa tại vị trí trong đất liền giữa Cinoa/Thuận Hóa và Champa là Costa de Paracel/Bờ biển Pracel. Như vậy từ năm con ngựa Bính Ngọ 1606, người Đà Nẵng đã có thêm một bằng chứng lịch sử về chủ quyền Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa - tấm bản đồ cổ rất có ý nghĩa này sau đó được tái bản trong cuốn Atlas Mercator Hondius phát hành năm Quý Sửu 1613. Đến thời điểm này, đất Quảng đã trải qua hai năm về chung một nhà giữa hai vùng đất phía bờ bắc và phía bờ nam sông Thu Bồn: Năm Giáp Thìn 1604, sau khi khẳng định núi Hải Vân “là chỗ yết hầu của miền Thuận-Quảng”, Nguyễn Hoàng đã nâng cấp huyện Điện Bàn đang trực thuộc phủ Triệu Phong xứ Thuận Hóa thành phủ Điện Bàn - trong đó có vùng đất từ phía nam núi Hải Vân đến bờ bắc sông Thu Bồn - và chuyển về trực thuộc dinh Quảng Nam do Thế tử Nguyễn Phước Nguyên làm Trấn thủ. Năm Bính Ngọ 1666 niên hiệu Cảnh Trị thứ 4 đời vua Lê Huyền Tông là thời điểm Đàng Trong do một người cháu ngoại của đất Quảng là Hiền Vương Nguyễn Phước Tần lãnh đạo - Hiền Vương là con trai của thế tử Nguyễn Phước Lan và cô gái hái dâu bên sông Thu Bồn là Đoàn Thị Ngọc. Để vinh danh vị chúa Nguyễn quê ngoại Quảng Nam từng lập chiến công trên Biển Đông khi đánh tan đoàn thuyền Hà Lan do thuyền trưởng Vos do Pieter Baek chỉ huy đang xâm phạm vùng biển cửa Eo/ cửa Thuận An, người Quảng đặt tên Nguyễn Phước Tần cho hai đường phố Đà Nẵng - một ở phường Cẩm Lệ, một ở phường Hội An.
Năm Bính Ngọ 1726 niên hiệu Bảo Thái thứ 7 đời vua Lê Dụ Tông là năm sinh của nhà bác học Lê Quý Đôn - tác giả Phủ biên tạp lục gồm 6 quyển, là tác phẩm khảo cứu rất có giá trị về Đàng Trong, nhất là xứ Thuận Quảng vào thế kỷ XVIII, đồng thời là tài liệu cổ mô tả kỹ càng nhất về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Người Quảng đã vinh danh Lê Quý Đôn qua việc đặt tên ông cho bốn đường phố Đà Nẵng - một ở phường Hải Châu, một ở phường Quảng Phú, một ở phường Điện Bàn, một ở phường Hội An; và cho năm trường học tại Đà Nẵng: Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn ở phường An Hải, Trường THPT Lê Quý Đôn ở phường Tam Kỳ, Trường THCS Lê Quý Đôn ở xã Thăng Bình, Trường THCS Lê Quý Đôn ở xã Vu Gia và Trường Tiểu học Lê Quý Đôn ở phường Hải Châu.
Năm Bính Ngọ 1786 niên hiệu Cảnh Hưng thứ 47 đời vua Lê Hiển Tông, đất Quảng tiếp tục thuộc quyền quản lý của nhà Tây Sơn. Tháng 7 năm Bính Ngọ, vua Lê Hiển Tông mất, cháu nội là Lê Duy Kỳ được Nguyễn Huệ đưa lên nối ngôi với niên hiệu Chiêu Thống nguyên niên. Sau đó Nguyễn Nhạc xưng là Trung ương Hoàng đế và đóng đô ở Quy Nhơn, phong Nguyễn Lữ làm Đông Định Vương trấn đất Gia Định, phong Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương trấn đất Thuận Hóa, đất Quảng vẫn tiếp tục thuộc quyền quản lý của nhà Tây Sơn. Tháng 7 năm Bính Ngọ 1786, Tri phủ Điện Bàn của triều Tây Sơn Trương Công Hy quê làng Thanh Quýt (nay thuộc phường An Thắng, thành phố Đà Nẵng) cùng Nguyễn Huệ ra Thăng Long lần thứ nhất đánh tan quân Trịnh; đến tháng 10 năm Bính Ngọ 1786 Trương Công Hy được nhà Tây Sơn bổ làm Khâm sai Quảng Nam trấn. Người Quảng đã vinh danh Trương Công Hy qua việc đặt tên ông cho hai đường phố Đà Nẵng - một ở phường Ngũ Hành Sơn, một ở phường Tam Kỳ.
Năm Bính Ngọ 1846 niên hiệu Thiệu Trị thứ 6, triều đình Huế tiếp tục tăng cường phòng thủ Đà Nẵng, bổ nhiệm Vệ úy vệ Tả dinh Hổ oai Nguyễn Đức Chung giữ chức Lãnh binh tỉnh Quảng Nam, trú phòng các đài/thành Điện Hải, An Hải, Định Hải và Phòng Hải, kiêm quản công việc cửa biển Đà Nẵng. Khoa thi Hương năm này, Trần Hàm Chương làng Đông Phước (nay thuộc xã Nam Phước), Võ Đăng Xuân làng Phô Thị (nay thuộc xã Thăng Điền), Đỗ Như Chương/Đỗ Thúc Tịnh làng La Châu (nay thuộc xã Hoà Tiến), Phan Doãn Đức làng Bảo An (nay thuộc xã Gò Nổi), Phạm Nhữ Khuê làng Hương Quế (nay thuộc xã Xuân Phú), Phạm Thanh Nhã làng Mã Châu (nay thuộc xã Nam Phước), Phan Văn Duật làng Phước Sơn (nay thuộc xã Quế Sơn Trung), Nguyễn Công Tuyển/Nguyễn Tạo làng Hà Lam (nay thuộc xã Thăng Bình), Tưởng Tế Mỹ làng Đông Minh (nay thuộc phường Điện Bàn Đông), và Nguyễn Tấn Cung làng Thanh Châu (nay thuộc xã Hòa Vang) đỗ cử nhân tại trường thi hương Thừa Thiên.
Năm Bính Ngọ 1906 niên hiệu Thành Thái thứ 18, Lê Thích làng Đông Bàn (nay thuộc xã Gò Nổi), Mai Dị làng Nông Sơn (nay thuộc xã Điện Bàn Tây), Phan Dĩnh/Phan Vĩnh làng Phước Sơn (nay thuộc xã Quế Sơn Trung), Nguyễn Bá Trác làng Bảo An (nay thuộc xã Gò Nổi), Hoàng Dương làng Xuân Đài (nay thuộc xã Gò Nổi, cháu gọi Hoàng Diệu là bác ruột), Cao Tường làng Phi Phú (nay thuộc xã Gò Nổi)… đỗ cử nhân tại trường thi hương Thừa Thiên. Năm Bính Ngọ 1906 cũng là năm phong trào Duy Tân với chủ trương Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh do“bộ ba Quảng Nam” Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng khởi xướng đã nở rộ trên khắp đất Quảng và không chỉ trên đất Quảng. Trong ba lĩnh vực dân trí, dân khí và dân sinh, phong trào Duy Tân coi trọng nhất là lĩnh vực dân trí - Phan Châu Trinh từng nói: “Chi bằng học!”. Vì thế theo Trung Kỳ dân biến tụng oan thỉ mạt ký do chính Phan Châu Trinh chấp bút, “trong năm 1906, 40 trường dân lập kiểu mới đã được mở ra ở Quảng Nam”
- như các nghĩa thục Diên Phong, Cẩm Toại, Phú Lâm - trường tân học đầu tiên của cả nước có lớp nữ sinh riêng và nữ giáo viên… Đương nhiên, với “bộ ba Quảng Nam”, dân trí, dân khí và dân sinh là ba cạnh của một tam giác đều, cho nên không phải ngẫu nhiên nhiều nghĩa thục đã đồng hành hợp thương, chẳng hạn hợp thương Diên Phong phát triển đã tạo điều kiện để nghĩa thục Diên Phong hoạt động hiệu quả…
Năm Bính Ngọ 1906 cũng là năm đình làng Bồ Bản (nay thuộc xã Hòa Vang) được trùng tu lần thứ nhất, cũng là năm chính quyền thuộc địa ban hành Nghị định số 89 cho phép khai thác dịch vụ vận tải đường sắt tuyến Đà Nẵng - Huế (dịch vụ vận tải của tuyến chính thức đi vào hoạt động từ ngày 15 tháng 12 dương lịch) - mức giá vé được áp dụng tương đương mức giá vé năm 1904 của tuyến đường sắt Sài Gòn - Nha Trang.
Năm Bính Ngọ 1966, Đà Nẵng vẫn thuộc quyền quản lý của chính quyền Sài Gòn, trong đó quần đảo Hoàng Sa là xã đảo Định Hải trực thuộc quận Hòa Vang. Đây cũng là năm diễn ra sự kiện 76 ngày đêm nhân dân Đà Nẵng làm chủ thành phố - sự kiện chính trị từng được Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lê Duẩn đánh giá cao: “Cuộc nổi dậy của đồng bào Đà Nẵng chống Thiệu -Kỳ từ tháng 3 đến tháng 5/1966 tuy không đem lại thắng lợi, nhưng đã cho ta một bài học bổ ích về lợi dụng mâu thuẫn nội bộ địch. Lúc đầu cuộc nổi dậy đó không phải do ta chủ động, mà nhân cơ hội nội bộ địch chống đối lẫn nhau, ta đã biết tập hợp, phát động quần chúng đứng lên làm chủ thành phố… Bài học về cuộc nổi dậy của đồng bào Đà Nẵng rất phong phú” (Lê Duẩn, Thư vào Nam, NXB Sự thật, Hà Nội, 1985). Nhằm lưu dấu sự kiện lịch sử này, một bia di tích đã được dựng lên trên địa bàn phường Thanh Khê từ năm 2016 với nội dung: “Nơi đây, nguyên là bến xe chợ Cồn, trong sự kiện 76 ngày đêm nhân dân Đà Nẵng xuống đường làm chủ thành phố 11/3/1966
- 25/5/1966, dưới sự chỉ đạo bí mật của Thành ủy Đà Nẵng, hàng ngàn người dân Đà Nẵng đã tổ chức mít- tinh, xuống đường đấu tranh chống đế quốc Mỹ và chế độ Thiệu - Kỳ đòi dân sinh, dân chủ. Sự kiện lịch sử này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong phong trào đô thị tại miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ”. Năm Bính Ngọ 1966 cũng là thời điểm thành lập Thủy cục Đà Nẵng theo Sắc lệnh số 49-SL/CC ngày 22/4/1966 của Phủ Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương Việt Nam Cộng hòa: “Nay thiết lập Thủy cục Đà Nẵng nhằm mục đích sản xuất và cung cấp nước uống trong lành và đầy đủ cho thị xã Đà Nẵng và các vùng phụ cận. Thủy cục Đà Nẵng là một cơ quan có tư cách pháp nhân và quyền tự trị về hành chánh và tài chánh” (Tài liệu lưu tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II, Thành phố Hồ Chí Minh).
* *
*
Qua năm Bính Ngọ 2026, sau Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, cùng với cả nước, thành phố Đà Nẵng chính thức bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Với không gian phát triển rộng mở từ nam đèo Hải Vân đến tận Dốc Sỏi, từ đặc khu Hoàng Sa trên Biển Đông đến biên giới Việt-Lào, hy vọng con- ngựa-Đà-Nẵng sẽ tiếp tục sải bước vươn xa…
B.V.T