Đã thành cổ tích chưa?...

27.01.2026
Tiêu Đình

Đã thành cổ tích chưa?...

Hát hò khoan - một sinh hoạt văn hóa dân gian đặc sắc

Hát hò khoan là một trong những nét đẹp văn hóa dân gian của dân tộc. Dựa vào tính chất giao lưu, đối đáp qua lại giữa người hát với nhau, người ta hay nói đầy đủ hơn là “hò khoan đối đáp”.

Cùng họ hàng văn học dân gian nhưng hò khoan đối đáp không độc xướng, độc thoại như hát ru hay hò vè. Muốn hát ít ra phải có hai người, hoặc vài ba nhóm người với nội dung đối đáp liên quan. Loại hình nghệ thuật dân gian này phát sinh từ sinh hoạt giã vôi, trộn vôi để lấy hồ xây nhà. Việc trộn hồ vôi thường tranh thủ thời gian nông nhàn vào ban đêm, nhất là những đêm trăng thanh gió mát. Loại hình lao động này không phải trả tiền công mà chỉ là sự trợ giúp qua lại lẫn nhau giữa những người thân cùng làng xóm. Người này làm nhà người kia giúp, cứ thế xoay vòng. Từ đó, chủ nhà thường tạo không khí lao động vui vẻ để khách bớt cảm giác mệt mỏi. Có điều kiện, chủ có thể rước các chuyên gia hát hò khoan từ vùng miền khác đến góp vui. Xong việc, thường chỉ ngồi ăn với nhau chén cháo gà rồi vui vẻ trở về. Do vậy, các cụ già vùng tôi quen gọi đó là hát “hò vôi”.

Từ đặc trưng ứng khẩu tại chỗ, hát hò khoan đòi hỏi người hát phải thông minh, nhạy bén và lợi khẩu. Trong nhóm (thường thì trai gái phân thành nhóm riêng) có thể chọn người thay mặt đối đáp, người còn lại chỉ tham gia góp ý, hoặc cử vài ba người thay nhau hát đáp. Đối đáp không xứng, hoặc “á khẩu’’ chịu thua thì cũng chẳng phải mất đồng tiền hay con gà, con heo nào. Cùng lắm chỉ là một chút đỏ mặt xấu hổ và hập hực trong bụng!. Từ thực tế này, về sau hát hò khoan có thêm những quân sư mách nước nổi tiếng theo từng vùng. Cứ hát thua là đến thầy cầu cứu như “đau chân phải há miệng” vậy đó. Bài bản hơn và kiến thức bác học được lồng vào hò dân gian cũng từ đó: Tiếng đồn chàng học Quốc ngữ đà thông/ Thiếp hỏi chàng trên hoàn cầu có mấy nước, dân đông mấy người?

Một thời, những nhân vật hò khoan như Trùm Nhâm, Trần Hàn ở Quế Sơn; Tú Quỳ ở Đại Lộc; Giáo Lương ở Duy Xuyên; ông Dũng ở Bà Rén… từng là trò vừa là thầy hò khoan nổi tiếng khắp vùng. Nhiều chuyện truyền miệng về các nhân vật này hiện vẫn còn âm ỉ tồn tại một cách khá hấp dẫn. Ví như chuyện kể sau đây về ông Dũng, vốn là một thợ hàn thường lang thang khắp nơi để nhận mối hàn nồi. Một hôm ông bị cô gái nhà giàu hát ghẹo (hẳn là ông khá bảnh trai?): - Nhón chưn kêu bớ chú thợ hàn/ Nồi em nứt nẻ có rịt ràng được không? Ông đáp ngay: -Này em ơi, đã nứt thì nứt cho luôn thể/ Có bể thì bể cho tan hoang/ Đóng nêm vô giữa chớ rịt ràng làm chi. Hẳn cô gái chỉ biết đỏ mặt quay vào.

Một lần khác đến chơi nhà ông Chánh Trí, ông Chánh nghe tiếng tay Dũng này hát kiến tại rất giỏi nên chỉ cây gậy bằng gỗ làng can đang cầm trên tay, ông nói: “Mày hát thử đi, tao nghe được thì có thưởng”. Ông Dũng không cần suy nghĩ, hát luôn: Sớm mai xách rựa vô rừng/ Ông hương, ông xã biểu đừng có đi. Ông Chánh giật mình, đã ông hương ông xã biểu đừng đi thì đúng là “làng can’’ rồi. Thưởng bao nhiêu mới xứng tài ứng khẩu thông minh này đây?

Trường hợp sau đây không những “lợi khẩu’’ mà còn có vốn kiến thức về ngôn ngữ và xã hội thật đáng nể:

Hát: Năm con chim xanh đậu trên cành cây ngủ/ Anh ngủ, em ngủ, cha ngủ, con ngủ, tứ ngũ nhì chi/ Anh mà đối đặng ta thưởng bát mỳ ăn khuya.

Đáp: Tám con tù huýt nằm trong miệng bát/ Cha bát, mẹ bát, vợ bát, chồng bát, tứ bát tam nhì/ Ta đã đối được, thưởng bát mỳ nào đưa đây.

Quá giỏi, ngôn ngữ ta, Tàu, Tây được vận dụng một cách vừa dân dã, vừa bác học.

Hát đố, thách đối với nhau càng về sau càng phổ biến và trở nên bài bản hơn. Trai gái đối đáp vừa để lại dấu ấn của tài năng vừa trải lòng cảm mến nhau như một lời tỏ tình rất khéo. Từ đó, nhiều cặp đôi đã trở thành vợ chồng. Không những chỉ những lời ngọt ngào êm ái mà đôi khi chọc giận nhau vẫn dẫn đến yêu nhau như cặp vợ chồng dưới đây:

Nàng hát: Thân em như mít chín trên khơi/ Hàng trăm quân tử đến ngửi hơi rồi về.

Chàng đáp: Thân em như mít ướt chín trên khơi/ Tụt cùi rớt xuống chó xơi một bầy.

Cùng với sự xuất hiện của những “ông thầy đỡ đầu” rộng kiến thức, về sau hát hò khoan thường mở rộng thêm diện giao lưu vùng miền. Từ vùng núi xuống biển hát, từ vùng biển lên núi hát, huyện này sang huyện kia hát… trở thành bình thường. Mỗi lần có nhóm lạ hẹn nhau hát, khách xem kéo đến rất đông nên phải lấy tre làm róng ngăn tách người hát và người xem. Mà đã là dân có “máu hò khoan” thì đi hát đâu, ở lại mấy ngày đều không thành vấn đề. Người dân vùng núi Dùi Chiêng (xã Quế Phước, huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam; nay là xã Quế Phước, TP. Đà Nẵng)) đến nay vẫn còn thuộc làu câu hát độc đáo của Tú Quỳ ở tuốt bên huyện Đại Lộc (cũ) sang giao lưu: Ngày mai tui đáo dốc Bình Yên/ Các cô ở lại có chiêng không dùi/ Ra về lòng những bùi ngùi/ Các cô ở lại, tui có dùi mà không chiêng.

Tâm lý con người thường khi bị đẩy vào thế chân tường họ cũng không dễ chịu thua mà phải gỡ bí bằng mọi cách. Vì vậy, trong hát hò khoan vui và nhớ dai nhất là trường hợp vùng vẫy để thoát hiểm theo kiểu liều mạng. Qua đó, cách nói lái, châm chọc, hát nghịch được khai thác triệt để. Hãy nghe câu hát châm chọc cô gái tên Kiều bằng cách nói lái: Giương cung ta bắn xỉu con cò (xỏ con Kiều)/ Còn đâu lên xuống mà mò cá tôm. Anh chàng này bị hư một mắt, tròng trắng nhiều hơn tròng đen, nên liền bị cô gái khai thác để trả đũa: Hữu nhãn vô châu, chàng thấy đâu chàng bắn/ Ngó lên trời trợn trắng cặp mắt vôi.

Nhưng vẫn chưa “độc” bằng kêu cả họ tên ra mà “chửi’’ như trường hợp sau đây: Trần ai gặp lúc cơ hàn/ Rổ đan mặt mốt xuống làng mót khoai. Cái tên  Trần  Hàn  được  nhắc  khéo ở chữ đầu và cuối câu thứ nhất. Câu sau nói lái chữ “mặt mốt” để chỉ đích danh người “một mắt”. Về nhân vật Trần Hàn, con ông Trần Liệu ở làng Xuân Quê (xã Quế Long, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam; nay thuộc xã Quế Sơn, TP. Đà Nẵng) còn khá nhiều chuyện vui và câu hát hay liên quan. Có lẽ do ông nổi tiếng tài giỏi, từng đánh gục nhiều đối phương nên bị người ta tập trung quật lại để trả thù. Đến nước cả cha con ông đều bị bêu tên “chửi khéo’’ qua việc “hàn quần’’ thì không còn gì để nói: Quần em rách dọc rách ngang/ Thầy liệu thầy hàn em trả công cho.

Màn hát khích tướng theo kiểu chơi chữ dưới đây giữa ông Chín Trâu với lão Ba Bị thường chống cây gậy tre lè kè đi ăn xin cũng khá hấp dẫn.

Ba Bị xướng: Một bầy ăn đám cỏ non/ Đếm đi đếm lại thiếu một con đầy mười/ Loài vật có khác loài người/ Khi ăn ngó xuống, khi cười ngất lên.

Chín Trâu đáp: Đi đâu bị gậy lè kè/ Như là cái bọn gậy tre dạo làng/ Chìa tay lần mở mấy mang/ Đi lại ba cái chỉ toàn đồ cho.

Nhưng nếu hò khoan đối đáp chỉ giỏi hát hoan nghịch, ào ào tấn công để sau đó đối thủ đỏ mặt, bỏ cuộc thì nét văn hóa dân gian sẽ mỏng đi, không đáng để người đời nhớ lâu và nói đến nhiều. Có lẽ nội dung trữ tình mang tính chất giao duyên giữa trai gái mới là vẻ đẹp độc đáo của hò khoan đối đáp... Thử tưởng tượng giữa trăng thanh gió mát thơ mộng mà chàng trai cất lên lời hát tình cảm thế này thì cô gái cầm lòng sao nổi: Đêm khuya tuyết điểm trăng tròn/ Sương sa lợt đợt nước non lạnh lùng/ Bốn bề gió thổi cây rung/ Chim kêu dế gáy tứ tung bên đường/ Cảnh cha già ai thấy không thương/ Xin để chàng ghé vai vô cõng ổng, thiếp lấy áo che sương cho ổng về… (Đi hát cô gái có dẫn theo người cha).

Xét về ngôn ngữ, trong hò khoan đối đáp, ngôn ngữ bình dân được thể hiện khá thuần chất. Từ cách nghĩ đến cách thể hiện đều khá giản dị, cụ thể bằng sự ví von gợi tả. Qua đó, như hát ru, thể thơ lục bát được dùng khá phổ biến. Để phù hợp với tính chất cao thấp, lắt léo của điệu hò, lục bát biến thể được khai thác khá linh hoạt mà không bị mất chất: - Bánh không chưn sao gọi bánh bò/ Anh mà đối đặng em cho ngồi gần (xướng). - Dĩa bánh đầy sao gọi là bánh ít/ Anh đối đặng rồi, em xít lại gần đây (họa).

Còn đây là trường hợp một cô gái có ý khoe giàu: Nhà rường đóng đố, cửa sổ bàng khoa/ Ngoài trời đẳng vật thăng hoa đầy vườn/ Trước sân có đám hành hương/ Trong nhà năm bảy cái rương đựng đồ/ Áo quần vải nhiễu hàng sô/ Ruộng bảy tám mẫu lúa chín khô đầy đồng/ Đến mùa ông chủ hồi công/ Gạo ngon giã trắng nấu nồi đồng vỏ cua/ Mâm thau bát sứ, đũa ngự bịt vàng/ Cảnh bên thiếp giàu sang cỡ nớ, hỏi bên chàng cỡ mô?

Và đây là “cỡ giàu” mà anh chàng đáp lại: Thiếp hỏi nên chàng phải thưa/ Nhà rường nằm ngó giữa trưa thấy trời/ Ngoài vườn chẳng thiếu đồ chơi/ Chìm bìm, cỏ cú mọc rơi đầy vườn/ Trước sân một bụi hành hương/ Trong nhà năm bảy cái giường chiếu manh/ Ngoài hiên có cuốc có cày/ Ruộng năm bảy mẫu lúa chín ngay ngoài đồng/ Đến mùa ông chủ hồi công/ Bữa mô bữa nấy vác vằng không mà về/ Nồi đất nấu sắn, bữa khét bữa khê/ Đổ ra dĩa muối chấm hả hê ngon lành/ Bữa ăn năm bảy chén sành/ Cái sứt cái mẻ cái lành răng cưa/ Mâm nan đứt lạt bùng thùa/ Đũa tre đũa sặt chẳng mua chi tốn tiền/ Nhón chưn kêu bớ nữ hiền/ Cảnh bên chàng giàu sang cỡ nớ, thiếp kết nguyền được không?

Đọc bài hát đối, rất dễ nhận ra ngôn ngữ giàu hình tượng của người bình dân. Cách nói ví von cụ thể, thậm xưng nhưng không phải hoa mỹ đãi bôi, biết dựa theo “sự giàu” của nàng để làm nền tô đậm cho “cái giàu kỳ khôi” của anh chàng nhà nghèo. Thể thơ lục bát dẫu biến thể vẫn không đánh mất nét thuần Việt.

Đã thành cổ tích chưa? Hay hát hò khoan vẫn tồn tại ấm nóng đâu đây? Liệu mấy ai còn nhớ hò khoan đối đáp khi mà nhạc nhẹ, nhạc mạnh máu lửa trên Tiktok, Youtube… ngày càng chi phối đời sống con người? Qua những trang sách văn học dân gian vùng miền, ít ra vẫn thấy hát ru, hò vè… có chỗ đứng nhất định bên cạnh ca dao, tục ngữ, thành ngữ… Còn hò khoan đối đáp, ngoài một ít bài bản mang tính bác học ổn định thì từng vùng miền vẫn còn vô số những câu hát truyền miệng cần “đãi cát tìm vàng”...

T

Bài viết khác cùng số

RêuGóc vườn gọi xuânNàng, tôi và Vic...Rubic TếtMưa xuân trên đỉnh bình yênMùa xuân phía trước…Nhịp chiêng xuânTrước thềm năm mớiXuân ở lại cùng ngườiTiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt NamKý ức một người lái đòNgọt ngào dư vị tuổi thơChuyện cây mai làng YênXóm cũChạm nắngLập xuânChờ mùa đông đi quaXuân trôiLãng đãng xuânVá xuânGiấc mơ xuânSoiHôn cuộc đời xanh biếc trái tim vuiMùa xuân đến muộnCây tía tô mùa xuânThăm vườn cà chua chínHoài niệm gió bấcKhi hoa vườn nhà nở sớmGởi tuổi mình xa lắm đã từ lâuXuân sớmMàu cúc nhắc sum vầyGiấc mơ dưới hiên nhà cũMùa xuân ẩn dạngQuê xưa gồng gánh hoa vàngNhư vừa sang xuânVề thôi!Mùng 3 Tết và chaPhía xuân mong manhHỏi quêXuân trởTiếng xuânKhi người thinh lặngĐịnh hình một tháng ChạpCon mãi về nơi ấyTrên đỉnh Tùng LaDự cảm GiêngNguyện cầu trước mùa xuânMùa xuân rất gầnXuân trên miền caoMùa gọi yêu thươngBếp xuânMùa Tết trong timĐà NẵngVẫn tươi rói khúc xuânMai đỏ, mai vàngMàu phốHọa tiết “ngựa rồng” trên bình phong đình làng xứ QuảngChẳng biết trong lòng có những ai...Lạc vào Xứ của HiềnCông chúng văn nghệ qua góc nhìn của Nguyễn Văn XuânSứ thần đất Quảng khai xuân nơi đất kháchVề bài bản hô hát, thể thơ và cách ứng tác của Bài chòi xứ QuảngCon ngựa trong văn hóa ViệtTết thời số hóaĐã thành cổ tích chưa?...Về Thăng Bình nghe đối...Lịch sử nhân loại được chở trên lưng ngựaĐất Quảng với những năm Bính NgọLễ trao tặng Giải thưởng Văn học - Nghệ thuật thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2021 - 2025Lộc xuânGửi hoa thêu gấmGóc phố quenSắc TếtTình xuânGiữa sương maiPhố biển tôi yêuKhúc hát chiều xuânTuổi ngựa