Góc vườn gọi xuân

27.01.2026
Hồ Loan

Góc vườn gọi xuân

Minh họa NGUYỄN DŨNG

Bà Vuôi cố đứng thẳng người, nắm tay đập đập sau thắt lưng cho đỡ mỏi. Bà lấy tay áo quệt mồ hôi trên trán, đoạn nhìn lại thành quả của mình. Vuông vườn nhỏ được bà cải tạo thường xuyên nên cây cối xanh tươi, mướt mắt. Chiều chiều, người ta lại thấy một bà lão lưng khòm lúi húi trên con đường dẫn ra cánh đồng, lượm những cục phân bò cho vào chiếc bao lát miệng rộng, được nẹp bằng nan tre. Bà chỉ lượm phân khô, vừa nhẹ tay, vừa không dơ. Mỗi buổi sáng, bà lại cầm liềm đi hái lá, bất kể là thứ lá gì gặp trên đoạn mương cạnh nhà. Thường thì bà hái lá cộng sản, loại lá thân mềm, nhẹ, dễ vác về, lại mau phân hủy. Hai thứ ấy được bà ủ lại, chờ rục rồi đem rải lên mảnh đất nhỏ bên hông nhà. Mảnh đất ấy, bà luân phiên trồng đủ loại rau, chúng là nguồn sống chính của bà.

Bà sống một mình. Không chồng, không con, dĩ nhiên không cả cháu - người làng vẫn nghĩ vậy, bởi chỉ thấy mình bà lủi thủi vào ra. Thật ra, bà có con, có cả cháu, còn chồng thì… chưa ai từng thấy mặt. Con gái bà, cô Vẽ, thật xinh đẹp nhưng bất phước, mà mỗi lần nhắc đến con, bà lại kéo áo rơm rớm.

Bà ít khi tâm sự với ai. Thiệt ra bà chẳng có ai để tâm sự. Người trẻ bây chừ bận trăm công nghìn chuyện, họ làm văn phòng, làm công ty xí nghiệp, rảnh chút đã có cái điện  thoại  làm bạn với cả thế giới, ai hơi đâu đi bắt chuyện một bà già hàng xóm. Phải đâu như hồi xưa, sáng ra đã cười nói rổn rảng, khen lúa nhà ai tốt phân, nhắc ruộng ai vừa bị rầy trĩ, đốm lá hoành hành… nửa buổi chia nhau củ khoai, ca nước chè. Đời nghèo mà tiếng cười râm ran.

Bà lại mân mê tay cuốc, cái cán tra bằng một khúc tre đực với nhiều vết gọt. Nghĩ đến Vẽ, bà không tài nào vui được. Vậy mà cha mẹ cố tình đặt bà tên Vuôi.

Vẽ, con gái bà, nói đẹp nhất làng thì không dám, chứ cũng hàng sắc nước hương trời. Mà phải chi nó đừng đẹp quá, là vì bà nghe người ta nói, hồng nhan bạc phận. Con gái bà phận bạc, chắc tại cái “hồng nhan” thôi. Từ cuộc đời mẹ mình, đến mình, rồi con mình, bà Vuôi chợt nhận ra, đẹp cũng là cái tội. Vậy mà con bé hàng xóm hôm kia nói oang oang trên điện thoại với ai đó, “mày nên nhớ, đẹp cũng là một loại tài sản!”. Bà ngẩn ngơ, không biết chúng định sử dụng “khối tài sản” ấy như thế nào?

Vẽ vừa chớm lớn, trai làng đã bu quanh. Riêng việc nấu nước chè thôi cũng tốn khối củi. Chúng đứng ngoài vườn thì cây trụi lá, vào trong nhà thì khăn bàn rách dọc rách ngang theo mấy cạnh. Rồi một ngày, bụng Vẽ lù lù. Bà tái mặt gặng hỏi, con bé khóc mãi mới chịu khai là của thằng nọ. Trời đất ơi! Bao nhiêu đứa tử tế không ưng, lại đi ưng cái thằng cờ bạc. Bà tức con cành hông, ước chi đẻ cái trứng luộc ăn quách cho rồi. Nhưng nhìn con xanh xao, bà lại dằn lòng. Sự hào phóng của một con bạc dễ khiến đứa con gái chưa hiểu chuyện như con bà sa ngã.

Nhìn con thoi thóp vật vã sau mấy trận đau thấu trời mà đứa bé vẫn không chịu chui ra, ruột bà rối như tơ. Có người mách nước, bà liền mua bánh trái hoa quả ra cái miếu nhỏ sau bệnh viện lầm rầm khấn vái. Cuối cùng, Vẽ sinh được một bé trai, nặng ba ký tư, vuông vức. Bà mừng quá, đặt tên là Mừng. Nhưng niềm vui chẳng kéo dài. Vẽ bỏ đi, bỏ lại bà với đứa cháu đỏ hỏn.

Thằng Mừng có gene bên nội mạnh quá, bà uốn nắn kiểu chi cũng không ra hình thù mong muốn. Hàng xóm dần dần chẳng còn thiết tha. Thằng bé tập tành đủ thứ hư hỏng. Đỉnh điểm là lần nó bị công an bắt vì tham gia nhóm trộm cắp, may chưa đủ tuổi nên được tha.

Chiều ấy, trời buồn ảm đạm, từng mảng mây xám xịt cả bầu trời, vài cơn gió chướng khiến cành cây kêu răng rắc, lá rải xuống mảnh sân nhỏ ồ ạt. Lại thêm vài trận gió, bên kia góc trời, những mảng vàng chói lói ẩn trong mây đen âm âm. Bà Vuôi ngồi một mình, trầm ngâm, bà đang nghĩ đến những cơn mưa núi, những vụ sạt lở. Cha thằng Mừng mãi còn lẩn quất nơi núi rừng thâm u, không biết đến bao giờ mới ngộ ra giá trị của tự do và sự lương thiện. Thằng Mừng thành đứa trẻ côi cút, khó bảo.

Mâm cơm chờ thằng Mừng nguội ngắt tự khi nào, tô canh bồ ngót xanh sậm, mớ tàu môn kho cá đồng đọng một lớp váng mỡ vàng sánh màu nghệ tươi. Thằng Mừng lao vào nhà không mở miệng chào bà lấy một tiếng. Bà không nói không rằng, bưng mâm cơm để xuống thềm hiên, réo đến hai ba lần thằng Mừng mới cau có đáp lại, bà ăn đi, kêu chi kêu miết! Bà kiên nhẫn gọi thêm lần nữa, không phải bà thiết tha chi, nhưng muốn hắn ăn cho xong còn dọn rửa, chứ cái kiểu ăn ba hồi ba chặp của hắn, chén bát lúc mô cũng đầy thau, bà mệt.

Thằng Mừng quạu quạu cái mặt ngồi xuống, có thứ đách chi ăn đâu mà kêu kêu suốt. Bà nổi đóa, trở cây đũa bếp định phang vào lưng thằng cháu mất dạy. Hắn đứng bật dậy đá tung mâm cơm, vừa lúc đó, một tiếng sấm rền vang trời, bà bất ngờ kêu lớn, đây ông, bớ ông! Ông đánh giùm tôi đi ông. Cái thứ mất dạy… Bà chưa kịp dứt lời, tiếng sét chát chúa dội ngay xuống góc vườn, xé toang cây thị làm hai, âm thanh vang dội muốn dở nóc nhà. Ánh sáng chói lói như quét vào gian nhà nhỏ. Thằng Mừng hoảng kinh rúc xuống gầm giường lạy dạ van xin.

Sau bữa đó, hai bà cháu tránh chạm mặt nhau. Nhìn gốc thị đầy những lá cành tơi tả, nửa thân sõng soài, nửa thân trơ ra, bà nghe như có luồng điện chạy dọc sống lưng. Không biết thằng Mừng nghĩ chi, phần bà, bà ân hận lắm, dù chi hắn cũng máu mủ ruột rà. Nhưng mỗi lần bà định nói chi đó, hắn lại lẩn tránh, mấy tháng sau hắn bỏ đi biệt tích.

Lâu rồi không còn ai hỏi về hắn nữa, cũng chẳng biết hắn sống chết ở đâu. Bà lủi thủi vào ra. Mùng năm, ngày Tết mấy lần nhang khói, cơm canh cúng kiếng một mình. Xóm làng thay đổi, đất đai bán tháo chia chác tùm lum, toàn người lạ tới ở. Họ cổng kín tường cao, muốn cho bó rau hay trái mướp cũng khó, phải vòng ngõ trước kêu cửa, chờ lách cách mấy lần khóa mới trao được đến tay. Mà hàng xóm cũng chẳng muốn nhận, họ ái ngại nhìn, nhét vào tay bà mớ tiền, nói cảm ơn. Một lần vô tình đi đổ rác, bà thấy trái mướp nằm chỏng chơ, chỗ cuống bị hai nhát dao chồng lên nhau khiến bà sững sờ. Chính bà gây nên vết cắt đó nên nhận ra ngay. Một thoáng hụt hẫng trong lòng.

Ngày cuối năm, nhà người ta con cháu tề tựu, ăn uống nói cười, lom khom với mớ chân hương cũ, di ảnh con gái nhìn bà cười buồn. Bà chẳng sắm sửa chi nhiều, đủ cúng cơm ba ngày xuân nhạt.

Vậy mà đùng một phát, thằng Mừng về, hắn đi cùng một đứa con gái. Nhìn cái cách chúng chăm sóc nhau đủ biết rõ một cặp. Bà bối rối vụng về, tay sửa cái gối cho ngay ngắn, tay vuốt miết miệng ly sợ dính bụi. Bà rót nước, lấy gói bánh trên bàn thờ xuống, hối hả lấy gạo với chiếc bội nhử gà, miệng tục tục không ngớt. Lũ gà ngác ngơ nhìn, thận trọng với bữa ăn ngoài kế hoạch. Thằng Mừng cản, ngoại vô ngồi chơi với tụi con chút, xíu con đi chừ. Bà lại loay hoay vần hũ thịt heo muối trong góc bếp, hũ thịt bà nấu hôm trước Tết, kể ra gần nửa tháng, bà sợ nó hư nên mới nấu lại hôm qua, nước mắm tự chiết của bà thơm ngát mùi cá và mặn.

Thằng Mừng đưa bạn gái ra vườn phụ bà hái rau. Vừa nhìn thấy vạt ngò hoa trắng xóa, những ô cải đã lên bông vàng một góc vườn, con bé rú lên thích thú, xách điện thoại chụp choẹt các kiểu. Tụi nó ghé về một chặp, ăn mấy miếng thịt heo cuốn rau cải rồi đi ngay. Con bé còn tấm tắc khen hũ củ kiệu dưa món của bà ngon nhức nhối, hẹn mai mốt về lại. Bà tủm tỉm cười, nghĩ đến cái ngày thằng Mừng dắt vợ con về, nhà bà Tết đến cũng lại rộn ràng như bao nhà khác thôi.

Bà vui từng ngày với lời hẹn đó, chờ không biết bao nhiêu lần cái “mai mốt”. Bà giữ thói quen làm thịt muối dưa hành, nem chua củ kiệu. Cuối năm thế nào cũng để lại vài con gà, tối ni nhốt đợi tới chiều muộn hôm sau. Thả ra cho ăn rồi lại nhốt. Ròng rã cũng cả mấy năm trời, không thấy thằng Mừng dắt ai về nữa.

Bà xòe đôi bàn tay đã nhăn nheo chai sần, không biết mình còn đủ sức cuốc đất được bao lâu. Mảnh vườn, căn nhà, rồi ai sẽ thay bà chăm sóc, phải chi thằng Mừng… Bà ngước nhìn ra góc vườn, gốc thị già bão quật, một cây con xanh mướt vừa kịp lớn ngang đỉnh đầu. Bà bần thần, không biết nên để hay chặt. Bà nhìn gốc mai già, những tầng lá xanh thẫm trên cao đang chờ hái, khắc khoải, cái màu xanh vừa bịn rịn lại vừa như đôn đốc đôi tay khẳng khiu già nua. Cũng cái gốc mai này, hàng chục cây roi đã quất vào mông thằng Mừng thuở nhỏ. 

*       *

 Tháng Chạp. Từng đợt gió quật xơ xác đám lá già cố chấp bám lấy thân cây, để lộ những thân gỗ trơ trọi chịu giá lạnh. Sau lớp vỏ xù xì ấy, những chồi non vẫn âm thầm được bao bọc, chở che, chờ một ngày nắng ấm để đâm chồi, nảy lộc. Như đám lá kia, chỉ mong xanh kiệt cùng rồi rơi ngay dưới gốc, để nuôi cây bền bỉ xanh tốt muôn đời.

Nhiều người ngỏ ý mua một phần đất, khuyên bà giữ đất giữ vườn cho ai, chi bằng bán lấy tiền gửi tiết kiệm mà an nhàn tuổi già. Bà chỉ cười, không nói. Thằng Mừng của bà đã mất mẹ, thiếu cha, nếu mất luôn quê quán thì lấy gì để trở về. Bà tin ông trời có mắt, rồi sẽ dẫn lối đưa đường cho đứa cháu tội nghiệp ấy. Mảnh vườn này, mai kia Mừng có về, bán bớt lấy vốn làm ăn cũng được, miễn sao bát nhang ông bà mỗi mùng năm, ngày Tết không quạnh quẽ khói hương. Muốn vậy, bà phải sống để chờ nó.

Nhiều lúc ốm đau một mình, bà muốn chết quách cho rồi, nhưng đâu có được, chết lúc này ai hương khói ông bà, ai chờ thằng Mừng, vậy là trong cơn đau bà cứ lầm rầm khấn nguyện. Mà lạ lắm, bà cứ khấn suông, thành tâm nguyện rồi trời Phật cũng độ, dìu bà hết cơn ốm này qua cơn lủi thủi khác.

Thoắt cái, chẳng biết đã bao nhiêu mùa xuân lặng lẽ trôi qua đời bà. Mỗi độ Tết về, xứ bà nhà nào cũng có một nhành mai trước ngõ. Sắc vàng rực rỡ ấy, những búp nụ xanh non, cả những chiếc lá mới lấp ló ánh tím đều khiến lòng bà chợt bâng khuâng. Cây mai già, có khi cũng chẳng trụ được bao lâu nữa, nó gần bằng tuổi bà rồi còn gì. May mà bên cạnh, bà đã kịp trồng thêm một cây mai con, da lông còn mướt, lặng lẽ lớn lên cùng năm tháng.

Bà lại ngấp nghé nhìn ra đường lớn, mấy chiếc ô tô chở từng lượt người về quê ăn Tết, không biết trong mớ người tấp nập ấy có thằng Mừng của bà không. Người muốn về nhất định sẽ về, bà lại tự nhủ.

Thấp thoáng một dáng người phong trần với áo mũ lụp xụp, tay xách thứ gì đó khá nặng đang dò đường. Ai đó chỉ về hướng nhà bà, người đàn ông lại rảo chân bước, tới ngay ngõ thì bần thần mất hồi lâu. Mấy con chó được dịp sủa inh ỏi, bà xuỵt chó rồi buông cuốc bước ra.

Thêm vài lần nhíu mày, giọng bà run run, phải, phải cha thằng Mừng không bây? Dạ, là con đây mẹ.

Người đàn ông cúi mặt, tay vò chặt quai xách, bối rối. Bà vịn tay vào một nhánh cây, nhìn thêm lần nữa, vào, vào nhà đi con!

Có lẽ đây là lần đầu tiên bà gọi tiếng “con” ngọt ngào thế với hắn. Bà cũng không biết có bao nhiêu câu đã đối thoại cùng hắn, chắc đếm được trên đầu ngón tay thôi. Bà hít thật sâu rồi thở nhẹ. Bà còn sống được bao lâu nữa đâu, giữ trong lòng chi mấy nỗi niềm xưa cũ chỉ thêm nhọc người.

Cha thằng Mừng tính qua thăm bà, xin thắp nhang cho vợ, rồi đi. Bà bần thần, nén từng lời, nếu đã trả hết nợ đời rồi thì hai cha con gọi nhau về tu chí làm ăn, vườn mẹ đó, mặc sức làm chi làm, mẹ già rồi còn sống được bao lâu nữa đâu. Sau này mẹ có chết đi, bây có lòng thì rót miếng nước, thắp cây nhang, rứa là an ủi hương linh người chín suối. Thằng rể quỳ dưới chân bà khóc ồng ộng. Hắn tưởng đời mình đã bỏ đi, không nghĩ đến cái ngày được trở về bên một mái nhà có mẹ.

Bằng một cách nào đó, cha con nó liên lạc được nhau, đừng nói bà vui thế nào. Thằng Mừng thay đổi hẳn, chẳng giống đứa cháu ất ơ ngày xưa nữa. Nó bảo nhờ cô gái đợt trước đưa về ấy, gia đình cô và những yêu thương vô điều kiện đã cảm hóa con thú hoang trong người nó. Thì ra, chỉ có yêu thương chân thành mới là thứ duy nhất lay động đất trời, cảm hóa lòng người và làm nên bao điều kỳ diệu.

Bà nhìn lên di ảnh con, chiếc ảnh thờ được thằng Mừng đem ra tiệm làm lại, nói bằng thứ công nghệ AI chi đó, bà chưa nghe lần nào, đẹp và lạ quá, đẹp như cô dâu. Vẽ của bà chưa một ngày làm cô dâu.

Thằng Mừng dắt bà ra vườn, biểu để hắn quay top top. Vẫn khu vườn mỗi ngày bà chăm sóc, những vạt rau, những gốc cây, nhưng qua ống kính điện thoại, mọi thứ lung linh lạ thường. Nhìn chiếc lưng lom khom của mình trong thước phim, bà chợt chạnh lòng. Thì bà vẫn biết mình già rồi, thời gian có chờ một ai, nhưng sao vẫn ngậm ngùi nhìn từng nếp gấp trên làn da khắc khổ.

Bà bắc chiếc ghế dựa ngồi ngay thềm hiên nhìn cha con thằng Mừng hì hụi gói bánh tét. Cái thứ bánh chỉ mỗi gạo nếp với đậu xanh, bọc ngoài bởi mớ lá chuối rồi cột chặt bằng mấy sợi lạt mềm, nấu nhừ cả ngày đêm. Xứ bà, cúng cơm ba ngày Tết nhất định phải có thứ bánh này, ăn kèm dưa hành củ kiệu...

Ngoài kia, vài vạt cải gieo sớm đã lên ngồng vàng một góc vườn, từng luống rau tươi xanh mơn mởn  reo đùa trong nắng mới. Mai đã là Tết rồi. Tiếng nhạc xuân từ nhà hàng xóm vọng sang khiến lòng bà vui râm ran, “Xuân xuân ơi xuân đã về, có nỗi vui nào vui hơn ngày xuân đến…”.

H.L

Bài viết khác cùng số

RêuGóc vườn gọi xuânNàng, tôi và Vic...Rubic TếtMưa xuân trên đỉnh bình yênMùa xuân phía trước…Nhịp chiêng xuânTrước thềm năm mớiXuân ở lại cùng ngườiTiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt NamKý ức một người lái đòNgọt ngào dư vị tuổi thơChuyện cây mai làng YênXóm cũChạm nắngLập xuânChờ mùa đông đi quaXuân trôiLãng đãng xuânVá xuânGiấc mơ xuânSoiHôn cuộc đời xanh biếc trái tim vuiMùa xuân đến muộnCây tía tô mùa xuânThăm vườn cà chua chínHoài niệm gió bấcKhi hoa vườn nhà nở sớmGởi tuổi mình xa lắm đã từ lâuXuân sớmMàu cúc nhắc sum vầyGiấc mơ dưới hiên nhà cũMùa xuân ẩn dạngQuê xưa gồng gánh hoa vàngNhư vừa sang xuânVề thôi!Mùng 3 Tết và chaPhía xuân mong manhHỏi quêXuân trởTiếng xuânKhi người thinh lặngĐịnh hình một tháng ChạpCon mãi về nơi ấyTrên đỉnh Tùng LaDự cảm GiêngNguyện cầu trước mùa xuânMùa xuân rất gầnXuân trên miền caoMùa gọi yêu thươngBếp xuânMùa Tết trong timĐà NẵngVẫn tươi rói khúc xuânMai đỏ, mai vàngMàu phốHọa tiết “ngựa rồng” trên bình phong đình làng xứ QuảngChẳng biết trong lòng có những ai...Lạc vào Xứ của HiềnCông chúng văn nghệ qua góc nhìn của Nguyễn Văn XuânSứ thần đất Quảng khai xuân nơi đất kháchVề bài bản hô hát, thể thơ và cách ứng tác của Bài chòi xứ QuảngCon ngựa trong văn hóa ViệtTết thời số hóaĐã thành cổ tích chưa?...Về Thăng Bình nghe đối...Lịch sử nhân loại được chở trên lưng ngựaĐất Quảng với những năm Bính NgọLễ trao tặng Giải thưởng Văn học - Nghệ thuật thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2021 - 2025Lộc xuânGửi hoa thêu gấmGóc phố quenSắc TếtTình xuânGiữa sương maiPhố biển tôi yêuKhúc hát chiều xuânTuổi ngựa