Con ngựa trong văn hóa Việt

28.01.2026
Huỳnh Thạch Hà

Con ngựa trong văn hóa Việt

 Các ông ngựa của các vị quan Tứ phủ

Theo quan niệm của dân gian Việt Nam, con ngựa không chỉ là vật nuôi làm phương tiện đi lại mà còn là biểu tượng của sức mạnh, lòng trung thành và khát vọng tự do, thành đạt. Ngựa có dáng vẻ đẹp đẽ, mạnh mẽ, sung mãn mà thanh nhã, hiền lành, trung thành với con người; nhiều con ngựa nổi tiếng với những truyền thuyết về khả năng giúp các vị tướng lĩnh thoát hiểm nguy trên trận mạc. Từ con ngựa trong truyền thuyết Thánh Gióng đến câu tục ngữ “Một con ngựa đau, cả tàu  bỏ  cỏ”, hình ảnh con ngựa đã thấm sâu vào văn hóa và đời sống của người Việt bao thế hệ.

Con ngựa trong tín ngưỡng dân gian

Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, ngựa giữ một vị trí đặc biệt, là linh vật, phương tiện kết nối giữa cõi người và cõi thiêng, biểu trưng cho tinh thần trung thành, nghĩa khí và khát vọng tự do. Hình tượng ngựa hiện diện trong đình, đền, phủ, miếu; trong lễ hội và nghi lễ thờ phụng, phản ánh chiều sâu triết lý sống và nhân sinh quan của người Việt.

 Khi tín ngưỡng dân gian hình thành và phát triển, ngựa được “thiêng hóa”, trở thành phương tiện để các vị thần thánh đi về giữa hai cõi âm và dương. Từ đó, ngựa tượng trưng cho khả năng du hành  vượt không gian, thời gian, mang thông điệp giữa người và thần.

Tương tự, trong tín ngưỡng Tứ phủ, các “Ông Ngựa” là vật cưỡi của các vị thánh Mẫu và quan lớn trong triều đình thiên giới. Ngựa trắng của Quan Lớn Đệ Nhất, ngựa đỏ của Quan Lớn Đệ Nhị, ngựa xanh của Quan Lớn Đệ Tam và ngựa vàng của Quan Lớn Đệ Tứ. Bốn màu ngựa tượng trưng cho bốn phương trời đất, bốn yếu tố tự nhiên và bốn trạng thái năng lượng trong vũ trụ. Trong các điện thờ, phủ Mẫu, tượng ngựa thường được đặt ngay trước ban thờ chính như là lời mời gọi thần linh giáng hạ, là cầu nối giữa trần gian và thế giới thiêng.

Tại các đình chùa, đền thờ thường có đặt tượng “Ông Ngựa” để phù trợ cho các vị thần linh, danh sĩ. Người ta thường thờ một cặp ngựa một đỏ, một trắng đứng trên bốn bánh xe ở hai bên gian thờ, có nơi thì đặt tượng ngựa gỗ. Một số ngôi đình còn đặt tượng đá khắc họa “Ông Ngựa” ở giữa sân tạo nên khung cảnh oai nghiêm và linh thiêng.

Trong tang lễ, ngựa giấy là một trong những lễ vật không thể thiếu. Người ta làm ngựa bằng giấy màu, đeo yên, buộc cờ, kèm dây cương để tiễn linh hồn người đã khuất sang thế giới bên kia. Như vậy, ngựa không chỉ là phương tiện di chuyển mà còn mang ý nghĩa bảo hộ, dẫn đường linh hồn qua cõi u minh.

Trong các lễ hội như Lễ hội Phủ Dầy, Đền Trần hay Hội Gióng, hình ảnh ngựa xuất hiện nổi bật trong rước kiệu, múa lân - ngựa, và nghi lễ tế thần. Đặc biệt, Hội Gióng có hình tượng ngựa sắt là biểu trưng cho sức mạnh siêu nhiên của dân tộc chống giặc ngoại xâm.

Trong tiếng Việt, “Ngọ” có nghĩa là ngựa. Năm Ngọ là năm con ngựa. Có giả thuyết rằng, chữ ngọ (午) là tượng hình dây cương, từ đó mở rộng nghĩa để chỉ con ngựa. Có người lại hiểu ngựa là biểu  tượng mặt trời, thuộc dương hỏa, tượng trưng cho sức nóng gần gũi với dương khí trời đất. Đó là lí do vì sao trong một ngày giờ nóng nhất (giữa trưa) được biểu thị bằng giờ Ngọ, và trong một năm, tháng nóng nhất được biểu thị bằng tháng Ngọ, và tháng đó có Tết Đoan Ngọ.

 Có thể thấy, trong quan niệm của người dân, ngựa là biểu tượng của trung thành và nghĩa khí, của sự giao hòa âm dương và khát vọng tự do tâm linh. Người ta tin rằng ngựa có linh tính, trung nghĩa và hiểu  chủ. Ngựa gắn với dương khí nhưng lại là cầu nối giữa âm - dương, phản ánh quan niệm hài hòa của vũ trụ của người Việt xưa.

Ngựa trong văn học dân gian

Con ngựa trong văn học dân gian hầu như được miêu tả ở trạng thái chuyển động, kéo theo những cung bậc cảm xúc sâu thẳm của con người: từ lễ vật cầu hôn đến biểu tượng cho tình yêu da diết, nỗi nhớ mênh mông, chí anh hùng và khát vọng tự do.

Ngựa xuất hiện sớm nhất trong các truyền thuyết dân gian, gắn liền với những anh hùng dân tộc. Trong câu chuyện Sơn Tinh - Thủy Tinh, ngựa là lễ vật “ngựa chín hồng mao” của Sơn Tinh dâng lên vua Hùng để rước nàng Mỵ Nương về. Đặc biệt, trong truyền thuyết Thánh Gióng, “ngựa sắt” phun lửa chính là hiện thân của ý chí quật khởi, biến cậu bé làng Phù Đổng thành anh hùng dân tộc, bay thẳng lên trời sau khi đánh tan giặc Ân.

Dân gian lại có điển tích “Tái ông thất mã” cung cấp bài học quý giá. Họa chưa chắc là xấu mà phúc cũng chưa chắc tốt. Họa - phúc tương sinh với nhau nên khi được phúc thì không nên quá vui mừng mà quên đề phòng cái họa sẽ đến; khi gặp điều  họa  thì  cũng  không  nên  quá buồn rầu, đau khổ mà tổn hại tinh thần. Hãy nên bắt chước “Tái ông” mà giữ sự thản nhiên trước những biến đổi thăng trầm trong cuộc sống.

Con ngựa cũng xuất hiện khá nhiều trong thơ ca dân gian. Ca dao dành cho con ngựa những câu hát vừa mộc mạc,  vừa  sâu  sắc.  Ngựa ở đây không phải ngựa chiến oai phong, mà là ngựa tình, ngựa nhớ thương: Ngựa hồng tung vó vó câu/ Thương em anh cũng thương thâu cả lòng. Câu ca dao biến con ngựa thành cái cớ để nói tình yêu, một cách giãi bày kín đáo, e ấp nhưng cháy bỏng. Lại có Anh về anh nhớ con ngựa/ Con ngựa ngày xưa anh cưỡi sang nhà em ngựa trở thành kỷ vật, chứng nhân của những lần gặp gỡ, mang tính cá nhân hóa cao: không còn là con ngựa chung chung, mà là con ngựa của anh là một phần ký ức tình yêu.

Để điều khiển con ngựa, người ta phải tra “hàm thiếc” - là một thỏi sắt đặt trong miệng con ngựa giữa hai hàm răng để buộc dây cương vào. Ngựa phải thắng dây cương để điều khiển, kềm ngựa, không cho ngựa tự do muốn chạy thì chạy, muốn ngừng thì ngừng, không cho chạy lung tung. Từ hình ảnh đó, dân gian lại dùng để ví: Gái không chồng như thuyền không lái/ Trai không vợ như ngựa không cương. Tức là trai không có vợ thì tự do, không ai quản lý, không nên cơ nghiệp gì. Ngựa được nuôi trong chuồng, chuồng ngựa còn gọi là tàu ngựa, dân gian lại truyền câu tục ngữ: một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ, để đề cao tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, chia sẻ nhau trong hoạn nạn. Dân ta thường hay nói chạy như ngựa và thường đánh giá ngựa bằng khoảng đường: Đường dài hay sức ngựa; Ngựa hay nào sợ đường dài/ Em không học thói bất tài, bội phu…

Khi lại dùng hình ảnh bộ phận của ngựa để nói về tính cách con người: Thẳng như ruột ngựa, chỉ sự bộc trực ngay thẳng, thật thà trong ứng xử. Người có tính cách thẳng ruột ngựa là người được xem hiền lành, không có ác tâm, không lắt léo, không tính toán vòng vo, không so đo hơn thiệt. Dân gian ta cũng rất coi trọng lời nói trong giao tiếp: Một lời trót đã nói ra/ Dù rằng bốn ngựa khó mà đuổi theo.

Có khi ngựa cũng bị những loài vật nuôi khác so bì. Trong truyện thơ khuyết danh Lục súc tranh công, có đoạn trâu phê phán ngựa là loài: Nết na giớn giác/ Tính khí chàng ràng/ Tuy đang khi mọi vẻ nghiêm trang/ Trong gia sự nhiều điều ngơ ngáo/ Nghề cày bừa, nghe coi lếu láo/ Việc bắn săn coi cũng ươn tài/ Chủ nuôi không biết chủ là ai/ Nhà ở chẳng biết nhà mà lại/ Dại không ra dại/ Khôn chẳng nên khôn/ Ngẩn ngơ như ốc mượn hồn/ Nuôi giống ấy làm chi cho rối… Ngựa nghe được những lời phê phán của trâu thì tức bực vô cùng, nên cãi lại: Tuy rằng thú, cũng hai giống thú/ Thú như tao ai dám phen lê/ Tao đã từng đi quán về quê/ Đã ghe (nhiều) trận đánh Nam dẹp Bắc/ Mỏi gối nương phò xã tắc/ Mòn lưng cúi đội vương công/ Ngày ngày chầu chực sân rồng/ Bữa bữa dựa kề loan giá…/ …Lại ghe phen đội pháo xông tên/ Đàng xa xôi ngàn dặm quan san/ Ngựa phi đệ (chạy nhanh như bay) một giờ liền thấu… Sau màn kể công trạng, ngựa còn lên mặt với trâu: Các chú nằm trong xó bếp/ Tài các ngươi ở chốn quê mùa/ Đừng đừng buông lời nói khật khù/ Bớt bớt thôi chê bai giớn giác/ Nếu tao chẳng lo trong việc nước/ Giặc đến nhà ai để chúng bây?/ Thật biết một mà chẳng biết mười/ Chớ lừng lẫy cậy tài, cậy thế.

Tuy nhiên, bên cạnh những đức tính tốt, ngựa còn biểu  trưng  cho sự ngạo mạn, phản bội và bất trị. Người Việt dùng hình ảnh Ngựa non háu đá hay Ngựa con háu đá để nhìn nhận và đánh giá sự ngạo mạn, kiêu căng, thích đối đầu nhưng không lượng được sức mình. Hay khi muốn biểu đạt những điều lặp lại, những hành động sai lầm đáng tiếc do thói quen khó bỏ, dân gian lại liên tưởng đến hình ảnh biểu trưng Ngựa quen đường cũ, Ngựa chạy đường quay. Do ngựa vốn là loài có nhiều tật chứng nên nó cũng được dùng cho sự phản bội người đã nâng đỡ, che chở mình: Ngựa phản chủ, Thay ngựa đổi chủ. Có khi nói ngựa chạy qua cửa sổ là nói thời gian trôi nhanh, nhưng nhanh theo kiểu quất ngựa truy phong… là chạy trốn, không chịu trách nhiệm cho việc làm sai trái của ai đó. Có khi phê phán kẻ xấu, làm việc ác lại có đầu trâu mặt ngựa…

Ngựa trong nghệ thuật tạo hình

Trong nghệ thuật tạo hình Việt Nam, con ngựa không bao giờ chỉ là một con vật. Nó là điểm nhấn của không gian, linh khí của vật liệu, câu chuyện được kể bằng đường nét. Từ những khối đá thô ráp ở lăng mộ đến con rối gỗ linh hoạt trên mặt nước, ngựa hiện lên với ba tầng ý nghĩa: quyền lực, linh thiêng và dân dã.

Ngựa đá xuất hiện sớm nhất ở các lăng mộ vua chúa thời Lý, Trần, nhưng đạt đến đỉnh cao dưới triều Nguyễn. Tại Lăng Tự Đức (Huế), có đôi ngựa đá đứng đối diện nhau trước Bi Đình, cao 1,8 mét, nặng hơn 2 tấn. Ngựa đứng thẳng, hai chân trước hơi khuỵu, đầu hơi cúi trong tư thế đứng hầu, biểu thị lòng trung thành tuyệt đối với bậc đế vương. Bờm được chạm khắc thành từng lọn sóng, đuôi buông thẳng, mắt tròn xoe, tạo cảm giác sống động nhưng kiềm chế.

Trên Cửu đỉnh ở Thế miếu (Hoàng thành Huế), ngựa là một trong cửu thú. Anh đỉnh có chạm hình  ngựa với chữ 馬 (Mã), phần nào đã thể hiện được vai trò quan trọng của con ngựa dưới thời Nguyễn.

 Mặt khác, tranh dân gian Đông Hồ lại biến ngựa thành công cụ châm biếm. Trong tranh Đám cưới chuột, ngựa nhỏ xíu, lưng còng, mắt hí, kéo kiệu chuột đội mũ cánh chuồn trông hài hước nhưng sắc bén, phê phán tầng lớp quan lại. Tranh Hàng Trống lại vẽ ngựa Thánh Gióng với bờm lửa, mắt phượng, chân trước giơ cao, dùng màu khoáng và đường nét phóng bút để tạo cảm giác phiêu diêu.

Ngoài ra, trên sân khấu Tuồng cũng có con ngựa  mang  tính  ước lệ rất cao: đó là cách đi ngựa tuồng. Người ta dùng cái roi ngựa dài chừng một mét, trên một đầu roi có buộc túm lông biểu thị cho con ngựa. Khi nhân vật tuồng cầm  cái  roi  ấy lên, huơ vài vòng trong một tư thế, đôi chân nhảy lắp bắp đều đặn nhịp nhàng như phi ngựa, người  ngả về đằng trước, hai tay vươn ra như người nắm dây cương, và lúc bấy giờ người xem cũng phải nhận ngay ra rằng cái roi diễn viên đang cầm trên tay chính là con ngựa. Con ngựa đang phi nước kiệu với túm lông đuôi phất phơ ở phía sau.

*     *

*

Dù thời đại đã đổi thay, con ngựa vẫn sống trong lời ru, câu hò, và trong niềm tự hào dân tộc, như nhà thơ Chế Lan Viên từng viết: Ngựa vẫn phi, dù đường đã đổi/ Vó câu vẫn vang, dù thời đã xa. Và hơn thế, ngựa còn là biểu tượng cho khát vọng vươn lên và sự hanh thông trong đời sống người Việt.

H.T.H

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Ngô Đức Thịnh (2001), Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng Việt Nam,

NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.

  1. Trần Lâm Biền (2018), Biểu tượng trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam,

NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

  1. Phạm Quỳnh Phương (2009), Đạo Mẫu và lễ hội lên đồng, NXB Thế giới, Hà Nội.
  2. Nguyễn Thị Hiền (2016), Văn hóa tâm linh người Việt, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

Bài viết khác cùng số

RêuGóc vườn gọi xuânNàng, tôi và Vic...Rubic TếtMưa xuân trên đỉnh bình yênMùa xuân phía trước…Nhịp chiêng xuânTrước thềm năm mớiXuân ở lại cùng ngườiTiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt NamKý ức một người lái đòNgọt ngào dư vị tuổi thơChuyện cây mai làng YênXóm cũChạm nắngLập xuânChờ mùa đông đi quaXuân trôiLãng đãng xuânVá xuânGiấc mơ xuânSoiHôn cuộc đời xanh biếc trái tim vuiMùa xuân đến muộnCây tía tô mùa xuânThăm vườn cà chua chínHoài niệm gió bấcKhi hoa vườn nhà nở sớmGởi tuổi mình xa lắm đã từ lâuXuân sớmMàu cúc nhắc sum vầyGiấc mơ dưới hiên nhà cũMùa xuân ẩn dạngQuê xưa gồng gánh hoa vàngNhư vừa sang xuânVề thôi!Mùng 3 Tết và chaPhía xuân mong manhHỏi quêXuân trởTiếng xuânKhi người thinh lặngĐịnh hình một tháng ChạpCon mãi về nơi ấyTrên đỉnh Tùng LaDự cảm GiêngNguyện cầu trước mùa xuânMùa xuân rất gầnXuân trên miền caoMùa gọi yêu thươngBếp xuânMùa Tết trong timĐà NẵngVẫn tươi rói khúc xuânMai đỏ, mai vàngMàu phốHọa tiết “ngựa rồng” trên bình phong đình làng xứ QuảngChẳng biết trong lòng có những ai...Lạc vào Xứ của HiềnCông chúng văn nghệ qua góc nhìn của Nguyễn Văn XuânSứ thần đất Quảng khai xuân nơi đất kháchVề bài bản hô hát, thể thơ và cách ứng tác của Bài chòi xứ QuảngCon ngựa trong văn hóa ViệtTết thời số hóaĐã thành cổ tích chưa?...Về Thăng Bình nghe đối...Lịch sử nhân loại được chở trên lưng ngựaĐất Quảng với những năm Bính NgọLễ trao tặng Giải thưởng Văn học - Nghệ thuật thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2021 - 2025Lộc xuânGửi hoa thêu gấmGóc phố quenSắc TếtTình xuânGiữa sương maiPhố biển tôi yêuKhúc hát chiều xuânTuổi ngựa