Mưa xuân trên đỉnh bình yên

Minh họa VĂN TIN
Men theo lối mòn quanh co bên rìa rừng, tôi đến suối Tà Lơng sau gần nửa ngày lạc lối. Kinh nghiệm từ những người đi rừng truyền lại, cứ theo tiếng nước mà đi. Tiếng róc rách đưa tôi xuyên qua những tầng cây rậm rạp, cuộn xoắn, cho đến khi trước mắt hiện ra dòng suối tuôn như thác đổ. Xen giữa các loại cây rừng, dương xỉ và rau dớn mọc rải rác, từ hốc đá đùn lên, tràn ra lòng suối thành bụi bờ rậm rịt. Đứng trước cảnh núi rừng hoang sơ, kỳ vĩ tôi mới hiểu vì sao Ama Lăng lại chọn ngọn đồi này để gửi gắm một phần đời.
Cởi giày lội qua suối, bàn chân tôi dầm trong làn nước lạnh tê. Càng lên cao vực nước càng cuồn cuộn, chia tách rồi vỡ thành những con thác nhỏ. Bám vào những cành cây chìa ra, tôi thận trọng men theo những tảng đá trơn trượt. Suối có đoạn chảy êm, in rõ bóng cây và những chiếc rễ to. Từ thượng nguồn, những cành củi mục dạt về dập dềnh đầy lòng suối. Đá rêu xếp như mái nhà, có chỗ lâu ngày vỏ ốc kết dính thành khối như những rặng san hô đủ sắc màu. Đến dốc suối cao ngất, hơi nước mát lạnh từ những con thác nhỏ ti ti bay ra như sương. Từ nơi này nhìn xuống, con suối nằm lọt thỏm giữa ngọn đồi như một con rắn khổng lồ uốn mình qua ghềnh đá. Tiếng suối ầm ào đổ, qua khe chỉ còn nghe tiếng róc rách, lẫn trong đó như có cả tiếng thở từ rừng sâu vọng lại. Xốc ba lô lên, tôi đi về phía chiếc cầu treo lắc lư bắc qua dòng suối chảy xiết, đến giữa cầu, cảnh rừng hiện ra đẹp đến bất ngờ. Một ghềnh đá đen sì nằm án ngữ như có sự sắp đặt của tạo hóa. Thiên nhiên thật lạ! Càng đến gần càng mê hoặc.
Chiếc cầu treo bện bằng dây thừng và tre lồ ô nối vắt vẻo hai bên bờ, uốn theo con đường mòn luồn giữa lau lách rồi mất hút trong bóng lá. Từ xa bóng một người đi tới, chiếc cầu rung lên chao đảo. Đàn sóc hồn nhiên chuyền từ cành cao xuống, nhảy nhót trên chiếc dây thòng lọng, thấy bóng người, chúng vội lao đi mất hút trong rừng tối. Bóng người đến gần, tôi nhận ra một cô gái Cơ Tu nhờ bộ trang phục trên người. Cô còn khá trẻ. Trong chiếc váy chàm đen họa tiết vàng sọc ngang quấn dài đến gối, chiếc áo chui đầu ôm sát để lộ hai cánh tay tròn lẳn khiến gương mặt cô sáng bừng, duyên dáng lạ thường. Cô thoăn thoắt đi, thân hình uyển chuyển, khỏe khoắn và quyến rũ. Đột ngột gió từ đỉnh đồi tràn về khiến các tầng cây ngả rạp, cầu treo chung chiêng lắc mạnh như muốn hất tung mọi thứ xuống suối. Cô gái gỡ chiếc gùi, ngồi thụp xuống níu chặt dây thừng trên thành cầu, dưới kia nước tung bọt trắng xóa.
Lần đầu chứng kiến cảnh tượng đó, tôi nhắm nghiền mắt bấu chặt vào thành cầu. Gió giật một lúc rồi ngưng. Ngẩng lên đã thấy cô gái lại gần, mỉm cười khẽ gật đầu chào, đôi mắt đen thẫm ánh lên tia nhìn hoang dại. Trấn tĩnh lại, tôi cũng chủ động bắt chuyện. “Gió khiếp quá!”. “Không sao, đi lâu ngày sẽ quen”. Cô gái lại cười, quay sang hỏi bằng tiếng Kinh lơ lớ nhưng ngữ âm vang và mạnh mẽ âm điệu của núi rừng. “Cô là khách du lịch à?”. “Không, tôi đi tìm Ama Lăng để viết bài, nghe nói ông ở trên ngọn đồi kia”. Tôi trả lời, ngước nhìn cô khẽ hỏi: “Cô người vùng này?”. “Nhà mình dưới kia, tận trong bản”. Cô gái bỗng hạ giọng: “Cô đi một mình sao?”. Tôi yên lặng gật đầu.“Ama Lăng là cha mình, Ama đang đào rễ cây trên đó”. Cô gái chỉ ngọn đồi phía sau dòng thác. “Ôi may quá!”. Tôi kêu lên, không giấu nỗi vui vì đã có người đưa đường.
Cô gái loay hoay vấn mớ tóc vừa xổ tung, miệng thoáng nụ cười mơ hồ. Chút lạ lẫm trước một cô gái dân tộc thiểu sổ xinh đẹp và có phần lạ lùng, tôi phấn chấn hẳn lên. “Đi thôi!”. Tôi cúi xuống định nhấc một chiếc túi mang giúp nhưng cô gái vội xua tay: “Đừng! Để mình!”.
Cô gái đi trước, đôi chân thoăn thoắt di chuyển như sóc, chiếc gùi trên lưng lắc lư khi qua những tảng đá chông chênh, phải khó khăn lắm tôi mới theo kịp. Sau lưng chúng tôi, dây leo bám đặc trên các tàng cây như con rắn khổng lồ ngoằn ngoèo trườn theo, đến bên suối nó lại biến thành cái thòng lọng vắt ngang. Qua thác nước cao, tôi nhận ra mình đã lọt vào một thung lũng rực rỡ hoa vàng, rừng đổ xuống thành bức màn xanh, lúc này con đường chỉ còn thấp thoáng rồi mất hút trong mịt mùng. Cỏ cây xanh um, tốt đến nỗi mỗi bước chân đặt xuống, vừa nhấc lên đã bị cỏ phủ lấp. Đến cánh rừng phía tây, từ đỉnh đồi một biển mây chập chờn màu trắng sữa chầm chậm trôi rồi tỏa rộng, biến hóa thành những hình thù lạ mắt. Mặt trời như một chiếc đĩa trắng bạc, tỏa nắng xuống những tàng cây phía đông như một guồng tơ óng ả, mang theo cả giàn nhạc trầm trầm của thác nước. Trên cao, tiếng chim lảnh lót khiến cảnh rừng thêm sống động.
Đến thác nước ầm ào, cô gái ra hiệu cho tôi dừng lại nghỉ chân rồi cúi xuống vốc nước rửa mặt. Tôi ngồi bệt trên tảng đá hình mai rùa, gỡ những bông cỏ bám đầy trên đôi giày cao cổ, lúc ngẩng lên mới có dịp quan sát kỹ. Cô gái chừng ngoài hai mươi, thân hình dong dỏng chắc khỏe, đôi mắt nâu trong suốt lùi vào dưới hàng mi rậm có chút gì ma mị, trái ngược với nụ cười hiền hậu. Chiếc vòng cổ, vòng tay đều làm bằng chuỗi hạt cườm óng ánh đủ sắc màu, dải khăn hoa sặc sỡ quấn ngang hông khiến bờ eo thon lượn một vòng cong mềm mại. Có thể nói từng chi tiết trên cơ thể cô là đặc ân của núi rừng ban tặng.
Cô gái ngồi trên tảng đá nước tung bọt trắng, lơ đãng nhìn xuống dòng suối, chốc chốc lại ngẩng lên nóc rừng lắng nghe thanh âm từ trên cao vọng xuống, ánh mắt mơ màng khẽ chớp như chưa từng có sự xuất hiện của tôi, mà chỉ một mình cô giữa thinh không này. Tôi lặng ngắm hình ảnh đó, ngạc nhiên lẫn thú vị. Quả là một bức tranh tuyệt đẹp giữa chốn đại ngàn.
“Tôi là Thảo Vân, còn cô?”. Tôi khẽ hỏi. “Mình là A Nhía”. Cô gái lơ đãng đáp rồi bất chợt quay lại chăm chú nhìn tôi như thôi miên, cái nhìn thật lạ, vừa nồng ấm vừa hoang dại.
Rất lâu, cô quay đi mắt chấp chới dõi về phía đám mây mỏng xốp đang dần tan, lẩm nhẩm mấy câu hát tiếng Cơ Tu, miệng thoáng nụ cười lún sâu một bên khóe. Đột ngột, cô đứng lên khoát tay ra hiệu đi tiếp. Tôi lẽo đẽo sau. Con đường phía trước cứ hun hút dài ra. Không nhớ tôi đã theo A Nhía qua bao đoạn đường rừng, bao nhiêu dòng suối, chỉ biết đôi chân đã mỏi rục, hai đầu gối nhức buốt, tôi chỉ mong sớm lên đến chỗ Ama Lăng để được nghỉ chân. Nhìn cảnh rừng thâm u, tôi muốn nói thật nhiều để xua tan bầu không khí yên ắng này, nhưng bên tôi, A Nhía tỏ ra kiệm lời, gương mặt kín bưng thi thoảng mới nở một nụ cười mơ hồ.
Con đường lau lách âm u rậm rịt và ướt át vì hàng triệu tia nước li ti phả xuống, cơn mưa thác khiến tóc tôi ẩm lạnh. Giữa bao la đất trời, lần đầu tiên tôi nghe được tiếng thở của rừng lẫn trong tiếng suối vời vợi như từ thuở xa xăm nào đó vọng về, ngỡ như mình đang lạc vào cõi thiên thai. Nơi đây hoa rừng rất lạ, trải dài như một cánh đồng, màu sắc cứ rực lên dù nấp trong bóng lá. Giữa đám cỏ cây vương vất sương mù A Nhía vẫn luồn lách như sóc, gương mặt sáng bừng thoắt ẩn thoắt hiện, chốc chốc lại tủm tỉm cười khi thấy tôi lê bước. Chúng tôi lội qua lòng suối rộng, gió bất ngờ tràn về rít qua hẻm núi, kéo theo mưa ầm ầm dội xuống quật vào các tàng cây. A Nhía ra hiệu tôi nhanh chân chạy đến nấp dưới tảng đá chìa ra như mái nhà.
Hoàng hôn chập choạng buông. Tôi bắt đầu thấy lạnh, hai hàm răng va vào nhau cầm cập khi cây rừng ngả nghiêng như đang ở giữa lòng giông tố. Tôi chợt hối hận, sao mình lại có thể mạo hiểm vào chốn rừng thiêng! Trước mắt tôi, gương mặt A Nhía dần mờ nhòe vào bóng chiều chạng vạng. Có vẻ như đọc được suy nghĩ của tôi, A Nhía thì thào “Sắp đến nơi rồi!”. Tôi run rẩy nhìn mưa táp từng cơn quay cuồng trên đầu, môi bặm lại vì lạnh, hốc mũi nhức buốt. Trong khoảnh khắc đó, ánh mắt A Nhía xoáy vào tôi như thôi miên, gương mặt cô trắng bệch tựa tượng sáp, đôi mắt nâu thẳm ánh lên vẻ bí ẩn. Tôi nhìn A Nhía, chợt nhận ra ẩn sâu trong đôi mắt đó một nỗi niềm khó tả. Lòng chùng lại, tôi khẽ lắc lắc mái tóc đẫm nước.
Mưa vẫn trắng trời. Những trận mưa bất thường ở rừng lần đầu tôi chứng kiến, gào thét điên cuồng, nước từ các con suối xối xả đổ xuống, giận dữ tràn qua ghềnh đá, cuốn theo mớ lá khô và những thân củi mục. Bên tôi, A Nhía câm lặng không nói thêm lời nào, cô điềm nhiên nhìn mưa gầm rú. Mưa dịu dần rồi tạnh hẳn. Cánh rừng trở nên yên tĩnh lạ thường. Trong tiếng gió rít từ rừng già vọng xuống, nghe ra có cả tiếng thú ăn đêm lạc đàn lẫn trong tiếng bầy chim non chiêm chiếp trên chiếc tổ đan bằng cỏ mắc ở ngọn cây. Từ xa tiếng chim mẹ quang quác, thoắt cái đã thấy nó trở về, miệng ngậm miếng mồi cho con, có lẽ là một con sâu rừng khổng lồ…
A Nhía đứng lên ra hiệu đi tiếp, đôi chân nhún nhảy như chưa hề có trận cuồng phong vừa đi qua. Vừa đi cô vừa khe khẽ hát, thỉnh thoảng không quên ngoái lại đợi tôi. Mưa vừa tạnh, trăng đã lơ lửng treo trên đỉnh đồi. Nhìn dãy núi mơ màng, tôi lắng nghe qua làn gió thoảng nhẹ tiếng rì rào trong rừng cây tối, rồi rõ dần tiếng khèn trầm ấm vang dài từ con đường mòn lẩn khuất giữa vòm lá rậm.
“Đến chỗ Ama rồi!”, A Nhía đưa tay chỉ. “Thấy không? Có ánh lửa đó!”.
Nghe A Nhía nói tôi khỏe hẳn, thoăn thoắt luồn qua các bụi dây leo đan từng vòng chằng chịt trên đầu. Hai bên, thảm cỏ xanh mướt kéo dài đến vô cùng. Đêm sập xuống, mặt trăng vừa nhô lên đã lẩn vào mây, tối đến nỗi không còn phân biệt được đâu là cây rừng, đâu là đường đi nếu như không có ánh sáng của bếp lửa hắt ra từ ô cửa chống. Khoảng cách gần lại, mắt tôi chạm vào cây cổ thụ tán vươn rộng, một căn nhà sàn hiện ra, đơn độc và tĩnh lặng, gần đó một chum nước suối được hứng từ ống lồ ô dẫn về, tiếng nước rót vào chum ồ ồ nghe rõ mồn một. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Từ bên trong nhà sàn, tiếng khèn bè chợt ngân lên như tiếng gió quẩn quanh khe núi, lúc dồn dập, lúc trôi xa. Tôi theo A Nhía bước lên cầu thang gỗ.
Một người đàn ông Cơ Tu tuổi chừng sáu mươi, dáng người chắc đậm, lừng lững ngồi bên bếp lửa. Ánh lửa bập bùng rực soi gương mặt sẫm màu khói núi, đôi mắt sâu như chứa cả rừng thẳm, uy nghiêm. Nghe thấy tiếng chân chúng tôi, ông đặt chiếc khèn xuống, ngẩng lên.
“Ama mình đó!”, A Nhía thì thầm. Tôi cúi đầu chào. Người đàn ông chau mày nhìn tôi vẻ ngạc nhiên. Chỉ một thoáng, nếp nhăn trên trán bỗng giãn ra, ông khẽ gật đầu, đưa tay ra hiệu tôi ngồi xuống. Không gian như cô đặc trong mùi khói nồng nồng, hăng hắc. Tiếng củi nổ tí tách, mùi nhựa thông âm ỉ, ánh lửa bập bùng soi hai chiếc bóng lên vách gỗ chập chờn. Ông nghiêng chiếc ché rót dòng nước trong veo vào bát gỗ, đẩy về phía tôi, giọng khàn đục: “Mời uống, cho ấm bụng!”. Tiếng Cơ Tu bật ra từ khóe miệng già nua, vừa lạ lẫm vừa gần gũi. Tôi đỡ chiếc bát, nâng lên, hai bàn tay còn vương hơi lạnh đường dài. Nhấp vị ngọt trong veo như chắt ra từ lòng đá, tôi nghe mắt mình ríu lại, không cách gì cưỡng được cái mệt ngấm vào người sau một ngày lặn lội đường rừng dưới mưa.
Tôi lơ mơ thiếp đi trong tiếng nước róc rách rót vào chum, tiếng lạo xạo bên ngoài thỉnh thoảng lại vọng lên, vừa xa vừa gần. Trong lúc lơ mơ giữa tỉnh - thức, tôi vẫn nhận ra mình đang nằm trong gian nhà chất đầy những gùi nứa và những chiếc túi thổ cẩm đựng lá thuốc, vỏ cây. Trên vách, từng chùm rễ cây phơi khô treo lủng lẳng. Bên bếp lửa, gò má A Nhía ửng đỏ, đôi mắt nâu đen phản chiếu những đốm lửa cứ rực sáng. Đêm giữa rừng sâu, mọi tiếng động như ngừng lại, chỉ còn nghe tiếng nổ lép bép của thanh củi gộc cháy rừng rực bên bếp. Ama Lăng sau một hồi trầm ngâm, chầm chậm nâng cây khèn lên môi, thổi một khúc dạo đầu. Tiếng khèn cất lên trầm ấm, vang xa, lẫn vào tiếng thác réo ầm ầm. Ngoài kia trăng vằng vặc soi những con đường quanh co tít tắp. Về đêm tiếng suối như trong hơn, len qua khe bỗng thành tiếng đàn đá, nhạc cụ chỉ duy nhất chỉ có ở ngọn đồi này.
Nửa khuya. Bếp lửa tàn dần…
Góc đằng kia, A Nhía đã ngoẹo đầu ngủ từ bao giờ, tiếng thở cô đều đều lẫn vào tiếng than củi tí tách cháy. Từ khe suối vọng lên tiếng cuốc kêu khắc khoải, đáp lại, tiếng một con chim lạ cũng thảng thốt kêu lên rồi im bặt, có lẽ chúng cũng đã chìm vào giấc ngủ đêm. Tôi trở mình vì tiếng muỗi vo ve, may sao có hơi lửa ấm nên dễ chịu hơn khi gió đêm lùa vào buốt lạnh. Ngoài kia trăng đã treo tận đỉnh trời, lọt vài tia sáng mỏng mảnh qua kẽ vách, chiếu xuống sàn nhà những vệt sáng màu trắng ngà, biến tất cả những đường kẻ trên vách thành một đường sáng bạc.
Tôi không nhớ mình đã thiếp đi từ lúc nào, chỉ biết lúc choàng tỉnh đã nghe tiếng chim rừng phành phạch vỗ cánh bay lên đỉnh núi mù sương. Bếp lửa đêm qua đã tàn, chỉ còn vài vệt than hồng mờ mờ liu riu giữa tàn tro nguội. Nhìn quanh chẳng thấy A Nhía đâu, chỉ còn Ama Lăng đang lui cui bên bếp với ấm nước lá thơm lừng, nghe tiếng chân tôi đến sau lưng, ông quay lại. Ánh mắt ấm áp thoáng ngạc nhiên khi nghe tôi hỏi A Nhía. Ông nhíu mày, lặng yên rồi trả lời tôi bằng một câu hỏi: “Ai chỉ đường cho cô lên đây?”. “Là A Nhía”, tôi đáp. Những nếp nhăn chồng chéo trên gương mặt Ama Lăng bỗng giãn ra, ông buông một tiếng thở nhẹ nhõm rồi quay qua dọn cơm, mời tôi ngồi xuống.
“Cô đi đường rừng chưa quen, lại không chịu được cái lạnh nên đêm qua mới ngất đi, cũng may đã kịp tới đây, chứ ở ngoài trời đêm thì tôi không biết đâu mà lần”. Ama Lăng chậm rãi nói. Trong khi tôi bàng hoàng không nhớ chuyện gì đã xảy ra, ông đã xới cơm vào hai chén nhỏ. “Người Cơ Tu chúng tôi bữa sáng chỉ có thế này”.
Trên mâm là dĩa sắn luộc còn bốc khói, một gói cá suối nướng, một chén muối hầm giã ớt rừng đỏ au và một nồi cơm gạo dẻo bên ngoài còn lấm tấm tàn tro. Lúc này mới nghe bụng réo sôi, tôi ngồi xuống nhỏ nhẻ gắp một miếng cá nướng, vừa ăn vừa vơ vất nhìn quanh tìm A Nhía. Thấy tôi dừng mắt lâu trước đống vỏ cây tượng đủ hình thù kỳ quái chất ở góc nhà, Ama Lăng giải thích: “Người Kinh các cô gọi đây là vỏ cây, còn với người Cơ Tu, nó là thuốc, là ký ức của rừng. Mỗi cội cây, mỗi phiến lá đều có tiếng nói riêng. Chúng tôi không chỉ lấy về để chữa bệnh cho người mà còn giữ lại linh hồn của rừng”. Tiếng Ama Lăng khàn khàn như độc thoại, ánh mắt sâu hun hút như chứa cả biển rừng mênh mang. Vội vàng ăn cho xong chén cơm, tôi lấy sổ ra ghi chép, thấy vậy, ông cũng gỡ chiếc gùi treo trên móc, lấy xuống những cuốn sổ giấy đã ngả màu, lật vài trang cho tôi xem hình vẽ của lá, thân và củ của một số cây thuốc ở rừng, cùng lời ghi chú cách dùng, những dòng chữ xiêu vẹo nửa Kinh nửa Cơ Tu, như một cuốn từ điển sống, do chính tay ông và bao thế hệ trong bản truyền lại.
“Mỗi chuyến lên rừng về, tôi còn mang cho bà con những hạt giống quý”. Ama Lăng cho tôi xem một nắm hạt đổ ra từ chiếc túi vải màu nâu. Ông nâng niu trong lòng bàn tay, như thể những hạt ngọc của trời.
Trong khi tôi cắm cúi ghi chép vào cuốn sổ, A Nhía đã về từ lúc nào. Cô nhẹ nhàng lướt qua tôi như một con mèo rừng, rồi đến bên cha ngồi xuống, yên lặng. Ama Lăng rót ra ly nước lá mùi ngai ngái, mời tôi rồi thong thả rút từ thắt lưng ra chiếc tẩu tre đã ngả màu khói, nhồi vào nắm thuốc rê nâu sẫm, bàn tay run run gắp cục than hồng trong bếp khẽ gảy lên, áp đầu tẩu vào, rít một hơi đã đời. Khói cuộn ra từ miệng tẩu, vờn lên giữa tôi và ông một làn trắng đục. Gương mặt thoắt đó đã trầm ngâm, giọng khàn đặc, ông rì rầm kể.
“Ta có một đứa con gái tên A Nhía. Năm năm trước trong một lần đi rừng, lúc trở về con bé bị lũ cuốn trôi. Năm đó nó chưa đầy mười sáu tuổi”. Thoáng rùng mình, tôi nghe tim mình dừng lại một nhịp trước khoảng không trống trải và buốt lạnh. Trước mắt tôi, vẫn là gương mặt A Nhía, trong trẻo đến lạ lùng, như một cánh hoa tinh khôi vừa hé trong buổi sớm. Nhưng gương mặt đó giờ đây đang dần tan vào khói trắng. Nửa hư, nửa thực. Vẫn ánh mắt rợn ngợp đầy ma mị, A Nhía nhìn tôi, khe khẽ gật đầu như xác nhận lời Ama vừa nói.
Nỗi thương cảm khiến tôi lặng đi. Ama Lăng cúi xuống đẩy thêm thanh củi vào bếp lửa, giọng vẫn đều đều: “A Nhía của ta vẫn về đây mỗi mùa xuân. Nó thích tiếng khèn của Ama lắm lắm. Người bản nói, nó vẫn quanh quẩn trên ngọn đồi này để dẫn lối cho ai cần tìm gặp Ama, cho những ai lạc rừng. Đêm nào ta cũng thổi khèn để con bé được nghe…”. Giọng ông nghèn nghẹn. Mùi thuốc lá hăng hắc ngai ngái nhắc cho tôi nhớ khoảnh khắc này là thực.
Và tôi cần phải trở về dưới kia trước khi trời tối.
Ama Lăng đưa tôi một đoạn. Đến cội pơmu cao nhất, ông chỉ đường cho tôi xuống núi, cứ men theo bậc đá mà đi. Tôi chào ông, xốc ba lô lên, thoăn thoắt bước. Trên lối mòn đẫm sương, loáng thoáng vài dấu chân con gái còn hằn trên đất ẩm, những dấu chân xinh xinh dẫn vào khoảng rừng mờ tối. Tôi vội vàng đi về hướng đó, nhưng chỉ một đoạn đã mất dấu, gió và lá rừng đã xóa nhòa tất cả.
Đứng giữa đỉnh đồi, tôi ngửa mặt đón những hạt nước tinh khiết khẽ chạm vào da, nghe lòng bình yên đến lạ, khi nhận ra sự sống vẫn từng ngày tái sinh, dịu dàng và bất tận. Trong thinh không, đâu đây chợt vẳng lại tiếng khèn bè trầm ấm, điệu khèn của Ama dành riêng cho đứa con gái yêu đã không còn nữa. Trước mắt tôi bỗng hiện lên chiếc bóng thiếu nữ dong dỏng, săn chắc như tượng đồng. A Nhía với chiếc gùi nhẹ như mây, cô đưa tay đón từng giọt nước mát lành rồi ngoái lại vẫy vẫy tôi cho thay lời tạm biệt…
Đôi chân xoay xoay reo vui như chim, A Nhía uyển chuyển trong điệu múa Cơ Tu hoang dại giữa cơn mưa rừng trước khi chầm chậm tan vào màn sương trắng…
V.N.G