Một ngày với Phong Lệ

Một góc của di chỉ khảo cổ Phong Lệ
Trong chuyến đi thực tế sáng tác tại Đà Nẵng, tôi dành riêng một ngày để tìm đến di tích khảo cổ Chăm Phong Lệ ở phường Hòa Thọ Đông, quận Cẩm Lệ (nay thuộc phường Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng). Cái tên Phong Lệ nghe vừa xa xôi vừa bí ẩn, như một lời gọi từ quá khứ.
Chàng trai lái xe grab còn rất trẻ, là người địa phương, nhưng cũng chỉ biết khu vực Cẩm Lệ chứ chưa từng nghe đến tháp Chăm Phong Lệ. Thấy tôi tần ngần, cậu mở Google Maps rồi cười trấn an: “Đường đi ở miệng, cô yên tâm!”. Thế là hai cô cháu bắt đầu cuộc hành trình.
Đường dễ đi, chẳng mấy chốc đã vào đến phường Cẩm Lệ. Thế nhưng, khi hỏi thăm đường vào di chỉ khảo cổ Phong Lệ, nhiều bạn trẻ chỉ lắc đầu nhìn nhau lạ lẫm. Cuối cùng, cậu chạy grab phải tấp xe hỏi các cụ già bên đường. Đúng như câu “Ra đường hỏi người già, về nhà hỏi trẻ nhỏ”, vừa nghe nhắc đến khu nền tháp cổ, các ông các bà đã nhiệt tình chỉ vẽ từng ngõ ngách dẫn vào di tích.
Càng đi sâu vào gần di tích, không gian làng quê mát mẻ, yên bình càng rõ. Những ngôi nhà hai bên đường trồng khá nhiều hoa, con đường làng luôn râm mát bóng cổ thụ. Chạy được một lúc, tấm bảng khá lớn ghi “DI TÍCH KHẢO CỔ CHĂM PHONG LỆ” hiện ra, bên dưới có một số hình ảnh, như toàn cảnh di tích khảo cổ Phong Lệ, mặt bằng nền phía trên hố thiêng… Theo mũi tên chỉ dẫn, chúng tôi rẽ vào một con đường nhỏ ngoằn ngoèo giữa khu dân cư nhà vườn san sát. Một bác lớn tuổi chỉ vào một cái kiệt nhỏ xíu. Chạy vào đến cuối lại thấy như đường cụt nên hai cô cháu đành quay ra. Nhưng hỏi thêm vài người nữa, ai cũng chỉ đúng cái kiệt ban nãy. Cuối cùng, chúng tôi dựng xe rồi đi bộ vào.
Hóa ra, sau bức tường bên hông căn nhà cuối kiệt là một ngôi nhà tôn nhỏ bé, khiêm nhường đang nép mình trong một cái sân nhỏ và vườn cây cũng nhỏ. Một bà cụ đội chiếc khăn vàng đang ngồi băm thân cây chuối để cho gà ăn. Vừa thấy hai cô cháu, bà ngước lên hỏi ngay: “Đi tìm tháp của người Chăm đúng không?”. Chúng tôi chỉ biết “dạ”. Không nói thêm lời nào, bà đứng dậy ra hiệu cho chúng tôi đi theo. Đôi tay gầy guộc kéo tấm tôn làm cửa, lộ ra một khoảng đất rộng rồi bảo cứ vào đi. Thì ra, vì muốn bảo vệ di tích nên bà đã lấy tôn quây lại, khiến người lạ thoạt nhìn cứ ngỡ là ngõ cụt.
Ấn tượng đầu tiên của tôi là khu di chỉ khá rộng, cỏ đã được dọn sạch, lộ ra nhiều nền gạch cổ. Chỉ nhìn thôi cũng có thể hình dung nơi đây không phải một ngôi tháp đơn lẻ mà từng là cả một quần thể kiến trúc Chăm quy mô lớn. Những mảnh gạch vỡ được gom lại thành từng đống, những trụ đá, tượng đá tuy không còn nguyên vẹn nhưng vẫn gợi lên vẻ uy nghiêm của một thời vàng son. Ngay trung tâm là một căn hầm, trên có lợp tôn hai mái hình chữ A, trước có một ban thờ nhỏ, trên đó vẫn còn khói nhang, chứng tỏ bà cụ vừa mới ra đây thắp nhang. Dưới mái tôn là một hố vuông, xung quanh che chắn bằng bao cát để khi trời mưa, đất không chảy vào hố. Có thể khẳng định đây chính là vị trí của tháp chính (người Chăm gọi là kalan), hố thiêng chính là vết tích của bệ thờ.
Trong khu di chỉ có bảng giới thiệu khá chi tiết về hố thiêng và các hiện vật được phát hiện tại đây. Phần lớn hiện vật hiện đã được đưa về trưng bày ở Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng. Và cũng chính lúc ấy, tôi quyết định buổi chiều sẽ quay lại Cổ viện Chàm thêm một lần nữa.
Trên đường về, cậu lái xe grab chọn chạy dọc đường Thăng Long ven sông Cẩm Lệ. Con đường rộng, thoáng và đẹp. Dòng sông lững lờ trôi khiến buổi sáng ở Phong Lệ như còn ngân dài trong tâm trí. Tôi chợt nhận ra mình vừa đi một vòng tròn mà tâm điểm chính là cụm di tích Chăm cổ Phong Lệ, một không gian văn hóa mang dấu ấn của hơn ngàn năm lịch sử.
Buổi chiều, tôi đi dọc bờ sông Hàn và ghé vào Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng, nằm ngay gần cầu Rồng. Thật hữu duyên khi đúng dịp ấy, bảo tàng đang trưng bày chuyên đề “Kết quả khai quật khảo cổ di tích Chăm Phong Lệ (2011-2018)”. Tôi từng đến nơi này nhiều lần, nhưng chưa lần nào có cảm giác gần gũi như hôm ấy. Ngày lễ, bảo tàng mở cửa ra vào tự do nên khách tham quan rất đông. Tuy nhiên gian trưng bày Phong Lệ có vẻ thưa người hơn nên tôi có dịp nhìn ngắm và chụp ảnh khá nhiều.
Gian trưng bày giới thiệu khá đầy đủ về quá trình khai quật và những hiện vật phát hiện từ hố thiêng: gạch vuông, đá cuội, thạch anh… Hố thiêng có bình đồ hình vuông, miệng hố 4,2m x 4,2m, đáy hố 3,9m x 3,9m, độ sâu của hố là 1,8m được phủ lấp bằng cát trắng, cuội trộn lẫn với nhau. Sát đáy hố thiêng có tám ô khám được xây lõm vào trong các bức tường gạch theo tám hướng (đông, tây, nam, bắc, đông bắc, đông nam, tây bắc, tây nam). Trong mỗi ô khám có xếp một viên gạch hình vuông đặt nằm ngang, dưới viên gạch là một viên đá cuội hình trứng đặt theo chiều thẳng đứng, dưới viên đá cuội là một mảnh vàng có kích thước 2cm x 1cm, tất cả được vùi lấp trong cát trắng. Bên ngoài miệng ô khám có đặt những viên thạch anh hướng chiều nhọn tinh thể lên trên. Tất cả tám ô khám có cấu trúc giống nhau và còn tương đối nguyên vẹn.
Tại khu trưng bày Phong Lệ còn có khá nhiều hiện vật giá trị như gạch, có hoa văn tinh xảo, gạch nguyên, ngói có mặt người, tượng voi, sư tử, bò thần Nandin, đầu chim thần Garuda… Tất cả có niên đại thế kỷ X - XI. Đáng chú ý và nổi bật là một linga theo hình trụ đứng, gồm ba phần, tượng trưng cho ba vị thần tối cao của Ấn Độ giáo. Phần dưới cùng hình trụ vuông tượng trưng cho thần Brahma (thần Sáng tạo), phần giữa là hình trụ bát giác tượng trưng cho thần Visnu (thần Bảo tồn), trên cùng hình trụ đầu tròn tượng trưng cho thần Siva (thần Phá hủy - phá hủy cái cũ để sáng tạo cái mới). Dạng linga này gọi là “tam vị nhất thể”, tiêu biểu cho sự ảnh hưởng của Ấn Độ giáo đối với Chăm Pa trong giai đoạn đầu.
Ngoài ra, gian trưng bày khảo cổ Phong Lệ có một số phù điêu bằng sa thạch hình các tượng thần (thần Visnu, thần Siva múa), trong đó phù điêu thần Siva múa là một trong những bảo vật quốc gia. Siva múa Phong Lệ là một phù điêu còn khá nguyên vẹn và rất tinh xảo, niên đại thế kỷ IX - X, diễn tả thần Siva đang múa (múa để phá hủy cái cũ, sáng tạo cái mới). Tượng thần có mười sáu cánh tay, trong đó hai cánh tay chính ở trước, tay trái đeo vòng, đưa lên ngang cổ trong tư thế bắt ấn, tay phải đeo vòng rắn, chống vào hông. Còn mười bốn tay phụ (mỗi bên bảy cánh tay) xòe như nan quạt, tay nào cũng đeo vòng và bắt ấn. Dưới chân thần, mỗi bên có ba vị đang chắp tay chiêm bái. Xuống thấp nữa, mỗi bên có một nhạc công đang chơi nhạc cụ. Riêng dưới chân bên phải của thần còn có thêm hai vị nữa dường như đang múa hòa điệu. Tất cả toát lên quyền uy của thần Siva trong một kiệt tác độc bản, vô giá của nghệ thuật điêu khắc Chăm tuyệt kỹ.

Phù điêu Siva múa Phong Lệ được trưng bày tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng
Khi đã về lại Nha Trang, tôi mới được biết đến nhà nghiên cứu văn hóa Võ Văn Thắng - nguyên Giám đốc Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng; được đọc bài nghiên cứu công phu Kho thiêng trong lòng tháp Chăm: từ văn bản cổ Ấn Độ đến kết quả khai quật của ông. Qua trao đổi với nhà nghiên cứu văn hóa Võ Văn Thắng, tôi được biết kết quả khảo cổ cho thấy cụm tháp Phong Lệ có niên đại vào khoảng thế kỷ IX, hiện nay chỉ còn phần móng của tháp cổng, phần móng của tháp chính và hố thiêng dưới bệ thờ của tháp chính (kalan). Căn cứ vào kích thước của hố thiêng, có thể suy ra kích thước bệ thờ và kích thước tháp. Từ đó, có thể hình dung tháp chính Phong Lệ là một kiến trúc đồ sộ, thuộc vào một trong những tháp Chăm lớn nhất của Vương quốc Chăm Pa cổ.
Cuối năm 2020, UBND thành phố Đà Nẵng đã công nhận Phong Lệ là di tích cấp thành phố. Đồng thời, ngành văn hóa cũng đề xuất xây dựng Bảo tàng Điêu khắc Chăm cơ sở 2 ngay tại khu di tích này nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của những hiện vật được khai quật tại chỗ.
Di tích Phong Lệ nằm cạnh dòng sông Cẩm Lệ, một điều kiện tự nhiên thuận lợi để có thể kết nối thẳng tới Di sản văn hóa thế giới Mỹ Sơn - một thánh địa lớn, quan trọng của Vương quốc Chăm Pa cổ. Điều đó cũng cho thấy vị trí của Daknan (Đà Nẵng) trong thời kỳ thịnh vượng của Vương quốc Chăm Pa với vùng văn hóa rộng lớn, bao gồm nhiều di tích với tầng tầng trầm tích như Trà Kiệu, Mỹ Sơn, Đồng Dương, Hội An, Đại Chiêm hải khẩu (Cửa Đại), Cù Lao Chàm,…
Trong khi chờ đợi thành phố Đà Nẵng xây dựng Bảo tàng Điêu khắc Chăm cơ sở 2 tại Phong Lệ để đánh thức giá trị của cụm di tích vô giá này, có lẽ cần bảo tồn hiệu quả hơn di chỉ thực địa. Trước hết, thành phố nên nghiên cứu, xây dựng lại mái che, vành đai quanh hố thiêng cao hơn, thẩm mỹ hơn, đồng thời mở rộng con đường vào di tích, xây tường bao, xây cổng để Phong Lệ thực sự là một cụm di tích văn hóa cấp thành phố của một thành phố lớn, mỹ lệ, “đáng sống” nhất của Việt Nam.
Tôi nhớ một tứ thơ đến với tôi ngay trong ngày tôi dành trọn cho Phong Lệ, một ngày đành tạm gác lại những cảnh đẹp khác của thành phố Đà Nẵng, một ngày chỉ có di tích Chăm Phong Lệ trong mắt và trong tim:
Trong giấc mơ, Phong Lệ tỏa ánh hào quang
Cùng Chiên Đàn, Khương Mỹ, Bằng An trùng trùng ánh sáng
Mỹ Sơn, Trà Kiệu, Đồng Dương, Đà Nẵng
Kinh thành Sư Tử âm vang tiểu quốc Amaravati
Phong Lệ xưa soi bóng dòng Cẩm Lệ mượt xanh
Hố thiêng còn đây, vết tích cụm cổ tháp uy nghi ngàn tuổi
Tháp trên đồi - linga trên yoni - tráng lệ
Dòng sông thiêng tôn cao sinh thực khí bình yên
Dồn dập tiếng gọi âm âm từ Phong Lệ yêu thương
Ở đâu có Chàm ở đó có tháp
Hàng gạch vỡ gợi dòng thời gian sắc nâu trầm ấm
Cỏ tràn xanh xuyên không Ô Lý một thời
Người đồng tộc đưa nhau về Cổ viện Chàm
Siva múa còn đó phòng trưng bày Phong Lệ
Trụ linga còn đây vẹn nguyên sự sống tươi ròng
Sức sáng tạo nghìn năm như cất lên tiếng nói ngân vang...
Giấc mơ được đến với di tích Đà Ly (tên cũ của Phong Lệ) đã thực hiện. Nhưng với tôi, còn một giấc mơ nữa, giấc mơ về một điểm đến thứ hai của Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng - Bảo tàng Điêu khắc Chăm cơ sở 2, để được chứng kiến Phong Lệ hồi sinh, cùng với hàng loạt tháp Chăm cổ xưa vùng Ulik (Ô Lý) qua công nghệ trình chiếu ba chiều, hiện lên sống động, như thật, như không còn khoảng cách diệu vợi của một thiên niên kỷ hoặc dài hơn nữa.
Nha Trang, tháng 4/2026
C.D.T