An Khê xưa và nay

Logo phường An Khê
Xem ra phường An Khê rất có duyên với từ tố “An”. Ở thành phố Đà Nẵng sau hợp nhất, các đơn vị hành chính cấp xã gắn với địa danh có từ tố “An”cũng khá nhiều: An Khê, An Hải, An Thắng và Thăng An, Việt An, Hội An/ Hội An Đông/ Hội An Tây. Trong tiếng Việt, “bình an” và “bình yên” là hai cách đọc khác nhau của cùng một từ, thậm chí gần đây còn có từ ghép “an yên” và ở kinh đô Hoa Lư xưa vừa có địa danh Tràng An vừa có địa danh Trường Yên - đi liền với Trường Yên. Trên địa bàn Đà Nẵng xưa nay chưa từng nghe địa danh Yên Hải đi liền với địa danh An Hải, địa danh Yên Thắng đi liền với địa danh An Thắng, địa danh Thăng Yên đi liền với địa danh Thăng An, địa danh Việt Yên đi liền với địa danh Việt An và cả địa danh Hội Yên đi liền với địa danh Hội An (mặc dầu vẫn có địa danh Hội Yên ở phường Hải Vân cũng như vẫn có địa danh Hội An ở xã Sơn Cẩm Hà). Trong khi đó ở phường An Khê với diện tích 12.36 km², dân số 93,625 người - đơn vị hành chính cấp xã trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp được hình thành trên cơ sở hợp nhất phường An Khê của quận Thanh Khê và hai phường Hòa Phát, Hòa An của quận Cẩm Lệ - lại có địa danh Ngã tư Yên Khê gắn với chiến công của Tiểu đoàn 19/ Ba Tơ - tiểu đoàn chủ lực đầu tiên của Liên khu 5 - trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến tháng 12 năm 1946 (Tiểu đoàn trưởng Giáp Văn Cương - được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vào năm 2010). Đây là chỗ khác biệt của phường An Khê so với các phường/xã An Hải, An Thắng, Thăng An, Việt An, Hội An cùng mang từ tố “An”.
Phường Hòa An quận Cẩm Lệ trong mô hình chính quyền địa phương ba cấp được chia tách từ xã Hòa Phát của huyện Hòa Vang theo Nghị định số 07/2005/NĐ-CP ngày 12 tháng 01 năm 2005 của Chính phủ, cùng thời điểm với việc phường An Khê quận Thanh Khê trước năm 2005 được chia tách thành phường Hòa Khê và phường An Khê - cũng theo Nghị định này. Tên làng Hòa An được những lưu dân Quảng-Nam- mở-cõi mang từ làng Hòa An huyện Chơn Phước phủ Đức Quang tỉnh Nghệ An (trong chánh điện đình làng Hòa An có các biển ghi “Hòa vi quý” (Hòa là quý) và “An nhi lành” (Yên ổn mới làm việc)… Đặc biệt trên địa bàn phường Hòa Phát quận Cẩm Lệ, có một làng cổ tên là làng Tân An. Theo sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, địa danh Tân An là một trong số 24 xã của tổng Hà Khúc huyện Hòa Vang, sau đó làng Tân An được chia thành hai làng Đông Phước và Nghi An; và theo Địa bạ Gia Long (lập năm Ất Hợi 1815 niên hiệu Gia Long thứ 14), Nghi An sau-chia-tách là một trong 26 làng của tổng Phước Tường Thượng huyện Hòa Vang phủ Điện Bàn dinh Quảng Nam. Và chính làng Nghi An dưới chân núi Phước Tường đã trở thành một trong những điểm nhấn góp phần hình thành thương hiệu văn hóa - lịch sử của phường An Khê ngày nay.
Nghi An là quê hương của hai nhà trí thức người Đà Nẵng: Thái Phiên và Thái Thị Bôi. Trong một bút ký in trong tập sách Đào chuông xuống núi (NXB Đà Nẵng, 2014), tôi từng cảm nhận về hai nhà trí thức Thái Phiên và Thái Thị Bôi như sau: “Nói đến trí thức - nữ trí thức cũng như nam trí thức - là nói đến một thái độ sống mẫu mực, chứ không phải nói đến một bộ sưu tập bằng cấp, danh hiệu. Một nam trí thức tiêu biểu của Đà Nẵng hồi đầu thế kỷ XX là cụ Thái Phiên đâu phải là người có nhiều bằng cấp, thậm chí cụ chẳng có bằng cấp gì đáng kể. Thái Phiên trong hình dung của chúng ta chắc chắn không phải là nhà khoa bảng uyên thâm Hán học dẫu cụ cũng ít nhiều thành thạo chữ Nho để có đủ khả năng đọc và trả lời thư của các đồng chí Duy Tân hội gửi đến luận bàn về quốc sự; càng không phải là người được đào tạo thật bài bản về Tây học dẫu cụ cũng ít nhiều thành thạo chữ Pháp để có đủ khả năng vào vai một thầy ký ngày ngày cặm cụi tính mướn, viết thuê. Tuy nhiên phẩm tính trí thức của người được xem là kiến trúc sư trưởng của cuộc Cách mạng 1916 nằm ở chỗ Thái Phiên đã mang hết mọi sở học của mình, dốc hết mọi kiến văn của mình, toàn tâm toàn ý phục vụ sự nghiệp cách mạng của Duy Tân hội, của phong trào Đông Du, của Hội Việt Nam Quang Phục và đã bước ra pháp trường với đôi mắt vừa ngời lên vẻ cương nghị tinh anh vốn có, vừa lộ chút u buồn của một người biết mình sắp mất cơ hội được đi đến cùng con đường đã chọn. Một nữ trí thức tiêu biểu của Đà Nẵng vào thập niên 30 của thế kỷ trước là bà Thái Thị Bôi - cháu của cụ Thái Phiên - cũng không phải là người học hành rộng, đỗ đạt cao nhưng đã tỏ rõ thái độ sẵn sàng dấn thân vì đại cuộc của một nữ trí thức cộng sản trẻ tuổi, và giống như chú ruột mình, bà luôn được hậu thế ngưỡng mộ khâm phục”.
Thái Phiên và Thái Thị Bôi đều ra đi khi còn rất trẻ. Thái Phiên sinh năm 1882 và ra pháp trường năm 1916, hy sinh lúc 34 tuổi. Thái Thị Bôi sinh năm 1911 và qua đời vì bạo bệnh năm 1938 khi mới 27 tuổi. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khi Hà Nội được mang tên thành Hoàng Diệu, Huế được mang tên tỉnh Nguyễn Tri Phương, Quảng Nam được mang tên tỉnh Trần Cao Vân thì Đà Nẵng đã được mang tên thành Thái Phiên. Ngôi mộ chung của Thái Phiên và Trần Cao Vân nằm trên đồi thông Từ Hiếu ở Huế đã được công nhận Di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 575-QĐ/VH ngày 14 tháng 7 năm 1990 của Bộ Văn hoá Thông tin. Nhiều xã/phường ở thành phố Đà Nẵng hiện nay có đường phố và trường học mang tên Thái Phiên. Thái Thị Bôi - vợ nhà cách mạng Lê Văn Hiến - cũng đã được người Đà Nẵng vinh danh qua việc đặt tên cho một đường phố ở phường Thanh Khê và ngôi mộ của Thái Thị Bôi tại quê nhà Nghi An cùng với đình làng Nghi An và nhà thờ tộc Thái - nơi thờ Thái Phiên và Thái Thị Bôi, được xếp hạng Di tích lịch sử cấp thành phố vào năm 2009 - theo tôi nhân kỷ niệm 110 năm ngày Thái Phiên hy sinh (1916-2026), cụm di tích Nhà thờ tộc Thái cùng với đình làng Nghi An và mộ Thái Thị Bôi hoàn toàn xứng đáng để được nâng cấp thành Di tích lịch sử cấp quốc gia ngay trong năm 2026.
Trong những ngày đầu Đà Nẵng chống thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta lần thứ hai vào cuối tháng 12 năm 1946, ở mặt trận Đà Nẵng có một trung đoàn từng mang tên Trung đoàn Thái Phiên - đó chính là Trung đoàn 96. Và nghĩa trủng Gò Đồ ở quê hương Nghi An của Thái Phiên đang là nơi yên nghỉ của hàng chục liệt sĩ thuộc trung đoàn này, trong đó có 18 chiến sĩ đã anh dũng hy sinh tại cầu Bà Điếc làng Nghi An. Hồi thập niên 1860, cụ thể là vào năm Bính Dần 1866 niên hiệu Tự Đức thứ 19, vua Tự Đức cho xây dựng Nghĩa trủng Hòa Vang - được xem là nghĩa trang quốc gia đầu tiên ở nước ta - để quy tập phần mộ các nghĩa sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến đấu dưới chân thành Điện Hải 1858- 1860. Ban đầu Nghĩa trủng Hòa Vang được lập ngay tại xứ Trũng Bò thuộc làng Nghi An, vốn là nơi hạ trại của đại quân triều Nguyễn trước đó; đến năm 1920 người Pháp mở rộng sân bay Đà Nẵng, khoảng 1.200 ngôi mộ ở Trũng Bò được di dời khỏi làng Nghi An và đến năm 1965 thì hình thành lại Nghĩa trủng Hòa Vang trên đất Khuê Trung (nên còn được gọi là Nghĩa trủng Khuê Trung, đã được công nhận Di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 1999).
Ngoài ra còn có hàng ngàn phần mộ các nghĩa sĩ 1858-1860 được di dời từ Trũng Bò về Nghĩa trủng Gò Đồ [theo Địa bạ Gia Long, Gò Đồ là một xứ của xã Đông Phước thuộc tổng Phước Tường Thượng huyện Hòa Vang phủ Điện Bàn dinh Quảng Nam như xã Nghi An]. Đến năm 1969, do kho đạn của Mỹ gần đó bị cháy nổ, đình làng Nghi An và Nghĩa trủng Gò Đồ bị đổ sập hoàn toàn, việc tế lễ hằng năm để tưởng nhớ các nghĩa sĩ ở Nghĩa trủng Gò Đồ phải chuyển về đình làng mới cho đến khi Nghĩa trủng Gò Đồ được trùng tu vào năm 2015. Từ đó đến nay, việc tế lễ để tưởng nhớ các nghĩa sĩ được người dân Nghi An thường xuyên tổ chức vào ngày mồng 2 tháng 3 hằng năm... Trong lúc tôi viết những dòng này, Đảng bộ, Chính quyền và Nhân dân phường An Khê đang nỗ lực hoàn chỉnh hồ sơ di tích để trình cấp có thẩm quyền công nhận Nghĩa trủng Gò Đồ là di tích lịch sử cấp thành phố, nhằm tạo hành lang pháp lý để đầu tư tôn tạo nơi yên nghỉ của các nghĩa sĩ 1858-1860. Xin nói thêm, là nơi yên nghỉ của các nghĩa sĩ không có điều kiện quy tập tại Nghĩa trủng Hòa Vang và Nghĩa trủng Phước Ninh - được xây dựng vào năm Bính Tý 1876 niên hiệu Tự Đức thứ 29, được xếp hạng di tích lịch sử cấp thành phố hồi tháng 11 năm 1988 - Nghĩa trủng Hóa Ổ/Nghĩa trủng Nam Ô ở phường Hải Vân cũng đã được xếp hạng di tích lịch sử cấp thành phố hồi tháng 11 năm 2020. Và khoảnh khắc này đây, trong lòng tôi lại vang lên mấy câu thơ hướng tới sự đều khắp trong bài Thăm mộ chiều cuối năm của Nguyễn Thái Sơn: “Vạt đồi yên nghỉ bao đồng đội/ Nhang trầm một thẻ - biết làm sao…/ Thắp lên, đành cắm nơi đầu gió/ Hương khói đừng quên nấm mộ nào”…
Về giao thông vận tải, trên địa bàn phường An Khê có đường sắt Bắc Nam và Quốc lộ 1A (hai đoạn mang tên Tôn Đức Thắng và Trường Chinh) chạy ngang qua và có cầu vượt Ngã ba Huế - một trong mấy biểu tượng được thiết kế trên mẫu biểu trưng/ logo của phường An Khê vừa công bố hồi cuối năm 2025. Cầu vượt Ngã ba Huế khánh thành tháng 3 năm 2015, nằm giữa ranh giới hai phường An Khê và Hòa Khánh, là cây cầu vượt ba tầng đầu tiên của Việt Nam, và là một trong những điểm nhấn kiến trúc độc đáo của Đà Nẵng với trụ tháp dây văng hình parabol cao 65m và vòng xuyến đường kính 150m được lấy cảm hứng từ hình tượng Linga và Yoni vốn là biểu tượng tín ngưỡng phồn thực của người Chăm. Từ cầu vượt Ngã ba Huế, chỉ cần đi một đoạn về phía phường Thanh Khê là có thể đến ngôi trường trung học thành lập từ năm 1963 mang tên Trung học phổ thông Thái Phiên, đường phố Thái Thị Bôi và cả Bia di tích chiến thắng Yên Khê năm 1946.
Bia chiến tích năm 1946 được phụng lập từ năm 1998 nêu rõ: “Nơi đây, trên dải phòng ngự Nghi An - Phước Tường, từ ngày 25 tháng 12 năm 1946 đến ngày 06 tháng 01 năm 1947, bộ đội ta thuộc Trung đội 2, Đại đội 1, Tiểu đoàn 17 thuộc Trung đoàn 96 phối hợp cùng dân quân địa phương và hai đại đội tăng cường của Đại đội 100 thuộc Trung đoàn 93 đã ngoan cường chiến đấu giữ vững phòng tuyến, trong đó quyết liệt nhất là trận địa tại cầu Nghi An”. Bộ đội ta có 18 chiến sĩ thuộc Trung đoàn 96 và Trung đoàn 93 đã anh dũng hy sinh tại trận địa quyết liệt này và được an táng trong khuôn viên Nghĩa trủng Gò Đồ.
*
* *
Như đã nêu từ đầu bài viết, phường An Khê rất có duyên với từ tố “An”. Cho nên không phải ngẫu nhiên mà khi Đại tướng Lương Tam Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ trưởng Bộ Công an vừa phát động phong trào thi đua Ba Nhất trong toàn lực lượng Công an nhân dân với 21 nội hàm cụ thể về Kỷ luật nhất - Trung thành nhất - Gần dân nhất, Công an phường An Khê đã sớm tổ chức hội nghị quán triệt các nội hàm này, xác định mối quan hệ giữa “nền tảng” Kỷ luật nhất với “cốt lõi” Trung thành nhất và “thước đo” Gần dân nhất là mối quan hệ giữa ba cạnh của cùng một tam giác đều - cạnh nào cũng quan trọng như nhau, cũng phải phấn đấu đến mức cao nhất có thể, tất cả vì một An Khê luôn lấy hạnh phúc và bình an của người dân làm thước đo cao nhất.
B.V.T
Bùi Văn Tiếng: Nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, nguyên Trưởng ban Tổ chức Thành ủy, nguyên Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học-Nghệ thuật thành phố Đà Nẵng; Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử thành phố Đà Nẵng.