Hội An nguyên vẹn nét duyên

Một thoáng Hội An. Ảnh ĐẶNG KẾ CƯỜNG
Nắng ở Hội An dịu nhẹ trên những con phố nhỏ. Ngước nhìn những ngôi nhà hàng trăm năm tuổi, bắt gặp đôi mắt gỗ gắn trên cửa ra vào, tôi có cảm giác như người xưa vẫn đang lặng lẽ dõi theo, khích lệ bước chân hôm nay khám phá vẻ phong phú, đa dạng và độc đáo của đô thị cổ nằm bên tả ngạn sông Thu Bồn. Trải qua bao biến thiên lịch sử và đổi thay của tự nhiên, phố Hội vẫn giữ được gần như nguyên vẹn nét duyên riêng của mình.
Từ đó, thành phố nhỏ bên sông Hoài chậm rãi mở ra trước cảm nhận của khách phương xa những lớp trầm tích văn hóa đã làm nên Lâm Ấp, Faifo, Hoài Phố, Hội An qua nhiều thế kỷ. Từ thế kỷ II đến thế kỷ XVIII, nơi đây từng là một thương cảng sầm uất - nơi “hội thủy, hội nhân và hội tụ văn hóa”.
Niềm thích thú cứ thế đầy lên trong tâm trí khi đứng trước pho tượng đá cũ, ngôi giếng gạch rêu phong, chiếc đèn lồng lung linh hay lúc thưởng thức món cao lầu, xí mà, bánh bao, bánh vạc. Cả khi ngẩn ngơ đọc bộ liễn đối trăm nét với những con chữ mềm mại như cánh chim bay: “Một dãy dương liễu chỉ dài trăm thước đón được cơn mưa từ ngàn dặm. Một mảnh trăng rộng chỉ mươi phân rọi sáng cả một căn gác đầy sách”.
Bước nhẹ trên sàn gỗ của chùa Cầu (Lai Viễn Kiều), tôi như hóa thân thành đứa trẻ đang lạc bước giữa những âm vang quá khứ, vừa trầm sâu lại vừa huyền ảo. Chỉ trong một khoảnh khắc bình yên nơi đây, tiếng mái chèo khua thong thả trên mặt sông Hoài đã đưa người ta vào chuyến du hành mềm mại đến Làng gốm Thanh Hà, Làng rau Trà Quế, Làng mộc Kim Bồng… Rồi trên sóng biển Cửa Đại, những người yêu Hội An kể cho đại dương nghe câu chuyện về văn hóa Sa Huỳnh, văn hóa Chăm Pa, văn hóa Đại Việt - những giá trị được lưu giữ qua các hiện vật bằng sứ, đồng, sắt, giấy, gỗ… trong Bảo tàng Lịch sử Văn hóa Hội An, Bảo tàng Gốm sứ Mậu dịch hay Bảo tàng Văn hóa Sa Huỳnh.
Chuyến đi ấy giúp tôi nhận ra rằng ở Hội An, thời gian giống như một kẻ nhàn du thích tản bộ bên bờ sông Hoài, dừng lại thật lâu trên những mái ngói rêu phong, bịn rịn với hội bài chòi rộn ràng nhịp phách và tiếng trống, lưu luyến hương vị “hoa hồng trắng” cùng món cao lầu trứ danh, rồi trìu mến phủ thêm óng ánh những hoa văn chạm trổ tinh xảo của nghệ thuật điêu khắc gỗ.
Trong thời gian ở Hội An, tôi vẫn không ngừng thán phục trước sự huyền bí của chiếc chén Khổng Tử rằng muốn giải tỏa cơn khát, đừng bao giờ múc quá đầy. Sự chiêm nghiệm ấy càng trở nên rõ nét khi tôi thưởng thức món rau trộn đặc trưng của phố cổ, nơi hội tụ đủ năm sắc thái vị giác của cuộc đời. Chính những trải nghiệm này đã trở thành nhịp cầu giúp tôi thấu hiểu chiều sâu thẩm mỹ trong những vần thơ triết lý của thi sĩ Chế Lan Viên sáng tác năm 1988: Yêu ở đâu thì yêu/ Về Hội An xin chớ/ Hôn một lần ở đó/ Một đời vang thủy triều.
Quanh bài thơ để đời này, người yêu Hội An biết danh họa Lưu Công Nhân đã đến và ở lại Hội An một năm trong thập kỷ 1980 khi thấy “Toàn bộ đô thị cổ Hội An là những bức tranh đã vẽ sẵn… Vì mê vẻ đẹp Hội An, tôi đã sống trọn một năm. Tết cũng không về nhà” (Hội An - Cái làm tôi mê say). Và biết thêm rằng, vào năm 1981, kiến trúc sư người Ba Lan Kazimierz Kwiatkowski - “Người bạn lớn của Hội An” bắt đầu tiếp xúc với Hội An và nhanh chóng nhận ra những giá trị nổi bật toàn cầu của phố cổ Hội An: Vẻ đẹp không trùng lặp chứa đựng trong các phố phường lịch sử, sự phong phú của các kiểu dáng kiến trúc, sự hoàn hảo của nghệ thuật chạm khắc trong nội thất các di tích kiến trúc tạo nên cho phố cổ Hội An những đặc điểm nổi bật trong một không gian riêng biệt.
Với những trầm tích văn hóa ở Hậu Xá, An Bang, Xuân Lâm cho thấy thương cảng Hội An là điểm giao thương và giao tiếp văn hóa duy nhất của Việt Nam với thế giới vào thời chúa Nguyễn ở thế kỷ thứ XVI, là một phần của “con đường gốm sứ trên biển” nối liền vùng Cận Trung Đông, Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản và Việt Nam. Chính bởi những giá trị ấy mà năm 1999, UNESCO đã công nhận phố cổ Hội An là Di sản văn hóa thế giới. Đó là sự ghi nhận cho một thương cảng quốc tế nơi các nền văn hóa giao thoa mà vẫn giữ được bản sắc riêng.
Giữa lòng phố bàn cờ hôm nay, tôi vẫn hình dung được một Hội An phồn vinh thuở trước - nơi người Việt, người Hoa, người Nhật và người châu Âu từng cùng tụ cư, hỗ cư và hợp cư. Từ những phố xá, bến cảng đến kiến trúc dân dụng, tín ngưỡng dân gian, tất cả tạo nên một thế giới gần như riêng biệt.
Ở đó có những ngôi nhà gỗ hàng trăm năm tuổi lấp lóa những hoành phi câu đối, tràng kỷ sập gụ, rêu xanh và cội mai già. Có Hội quán Phúc Kiến, miếu Quan Công, đình làng, giếng nước, lăng miếu… hòa quyện kỳ lạ giữa phong cách kiến trúc Việt Nam, Trung Hoa và Nhật Bản. Và tất cả càng thêm lung linh trong đêm rằm phố cổ, khi những nghi thức giao tiếp truyền thống và sinh hoạt dân gian thế kỷ XVII, XVIII được tái hiện.
Một niềm say mê mới mẻ đã ùa đến khi tôi lặng người trước một ngôi nhà cổ vừa kín đáo vừa đài các dưới ánh đèn lồng ấm áp hòa quyện ánh trăng hiền dịu đang dìu dặt một khúc nhạc ân tình gợi bao miền ký ức. Không ở đâu như ở Hội An, hình ảnh cụ già râu tóc bạc phơ mặc áo the đen và đội khăn xếp ung dung chơi cờ tướng trong ánh nến, dáng người phụ nữ nền nã trong áo dài Việt chân phương, nét thanh nhã của cô gái mang xường xám Thượng Hải may bằng lụa tơ tằm và những chiếc thuyền chài thấp thoáng ánh đèn dầu trên mặt sông văng vẳng giọng hò khoan có sức hấp dẫn thật đặc biệt. Bên tiếng nhạc cổ, nhạc thính phòng hoặc giọng ngâm thơ Đường vẳng ra từ các hội quán thoang thoảng hương trầm dịu ngát là tiếng hô bài chòi, giọng hát hò khoan, ánh hoa đăng quanh chùa Cầu. Thưởng ngoạn những nét quyến rũ không trùng lặp ấy của Hội An trong đêm rằm phố cổ, tôi nghĩ tới một cảm nhận của nhà thơ Thanh Thảo rằng: “Hội An có những nét thinh lặng tương đồng với Huế nhưng cô đặc hơn… Hội An không buộc du khách phải ngước nhìn mà khiến du khách phải dừng mắt rất lâu trước những bức tường rêu phủ, những mái ngói rêu phong, những hoàng hôn màu lúa chín. Nó gợi ý cho du khách nhìn sâu vào từng con đường nhỏ như để tìm lại tuổi thơ của mình. Nó có khả năng hòa nhập cùng lúc cả quá khứ và hiện tại”. Bởi chăng vì mái chùa cong, đôi mắt cửa huyền bí, phố nhỏ, con đường hẹp và ngắn, tường nhà so le, mái ngói nhấp nhô, hoa văn chạm trổ tinh xảo, ánh đèn lung linh trên mặt sông Hoài mà có lúc trong mưa đã hóa thành thi ảnh Mái rêu mưa đẹp bàng hoàng/ Dòng sông bóng nước tiếng đàn ngân xưa (Mưa dâng - Nguyễn Nho Khiêm).
Đi giữa lòng phố bàn cờ, nghe trong âm vang nhỏ nhẹ của nỗi đam mê cái đẹp lời trầm trồ về phức hợp di tích gồm những ngôi nhà cao - thấp, cổ - kim quây quần tạo cảm giác thân mật, tôi cảm nhận rõ sự lắng đọng của không gian và thời gian ở phố xá, bến sông, kiến trúc tôn giáo và tín ngưỡng dân gian nơi đô thị cổ bên tả ngạn sông Thu Bồn, sát kề Cửa Đại. Với sự kết hợp hài hòa giữa các kiểu thức kiến trúc Việt Nam, Trung Hoa và Nhật Bản; với sự gìn giữ lăng miếu, hội quán, nhà phố, nhà rường cùng đình làng, giếng nước của người Chăm, người Hoa và người Việt, Hội An chinh phục người từ muôn phương bởi khả năng dung chứa rất nhiều giá trị văn hóa mà các yếu tố ngoại lai vẫn không lấn át bản sắc bản địa.
Bởi thế, trong mỗi ban mai, hoàng hôn hay đêm rằm, Hội An luôn mang đến cảm giác thân thiết, dịu dàng, bâng khuâng và nhớ nhung bằng chính dáng vẻ riêng của mình. Đó là vẻ đẹp không trùng lặp của những phố phường lịch sử, của các dạng thức kiến trúc phong phú và nghệ thuật chạm khắc tinh xảo đã tồn tại qua mấy thế kỷ. Rồi khi thả bước bên bờ sông Hoài, khách phương xa gặp “những tiếng rao trăm năm” mời mua “trăm vật trăm ngon” là món ăn thức uống, thấy “tiếng guốc khua trên con đường gầy” và “những câu thơ nghiêng chén” của những người cùng nuôi dưỡng hồn phố, hội tụ những an lành để bất kỳ ai cũng có cho riêng mình một Hội An “không là quê mà là hương”, “không phải đi đến mà tìm về”...
Cứ thế, bất chấp lời khuyên của thi nhân đáng kính, tôi yêu Hội An nguyên vẹn nét duyên qua mấy trăm năm như một người yêu duyên dáng, thuần khiết và lãng mạn đến trọn đời.
N.T.B.N