Phòng có bốn người

04.09.2026
Tống Phước Bảo

Phòng có bốn người

Minh họa NGUYỄN DŨNG

Tôi gọi một ly chanh đào mật ong để xoa dịu cơn khát rát cổ sau hơn nửa tiếng đồng hồ đi bộ đến quán. Chiều còn hong chút nắng muộn trên quãng đường từ khách sạn đến đây. Cô lễ tân bảo sẽ đặt xe giúp, nhưng tôi từ chối. Tôi muốn thơ thẩn với phố xá nơi này. Lâu lắm rồi tôi mới đến thành phố biển vốn mang nhiều kỷ niệm. Bật hướng dẫn từ bản đồ trực tuyến lên, gắn tai nghe vào, cứ vậy tôi men theo lề đường mà đi.

Tiết trời đầu hạ nên cái oi nồng chưa quá gắt gỏng. Gió biển thổi vào làm đám hoa giấy ven đường đung đưa như múa. Tôi đã đi nhiều nơi, đến nhiều miền, nhưng chưa có thành phố nào nhiều hoa giấy như thành phố này. Có lẽ chính cái nắng và cái gió miền biển đã làm sắc hoa thêm rực rỡ. Có lúc mỏi chân, tôi dừng lại dưới một vòm hoa giấy hồng tím. Cái màu sắc khiến tôi nhưng nhức lòng. Tôi nhớ đến hoa sưa của nơi này. Thứ hoa mà mãi đến khi gặp người ấy vào những năm tháng đại học, tôi mới biết tên.

Trong lời kể của Nguyễn, hoa sưa nhuộm vàng ký ức của anh chàng. Nguyễn bảo nếu đến thành phố này vào những ngày đầu hạ, ngước mắt lên nhìn bầu trời xanh thấp thoáng sau những chùm hoa vàng, lại ngó xuống chân là những xác hoa cũng vừa chạm đất. Chỉ một cơn gió nhẹ lùa qua, hoa rơi tựa một cơn mưa chầm chậm và phiêu lãng. Tôi tin lời Nguyễn như tin vào một chiều nào đó tôi đứng dưới những cơn mưa vàng sắc hoa sưa. Tính ra thì đã mười năm tôi mới quay lại nơi đây, liệu đất này có còn gọi tôi là cố nhân hay mình đã thành người lạ xa ở một nơi mà có lần mình tưởng đã chọn là nhà.

Hôm tôi bảo Phan rằng mình sẽ đến thành phố này, đâu chừng vài tháng, bởi công việc xây dựng quy trình cho chi nhánh mới của tập đoàn. Phan cười hềnh hệch. Cứ đi thôi. Đời này, mấy ai được lựa chọn hành trình sống. Phía trước mình luôn có những ngã rẽ chùng chình mà lòng nào dễ minh định. Nhưng không đi thì sao biết mình sẽ góp nhặt được gì. Nói thiệt, tuổi trẻ nào cũng phải có những chuyến đi cho riêng mình. Chiều đó, Phan ngồi cùng tôi bên góc quán cà phê bạt gió liêu xiêu của Sài Gòn. Phan học cùng tôi suốt những năm tháng đại học, rồi lên cao học, xong thì Phan chọn về giảng dạy cho một trường quốc tế, vài năm sau Phan nhận học bổng đi tu nghiệp nước ngoài. Ngày Phan về đã quá ngưỡng ba mươi, tóc bạc lốm đốm. Cái giá phải trả cho nghiên cứu và tấm bằng tiến sĩ đấy! Phan vẫn cười hềnh hệch, cái điệu cười pha âm hưởng vừa chân thật, vừa ngây ngô lại vừa chát đắng. Kiểu như đã thấu tận những nỗi đời nên cứ vô tâm mà sống. Phan chẳng hỏi gì về tôi, hay Nguyễn và cả Trần.

Có lần tôi hỏi Phan, sao lại chẳng đả động gì đám bạn ngày ấy, hay tìm tôi cũng chỉ vì công việc. Phan đặt ly bia Sài Gòn mát lạnh xuống, thở ra cái khì. Đồ điên. Giờ mạng xã hội đầy ra đó. Nếu con người ta cần tìm nhau thì dễ mà. Tại sao tụi nó không tìm mình? Rồi cái số điện thoại cũ sao nay gọi thì tò tí te mất tiêu. Chỉ có mày là còn quá hiền ngoan để nghĩ rằng tụi nó chẳng thể tìm ra mình. Giờ chỉ cần lên mạng gõ cái tên, không quá ba giây sẽ ra hàng loạt bài báo về tao, về mày mà. Phan nói bằng tông giọng cao. Đó là lần duy nhất tôi chẳng thấy Phan vô tâm. Hóa ra, người càng tỏ ra mình vô tâm với tất thảy mọi chuyện lại là người luôn ghim vào lòng mình sâu hoắm những thứ đã để tâm đến.

Chiều dắt câu chuyện của tôi và Phan vào tận đêm. Tôi đặt xe ôm công nghệ về nhà. Quãng đường chạy ngang trường học cũ. Bất giác tôi nhớ đám bạn hồi còn ngây ngô, gọi nhau là ốm đói, gầy tong teo và đen xì lì. Nhưng, hồi đó chúng tôi vô tư quá đỗi. Chúng tôi chạy rong khắp thành phố trong những cơn mưa chiều. Chạy và cười. Chúng tôi lấy nắp nồi gõ inh ỏi mỗi trận bóng đá của đội tuyển quốc gia. Chỉ chờ thắng trận, bốn đứa lại ra đầu hẻm nhỏ xem phố xá nhộn nhịp ăn mừng. Nhìn và cười. Chúng tôi rủ nhau ngược trung tâm về phía bên kia sông mỗi khi lòng rười rượi buồn. Cái buồn của tuổi trẻ đôi khi chẳng nguồn cơn. Một thằng đòi đi, cả đám gật đầu. Bạn bè mà, cần gì lý do để biết. Chúng tôi chẳng cần biết mọi cơn cớ của nỗi buồn. Chỉ cần có đám bạn cạnh bên. Ngồi từ một vùng ngoại ô bên rìa của phồn hoa ngó về phía lấp lánh ánh đèn xanh đỏ. Cỏ bông lau lên cao, lao xao theo từng chuyến gió ghé qua cánh đồng. Có đứa nhớ nhà. Có đứa nhớ cha. Nhớ rồi kể mấy chuyện hồi đó. Ờ, hồi đó của sinh viên đám tôi nó nghèo đến nỗi Phan chua chát chẳng còn cái mồng tơi mà rớt. Nghèo và vui.

Tôi đã đến được nơi mình cần tìm sau quãng đường thơ thẩn và chọn góc khuất sau một lùm cây mướt lá với những bông hoa đỏ li ti mọc thành chùm rủ lòa xòa xuống ngang bờ vai mình. Từ góc nhỏ này, tôi nhìn bao quát ra khoảng sân quán có nền xi măng tráng đã cũ mòn. Cách bài trí tựa thể như một ngôi nhà đón đợi những người thân quay về chứ chẳng phải là một quán cà phê chuyên phục vụ khác. Buổi chiều ướp lên không gian nhỏ gọn này một gam màu trầm. Tiếng nhạc nho nhỏ, dìu dịu được phát ra bằng một chiếc máy hát đĩa loại những năm đầu thập niên 2000 nghe cứ bàng bạc một không gian đầy hoài niệm. Hình như là một chiều của ngày bình thường nên quán vắng khách. Khoảng sân ngập lá và hoa, nắng rải tia len vào cửa sổ nhỏ, và gió thi thoảng ghé đến, cùng tiếng nhạc bolero sướt mướt. Bấy nhiêu cũng đủ để tôi thả lòng mình đắm vào buổi chiều.

Tôi đến thành phố này sớm hơn ngày mình phải bắt tay vào công việc ba ngày. Tôi nói với Phan, mình muốn thử một lần tìm câu trả lời. Ngày đó, đám chúng tôi còn trẻ quá, đôi thứ cứ bồng bột theo bản năng và cả sự háo thắng. Thế nên, dẫu trong lòng còn nhiều trĩu trịt, nhưng ai cũng chọn im lặng và sống riêng phần số mình. Có lẽ bây giờ, khi đã là những gã trung niên gieo neo dâu bể với cuộc đời này, đi qua hỷ nộ ái ố rồi, liệu Nguyễn hay Trần có như tôi, muốn tìm câu trả lời? Phan hỏi tôi tìm đâu bây giờ giữa thành phố chục triệu dân, hay trăm triệu người trên dải đất hình chữ S này. Tôi chẳng biết mình khởi nguồn từ đâu cả. Trong trí nhớ còn sót lại, tôi nhớ một mùa hoa vàng nắng của hơn chục năm trước, cả bốn đứa đã đến đây, quê của Nguyễn. Chúng tôi có mười ngày lang thang trên những cung đường nối liền từ một con ngõ nhỏ, đi qua phố xá, đến bãi biển, trèo lên núi và chạm những khoảng trời đầy mây bồng bềnh. Tôi sẽ bắt đầu từ Nguyễn, và ước mơ của cậu ta mà chỉ có tôi biết.

Hình như đã quá ba mươi phút, khi tôi khép mắt và thả hồn mình vào buổi chiều vắng cùng những giai điệu bập bùng thì có bàn tay lay nhẹ mình. Giọng trầm đục gọi tôi dậy. Bốn mắt nhìn nhau. Sững sờ. Lừng khừng. Và chẳng ai nói gì. Gió bắt đầu thổi những cơn dịu dàng. Chiều buông màn vàng vọt vào khoảng sân. Gã chủ quán tuổi đã trung niên, đôi gò má cao, dáng mảnh khảnh, da đen nhẻm và cái má lúm đồng tiền quen thuộc. Vết thời gian hằn lên đuôi mắt gã những dấu chân chim xếp ly. Gã cười bâng quơ. Nụ cười hiền mà buồn man mác. Kỳ thực, tôi đã chuẩn bị biết bao câu hỏi, nhưng khi gặp Nguyễn, tôi đã im lặng.

Chiều muộn, lác đác khách đến quán sau một ngày dài với nhọc nhằn mưu sinh. Hình như họ chọn cái quán này, ngồi lắng mình lại để xả bớt những nặng nề trong lòng. Quán cà phê với bộ bàn ghế cũ, những tờ báo giấy, những ô cửa sổ và những góc ngồi ám gợi căn nhà nhỏ thân thuộc. Ai cũng có một góc nhà cho riêng mình, ngồi đó nghe gió mưa đi về, nghe đời mình thản nhiên trôi chậm qua ngày tháng. Tôi từng bảo cái ý tưởng đó của Nguyễn là điên rồ, cái quán cà phê kiểu vậy sẽ ế dài cổ ra, chẳng ai có thể dừng cuộc đời mình vài tiếng đồng hồ để ngồi như thế. Xã hội này mỗi phút sẽ là mỗi đồng tiền được kiếm ra. Nguyễn cũng chỉ cười, chẳng phản bác lại lời tôi. Nhưng, chính nụ cười mà không lời hồi đáp khiến tôi luôn nhớ cái ước mơ quán cà phê mang tên “Góc nhà tụi mình” của gã bạn học.

Mãi đến đêm, Nguyễn bới ra hai tô cơm, trứng chiên cà chua, tô canh mỳ gói. Đúng cái món mà hồi bốn đứa trọ chung khi hết tiền là ăn đâu đó cả tuần lễ chờ đứa nào có lương làm thêm thì sẽ cứu đói bằng những món thịt cá ê hề. Tôi múc từng muỗng ăn. Ngấu nghiến. Không phải vì đói, mà vì tôi như thấy lại quãng đời ở căn nhà trọ nhỏ nơi ngoại ô Sài Gòn. Lúc đó chúng tôi còn nghèo và còn thương nhau. Có lúc, bốn thằng gom lại, vừa vặn tiền gạo, mỳ gói và trứng. Phía sau dãy nhà trọ lụp xụp có khoảnh đất trống, chúng tôi trồng thêm rau. Nguyễn và Trần là hai đứa siêng chăm khoảnh đất ấy. Đủ thứ các loại rau tập tàng cũng cứu chúng tôi qua những ngày cạn tiền. Có hôm, chỉ cơm trắng và nồi canh rau nấu nước lã, thế thôi mà cả đám cũng vẽ vời thành những món cao lương mỹ vị. Hứa với nhau, khi đi làm có tiền, chắc chắn phải vào cái nhà hàng kia, cái quán ăn nọ, ăn cho bõ cơn thèm. Nhưng, không phải lúc nào có tiền, người ta cũng thực hiện được lời hứa của mình. Đời luôn có những chặng hành trình mà đôi khi vòng xoáy ma lực vô hình cuốn mình trôi miên miết. Mất hút một lần, phải tính chục năm.

Nguyễn dẫn tôi đi bộ về phía sông Hàn. Đêm thưa người. Gió vẫn reo. Lá vẫn hát. Những cánh hoa sưa nở muộn vàng thấm màu đêm chấp chới rơi. Tàn mùa hoa cứ rơi. Nhưng hoa cũng như người vậy đó. Trổ sắc hương rồi lặng lẽ buông mình theo dòng trôi của vòng đời. Dẫu chỉ ngắn ngủi, mà thị dân thành phố biển này, ai cũng ngẩn ngơ một mùa sưa vàng. Tất cả mọi thứ rồi cũng sẽ qua, chỉ còn điều gì khiến mình nhớ nhất mới níu con người xích lại gần nhau. Nguyễn chọn về lại quê khi mẹ vào giai đoạn cuối của căn bệnh hiểm nghèo. Ngày đó nhà đã bán, chạy chữa cũng cạn tiền. Nguyễn thở hắt, hình như lời nặng nhọc lắm mới thoát ra vành môi. Trần thấy được cái phác thảo dự án mà mày đang làm, nên nó lấy ý tưởng làm ra bản hoàn chỉnh sớm hơn. Nó để tên tao. Ngày nhận học bổng tao mới biết. Trần dọn ra khỏi nhà trọ đầu tiên là do muốn trốn tránh mày. Tao cũng hèn. Nói thật tao cần tiền cho đơn thuốc mới của mẹ. Đời tao đã mất cha từ hồi còn nhỏ xíu. Nên thôi tao hèn một lần trong đời vậy. Tao chọn về luôn để khỏi đối diện cùng ai.

Nguyễn nói, khi chúng tôi chọn ngồi nghỉ chân ngay một băng ghế đá. Sóng từ con sông vỗ miên man đêm Đà thành. Tôi phủi tay cái rột. Tôi đã biết. Phan cũng biết. Khi thầy hướng dẫn đọc cái dự án của tôi và đưa cho xem bản dự án của Nguyễn. Tôi hỏi Phan. Nhưng Phan không tin Nguyễn làm vậy. Có chăng là Trần, vì nó là đứa luôn che chở, đùm bọc cho Nguyễn. Phan giúp tôi làm lại dự án mới, nhanh nhất có thể, kịp sát ngày cuối để nộp xin học bổng. Dẫu lần đó tôi không được duyệt. Nhưng, Phan bảo mẹ Nguyễn giai đoạn cuối. Đêm đó, Phan chở tôi đi vòng vèo nhà vài đứa bạn để kiếm Nguyễn và Trần mà chẳng thấy. Đêm đó, hai đứa tôi vẫn để sáng đèn căn phòng trọ, cửa không đóng. Nhưng Nguyễn và Trần đã không về lại. Tôi tin đâu đó trong thành phố, cả bốn đứa chẳng thể ngủ. Chúng tôi chờ nhau. Chờ như chờ hằng đêm đứa nào đó trong đám đi làm thêm vẫn chưa về. Chắc chắn mấy đứa còn lại sẽ không dám ngủ. Chúng tôi nương vào nhau mà sống giữa khoảng đời đó. Mà ngặt nỗi, đời đâu bao giờ êm trôi thuận theo ý mình. Sông còn có lúc vơi lúc đầy. Huống chi là chúng tôi, những thằng con trai mới hai mươi, va chạm chẳng thấm vào đâu so với thiên hạ ngoài kia ăn muối nhiều hơn ăn cơm. Cuối cùng cuộc chờ ấy như con sóng, đánh tan cả bốn đứa dạt xa đời nhau.

Tôi lặng người nghe đêm vỗ về thành phố. Hình như Nguyễn khóc.

Không tiếng nấc. Qua ánh đèn đường vàng hắt vào mặt Nguyễn, tôi thấy có hàng nước mắt chảy dài. Tôi chụp hình Nguyễn, ngay khoảnh khắc Nguyễn không đỡ nổi, rồi gửi cho Phan. Lập tức Phan gọi. Cuộc gọi thấy hình. Phan cười hềnh hệch. Khóc với chả lóc. Đàn ông đàn ang gì kỳ vậy. Nín ngay, về mà dọn lại cái phòng sau quán cà phê. Dọn sao đủ bốn đứa ngủ đấy. Phan bảo đang ở Đông Giang. Mùa hoa Aposo trên này đang rực lắm!

Tôi ngơ ngác. Nguyễn bảo Trần đang làm mấy cái homestay trên Đông Giang. Kiểu phát triển du lịch bản địa. Hóa ra khi Phan biết tôi đi tìm Nguyễn qua đoạn clip về quán cà phê có ông chủ trung niên trầm lắng nhất Đà thành thì Phan cũng lặng lẽ moi móc khắp Đông Giang để kiếm Trần. Đời người có mấy cái mười năm để giận hờn nhau. Tuổi trẻ nào cũng có những mùa hoa đẹp nhất cho riêng mình. Phan bảo rốt cuộc thì chúng ta vẫn có những con đường riêng để sống bằng an. Vậy là mừng rồi. Ai cũng cần khoảng lắng để thấu ra nỗi thương. Đời này cứ thương nhau mà sống. Chữ thương nó tự khắc khiến người ta bỏ qua mọi thứ để giữ nhau trong một mối quan hệ. Tôi hỏi Phan đã kiếm được Trần chưa? Phan lại cười, giọng cười hô hố đầy mất nết của nó y hệt như cái lần phòng trọ cúp nước, chúng tôi tiết kiệm lắm chỉ có hai thùng nước nhỏ để tắm, Phan bày trò bắt cặp tắm chung, một gáo nước xối xuống cả hai thằng hưởng, vậy mới là tiết kiệm. Đám con trai nghịch. Hai thằng chui vào cái nhà tắm thì y như rằng sẽ chọc ghẹo nhau la í ới vang cả dãy nhà trọ.

Sáng hôm sau, mới tờ mờ, đã nghe tiếng gõ cửa quán cà phê. Giọng Phan và Trần ồn ào khắp phòng. Tôi đạp vào mông Nguyễn. Nhà của ai thì ra mà mở cửa. Khi Nguyễn ra ngoài, tôi bấm chốt khóa cửa bên trong phòng. Thêm hai thằng nữa thì có mà banh cả cái phòng này. Chẳng thể ngủ tiếp được. Nhưng, tôi lầm. Tôi chẳng phải chủ nhà, nên chỉ cần một cái chìa khóa thì những tên kia đã lao được vào phòng hất tung cái mền tôi đang cuộn tròn. Chúng khiêng tôi ra ngoài hiên. Bình minh cũng vừa rạng lên thành phố biển.

Quán cà phê “Góc nhà tụi mình” nay đóng cửa, bên ngoài treo cái bảng ghi: Chủ quán trốn bạn. Nhưng trốn ở đâu chẳng biết, khách ghé quán, mới dừng trước cổng đã nghe tiếng cười nói tưng bừng. Ghé mắt vào nhìn lại thấy bốn ông chú trung niên hả hê chọc ghẹo, dí nhau chạy, rồi hồng hộc thở hệt như lúc còn trẻ nơi phòng trọ chỉ có bốn người. Có ai đó quay cảnh ấy rồi đưa lên mạng khẳng định quán có tới bốn ông chủ. Dân mạng xúm nhau thả tim, bàn tán rộn ràng. Có đám trẻ ước được như mấy ông chú trung niên. Đời vậy mới vui. Nhưng, bốn ông chú trung niên thì đang mắc ăn cơm với mỳ gói và xỉa xói nhau trong căn phòng nhỏ, mặc kệ ngoài kia đoạn phim ngắn đó chỉ mới một ngày mà cả triệu lượt xem.

T.P.B