Đánh thức giá trị Lễ hội Mục đồng làng Phong Lệ trong phát triển công nghiệp văn hóa thành phố Đà Nẵng

Lễ hội Mục đồng làng Phong Lệ là một lễ hội đặc sắc với tín ngưỡng dân gian gắn với nông nghiệp và tục thờ Thần Nông, phản ánh đời sống văn hóa của cư dân vùng ven sông Cẩm Lệ trong lịch sử.
Điểm đặc biệt của lễ hội là vai trò trung tâm thuộc về trẻ chăn trâu, là một hình ảnh mang tính biểu tượng của xã hội nông nghiệp truyền thống Việt Nam.
Trong bối cảnh phát triển công nghiệp văn hóa hiện nay, lễ hội Mục đồng có thể trở thành nguồn lực cho phát triển du lịch văn hóa, giáo dục cộng đồng và xây dựng thương hiệu văn hóa địa phương. Từ thực tiễn đó, bài viết tập trung phân tích giá trị lịch sử - văn hóa của Lễ hội Mục đồng làng Phong Lệ, đồng thời đề xuất một số định hướng nhằm phát huy giá trị lễ hội trong chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa của Đà Nẵng trong thời gian tới.
1. Làng Phong Lệ và không gian hình thành Lễ hội Mục đồng
Làng Phong Lệ xưa nằm ở cả hai bên sông Cầu Đỏ (sông Cẩm Lệ) có tên là“Đà Ly xứ”. Năm Thiệu Trị nguyên niên (1841), Đà Ly được đổi thành Phong Lệ. Đến năm Thành Thái thứ 8 (1896), Phong Lệ được chia thành hai làng là Phong Lệ Bắc (Phong Bắc nay thuộc phường Cẩm Lệ) và Phong Lệ Nam (Phong Nam nay thuộc phường Hòa Xuân). Ở thượng nguồn sông Cầu Đỏ, gần chân núi Bà Nà, hiện có địa danh Phong Tây (tức Phong Lệ Tây, nay thuộc phường Cẩm Lệ). Theo hồi cố của những người già trong làng Phong Nam thì vùng đất này do các vị Nhâm Quý công, Mươi Quý công và Lào Quý công đến khai canh lập làng. Sau đó có thêm các tộc khác là tộc Ông, 5 tộc Ngô, 4 tộc Lê, 2 tộc Trần, tộc Phùng, tộc Nguyễn, tộc Võ, tộc Bùi và tộc Phan cùng sinh sống và xây dựng làng.
Cư dân của làng ban đầu chủ yếu là những lưu dân Thanh Nghệ và một số người Chăm bản địa. Những lưu dân đã mang theo mô hình làng Việt trên đất Thanh Nghệ đến vùng đất mới, vì thế làng xóm nơi đây không khác mấy với quê cũ. Khi đến vùng đất mới, cùng với việc khai phá đất đai, xác lập làng xã thì các thiết chế tín ngưỡng cũng được xây dựng và không ngừng được tiếp thu, sáng tạo. Việc thờ cúng, nghi lễ tưởng nhớ người đã khuất, đặc biệt là đối với ông bà tổ tiên, các vị thần được các lớp lưu dân lưu giữ, trao truyền qua nhiều thế hệ. Hệ thống các công trình tín ngưỡng dân gian làng xã cũng từng bước xuất hiện với sự phong phú, đa dạng về đối tượng và cơ sở thờ tự.

Cúng Thần Nông ở cồn Thần
Trong không gian văn hóa của làng Phong Lệ, đình làng Phong Lệ và tín ngưỡng thờ Thần Nông giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Đó là vị thần gắn với nông nghiệp, mùa màng và đời sống sản xuất. Đây là một đặc điểm hiếm gặp trong hệ thống đình làng truyền thống ở miền Trung.
Thần Nông ở làng Phong Lệ là vị thần được suy tôn, là nhân vật trong truyện kể dân gian. Tương truyền rằng, ngày xưa có một cụ già tóc bạc, râu trắng dài như một tiên ông đến làng sinh sống. Cụ đặc biệt gần gũi và yêu mến trẻ em chăn trâu và cụ cũng thường được săn sóc nâng niu kính trọng như người thân thích. Về sau, tuổi già sức yếu, ông cụ chết tại một gò đất mà sau đó trẻ em chăn trâu gọi là cồn Thần. Hằng ngày trẻ em chăn trâu thường đến gò chăm sóc mộ cụ và tỏ lòng thương tiếc. Trẻ nào có trâu đi lạc đến mộ cụ khấn vái xin thì sau đó trâu sẽ trở về, khỏi bỏ công tìm. Từ đó trở đi, trẻ em chăn trâu tin vào những linh nghiệm đó. Người làng Phong Lệ biết sự linh nghiệm của cụ nên mở hội rước Thần về an vị tại đình làng Phong Lệ, định ra lễ hội hàng năm để cúng Thần, để được Thần phù hộ cho mùa màng tốt tươi, mưa thuận gió hòa.
Đình Phong Lệ tọa lạc tại tổ dân phố Phong Nam, phường Hòa Xuân, thành phố Đà Nẵng. Đình có tên gọi khác là đình Mục Đồng. Đình được xây dựng bằng gạch, vôi và gỗ, nhìn về hướng Đông. Kiến trúc đình gồm có ba phần là tiền đường, chính điện và hậu tẩm. Phần tiền đường có gác chiêng bên phải và gác trống bên trái. Mỗi gác đều có mái lợp ngói âm dương, bốn góc mái được uốn cong hình sừng trâu. Phần chính điện gồm hai gian ba chái, trong chính điện có treo bức hoành phi bằng gỗ ghi “Phong Lệ đình” bằng chữ Hán được sơn son thiếp vàng. Trên phần mái đình có trang trí mô típ lưỡng long tranh châu được ghép bằng sành sứ.
Trong tâm thức của người dân làng Phong Lệ, Thần Nông là vị thần ban cho mùa màng tươi tốt. Cứ mỗi 3 năm đến Lễ hội Mục Đồng lại diễn ra lễ rước Thần Nông. Chủ trì là các vị trưởng làng, đại diện các tộc họ và các chủ ruộng. Lễ vật cúng Thần Nông khá đơn giản, gồm hương đèn, hoa quả, trầu cau, rượu, đồ thổ thần, xôi, gà luộc và các vật phẩm khác (nhưng không cúng heo và bò). Lễ chính diễn ra vào ngày 01 tháng 4 âm lịch hoặc ngày 01 tháng 5 âm lịch. Kiệu rước Thần Nông do làng thực hiện, bằng cách trang trí chiếc kiệu rước sắc vua ban được cất đặt tại nhà thờ chư phái tộc làng Phong Lệ. Kiệu được trang trí bằng cách kết trái găng, hoa bằng tre;… đầu các con rồng, con hạc thường dùng lá ngâu hoặc dừa cột lại. Tham gia khiêng kiệu gồm 4 mục đồng do Ban nghi lễ phân công. Vào ngày lễ chính, các mục đồng tập trung tại đình, từ tinh mơ, đám rước khởi hành đến cồn Thần, nơi có tảng đá màu trắng nằm phía đông làng. Kiệu Thần Nông dạo chung quanh cánh đồng của làng Phong Lệ. Thời gian rước 2 ngày 3 đêm, đêm thứ 3 sau lễ rước là hát mục đồng. Tham gia lễ rước có hai hàng cờ mục đồng, mỗi hàng 13 cây, kèm theo cờ của làng, cờ các chư phái tộc và các loại lồng đèn. Làng chọn 52 mục đồng mạnh khỏe, luân phiên cứ 2 người thay nhau cầm 26 cây cờ mục đồng và cờ làng. Trùm mục đứng ra khấn, sau đó tung đồng tiền lên, nếu một sấp một ngửa thì thông báo “Ngài đã giáng”. Đoàn mục đồng cầm cờ nối đuôi nhau chạy quanh cồn Thần sau đó trở về làm lễ ở đình. Khi về đến đình, vị chủ bái làm lễ an vị Thần, các chư phái tộc thay nhau vào đình dâng hương cúng Thần. Sau hồi trống báo hiệu, vị trùm mục xướng to: Hô chúng mục đồng Phong Lệ ta, rước vua Thần Nông về đồng Phong Lệ ta, tất cả mọi người có mặt trong lễ hội đều đồng thanh hô: Giá hạ! Giá hạ! Sau đó một hồi sênh nổi lên, trùm mục lại xướng: Chúng mục đồng Phong Lệ ta xin cho tốt lúa, vũ thuận phong điều, đồng reo một tiếng. Đoàn mục đồng đáp to: Giá hạ, Giá hạ.
Năm Bảo Đại thứ mười một (năm 1936) là năm cuối cùng Lễ hội rước Mục đồng được tổ chức dưới thời phong kiến. Đến năm 2007, lễ hội này mới được phục dựng với sự hỗ trợ của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Hội Văn nghệ dân gian thành phố Đà Nẵng và sự đóng góp của nhân dân. Năm 2010, Lễ hội rước Mục đồng lần thứ 2 được tổ chức, với sự phối hợp của Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch Đà Nẵng. Năm 2014, Lễ hội lần thứ 3 được 17 chư phái tộc của làng Phong Lệ tổ chức. Sau 10 năm, đến năm 2024, Lễ hội Mục đồng được huyện Hòa Vang và xã Hòa Châu (nay là phường Hòa Xuân) tổ chức và định ra lệ 2 năm tổ chức một lần, ngoài ra, các ngày lễ tết, người dân vẫn thắp hương cúng bái.
Lễ hội Mục đồng là một lễ hội truyền thống của nông dân nhằm khẳng định vị thế người chăn trâu và nâng cao giá trị lao động và sản phẩm của nhà nông. Đây là lễ hội hình thành từ nền văn minh nông nghiệp lúa nước mang tính nhân văn cao cả, nét đẹp văn hóa ở các vùng quê. Ngoài ra, lễ cúng mục đồng cũng góp phần cố kết cộng đồng, là một nét văn hóa đặc sắc cần được gìn giữ và phát huy.
2. Giá trị văn hóa của Lễ hội Mục đồng
* Giá trị lịch sử và tín ngưỡng nông nghiệp
Lễ hội Mục đồng gắn liền với tín ngưỡng thờ Thần Nông, là một tín ngưỡng phổ biến trong xã hội nông nghiệp phương Đông. Đối với cư dân làng Phong Lệ, Thần Nông không chỉ là vị thần bảo trợ mùa màng mà còn tượng trưng cho sự ổn định và phát triển của cộng đồng làng xã. Thông qua nghi lễ rước thần, tế lễ và các hoạt động cộng đồng, cư dân gửi gắm mong ước về mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu và cuộc sống bình yên. Đây là lớp văn hóa tín ngưỡng phản ánh rõ tâm thức của cư dân nông nghiệp truyền thống.
Điểm đặc sắc của lễ hội là vai trò trung tâm của các mục đồng - chính là những trẻ em chăn trâu trong làng. Trong xã hội nông nghiệp trước đây, trẻ chăn trâu là lực lượng lao động quen thuộc, gắn bó trực tiếp với hoạt động sản xuất nông nghiệp. Việc để mục đồng tham gia giữ vai trò chủ thể trong lễ hội cho thấy quan niệm coi trọng lao động và giáo dục ý thức cộng đồng cho thế hệ trẻ.
* Giá trị xã hội và tính cố kết cộng đồng
Lễ hội Mục đồng là môi trường sinh hoạt cộng đồng quan trọng của cư dân làng Phong Lệ. Trong quá trình tổ chức lễ hội, các họ tộc, bô lão, thanh niên và trẻ em cùng tham gia chuẩn bị và thực hành nghi lễ. Điều này góp phần duy trì mối quan hệ cộng đồng và củng cố cấu trúc xã hội làng quê truyền thống.

Hô Bài chòi phục vụ nhân dân trong ngày diễn ra lễ hội năm 2024
Lễ hội đồng thời là dịp để cộng đồng tưởng nhớ công lao tiền nhân khai khẩn lập làng, giáo dục truyền thống và duy trì ý thức cội nguồn. Trong bối cảnh đô thị hóa hiện nay, khi nhiều giá trị cộng đồng đang có xu hướng suy giảm, những sinh hoạt văn hóa như Lễ hội Mục đồng càng có ý nghĩa trong việc bảo tồn bản sắc địa phương.
* Giá trị nghệ thuật dân gian và diễn xướng cộng đồng
Không gian Lễ hội Mục đồng lưu giữ nhiều yếu tố nghệ thuật dân gian như nghi thức rước thần, nhạc lễ, cờ hội, hát bài chòi và các hình thức diễn xướng tập thể. Đây là những thành tố phản ánh đời sống văn hóa truyền thống của cư dân xứ Quảng.
Các yếu tố hình ảnh, âm thanh và nghi lễ trong lễ hội tạo nên một không gian văn hóa giàu tính biểu tượng. Từ góc độ công nghiệp văn hóa, đây là nguồn chất liệu quan trọng để phát triển các sản phẩm truyền thông, nghệ thuật trình diễn và du lịch trải nghiệm.
3. Lễ hội Mục đồng trong phát triển công nghiệp văn hóa
Thành phố Đà Nẵng sau khi hợp nhất với tỉnh Quảng Nam đã trở thành trung tâm di sản, sáng tạo và du lịch của miền Trung, sở hữu nguồn lực văn hóa đa dạng. Với hệ thống di sản phong phú, cùng mạng lưới làng nghề, lễ hội, phong tục, tập quán và nghệ thuật dân gian đặc sắc, Đà Nẵng có rất nhiều cơ hội để phát triển công nghiệp văn hóa. Trong xu hướng đó, Lễ hội Mục đồng có nhiều điều kiện để phát triển thành sản phẩm văn hóa đặc trưng của Đà Nẵng.
Trước hết, Lễ hội Mục đồng làng Phong Lệ mang tính độc đáo và khả năng nhận diện cao. Đây là một trong số rất ít lễ hội dân gian ở Việt Nam lấy trẻ chăn trâu làm trung tâm của nghi lễ. Tính độc bản này là lợi thế quan trọng trong xây dựng thương hiệu văn hóa địa phương.
Thứ hai, lễ hội gắn với không gian làng quê truyền thống vẫn còn tồn tại trong lòng đô thị Đà Nẵng. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch trải nghiệm gắn với văn hóa nông nghiệp và đời sống cộng đồng.
Ngoài giá trị bảo tồn di sản, Lễ hội Mục đồng làng Phong Lệ còn có khả năng chuyển hóa thành các sản phẩm công nghiệp văn hóa mang tính ứng dụng cao, phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế sáng tạo hiện nay. Tuy nhiên, việc khai thác cần dựa trên nguyên tắc khoa học, lấy cộng đồng làm chủ thể, bảo đảm tính chân thực của di sản và tránh thương mại hóa cực đoan. Từ thực tiễn phát triển công nghiệp văn hóa ở nhiều địa phương trong nước và quốc tế, có thể định hướng một số giải pháp cụ thể như sau:
Thứ nhất, phát triển phim tài liệu và phim hoạt hình về văn hóa mục đồng
Lễ hội Mục đồng chứa đựng nhiều chất liệu giàu tính hình ảnh và nhân văn, như đời sống trẻ chăn trâu, nghi lễ rước Thần Nông, không gian đình làng, văn hóa nông nghiệp và ký ức làng quê xứ Quảng. Đây là nguồn tư liệu phù hợp để xây dựng các sản phẩm điện ảnh và truyền hình mang bản sắc địa phương.
Trên cơ sở đó, thành phố có thể giao nhiệm vụ cho Hội Điện ảnh thành phố, các hãng phim, trường đại học, trung tâm truyền thông và các nền tảng số để xây dựng phim tài liệu về lịch sử làng Phong Lệ và Lễ hội Mục đồng; phim ngắn giới thiệu văn hóa dân gian Đà Nẵng; phim hoạt hình dành cho thiếu nhi khai thác hình tượng mục đồng như biểu tượng của tuổi thơ nông nghiệp Việt Nam. Việc sản xuất cần dựa trên tư liệu điền dã, phỏng vấn nhân chứng và nghiên cứu khoa học nhằm bảo đảm tính xác thực văn hóa. Đồng thời, có thể kết hợp phát hành trên nền tảng số, mạng xã hội, hệ thống trường học và các sự kiện văn hóa nhằm mở rộng khả năng tiếp cận công chúng trẻ.
Thứ hai, có thể cân nhắc xây dựng chương trình nghệ thuật thực cảnh gắn với không gian lễ hội Không gian đình Thần Nông, cánh đồng và làng cổ Phong Lệ có điều kiện thuận lợi để phát triển các chương trình nghệ thuật thực cảnh quy mô vừa và nhỏ. Đây là loại hình đang được nhiều địa phương khai thác hiệu quả trong phát triển du lịch văn hóa.
Có thể nghiên cứu xây dựng chương trình tái hiện đời sống nông nghiệp truyền thống; nghi lễ rước Thần Nông; hình ảnh mục đồng và văn hóa làng quê xứ Quảng; quá trình giao lưu văn hóa Việt - Chăm tại vùng Cẩm Lệ xưa.
Việc tổ chức cần hạn chế xu hướng sân khấu hóa quá mức, thay vào đó ưu tiên sử dụng chính không gian thật của làng quê, kết hợp âm nhạc dân gian, ánh sáng và nghệ thuật kể chuyện cộng đồng. Người dân địa phương cần được tham gia trực tiếp với vai trò chủ thể thay vì chỉ là “diễn viên minh họa”. Điều này vừa tạo sinh kế cho cộng đồng vừa góp phần duy trì sức sống của lễ hội.
Thứ ba, đẩy mạnh số hóa lễ hội và ứng dụng công nghệ thực tế ảo
Trong bối cảnh chuyển đổi số, việc xây dựng cơ sở dữ liệu số, số hóa tư liệu và ứng dụng công nghệ trong quảng bá lễ hội là yêu cầu cần thiết. Đây vừa là phương thức bảo tồn lâu dài, vừa mở rộng khả năng tiếp cận di sản đối với công chúng trong và ngoài nước…
Một trong những nguyên tắc chiến lược quan trọng trong phát triển công nghiệp văn hóa, công nghiệp sáng tạo, kinh tế sáng tạo được các cường quốc về văn hóa đại chúng và công nghiệp văn hóa là sự tích hợp TAB (Công nghệ - Nghệ thuật - Kinh doanh) và văn hóa hội tụ (Hội tụ công nghệ truyền thông
- Văn hóa tham gia - Trí tuệ tập thể). Đà Nẵng hiện đang phát triển về công nghệ số, là thành phố sáng tạo, hội tụ được nhiều thế mạnh để đảm bảo cho phát triển bền vững. Có thể cân nhắc xây dựng cơ sở dữ liệu mở “Heritage Cloud Đà Nẵng”; phát triển ứng dụng AR/VR, trò chơi di sản, phim hoạt hình văn hóa. Đối với Lễ hội Mục đồng, có thể triển khai xây dựng website và cơ sở dữ liệu số về lễ hội, số hóa hình ảnh, nghi lễ, sắc phong và tư liệu nghiên cứu, xây dựng video 360 độ, VR hoặc AR tái hiện lễ rước mục đồng hoặc ứng dụng mã QR tại đình Thần Nông và các điểm di sản liên quan.
Ngoài chức năng quảng bá, số hóa còn góp phần lưu giữ dữ liệu di sản lâu dài, phục vụ nghiên cứu, giáo dục và quản lý văn hóa. Tuy nhiên, quá trình ứng dụng công nghệ cần bảo đảm tính chuẩn xác về nội dung văn hóa, tránh tình trạng lạm dụng kỹ xảo làm sai lệch bản chất lễ hội.
Thứ tư, xây dựng chương trình giáo dục di sản cho học sinh
Một trong những giá trị lớn nhất của Lễ hội Mục đồng là khả năng giáo dục văn hóa truyền thống và ý thức cộng đồng cho thế hệ trẻ. Từ thực tiễn đó, ngành văn hóa và giáo dục có thể phối hợp xây dựng các chương trình ngoại khóa tìm hiểu Lễ hội Mục đồng; cho học sinh trải nghiệm thực hành trò chơi dân gian và nghi thức truyền thống, triển khai các chuyên đề giáo dục lịch sử địa phương… Đặc biệt, có thể đưa đình Thần Nông và không gian Phong Lệ trở thành “địa chỉ giáo dục di sản” của học sinh Đà Nẵng. Đây là mô hình đã được nhiều địa phương áp dụng hiệu quả nhằm gắn giáo dục học đường với trải nghiệm văn hóa thực tế.
Thứ năm, phát triển tour du lịch trải nghiệm văn hóa làng quê
Lễ hội Mục đồng có lợi thế nằm trong không gian văn hóa xứ Quảng, nơi còn lưu giữ nhiều yếu tố của làng quê truyền thống giữa quá trình đô thị hóa mạnh mẽ. Từ đó có thể xây dựng các tuyến du lịch kết nối: Đình Thần Nông Phong Lệ; làng cổ Phong Nam; trải nghiệm nông nghiệp và ẩm thực quê; các làng nghề làm bánh tráng, tráng mỳ Quảng… và không gian văn hóa cộng đồng các làng lân cận.
Trong xu hướng du lịch trải nghiệm hiện nay, du khách không chỉ có nhu cầu tham quan mà còn muốn tiếp cận đời sống văn hóa bản địa. Vì vậy, việc tổ chức các chương trình trải nghiệm như tham gia lễ hội, tìm hiểu nghề nông truyền thống, thưởng thức nghệ thuật dân gian hay trải nghiệm ẩm thực địa phương sẽ góp phần nâng cao giá trị du lịch văn hóa của khu vực.
Điểm quan trọng là cần phát triển theo hướng du lịch trải nghiệm quy mô phù hợp, ưu tiên tính bản địa và sự tham gia của cư dân địa phương. Người dân không chỉ hưởng lợi từ du lịch mà còn trở thành chủ thể giới thiệu văn hóa của chính cộng đồng mình. Bên cạnh đó, cần hạn chế bê tông hóa không gian làng quê, tránh biến lễ hội thành sản phẩm trình diễn đơn thuần phục vụ du khách. Phát triển du lịch văn hóa chỉ bền vững khi vẫn giữ được tính chân thực và đời sống tự nhiên của di sản.
Nhìn tổng thể, việc chuyển hóa Lễ hội Mục đồng thành các sản phẩm công nghiệp văn hóa không chỉ nhằm khai thác giá trị kinh tế mà quan trọng hơn là tạo điều kiện để di sản tiếp tục “sống” trong xã hội hiện đại. Khi được tổ chức khoa học, có sự tham gia của cộng đồng và gắn với công nghệ sáng tạo, Lễ hội Mục đồng hoàn toàn có thể trở thành một thương hiệu văn hóa đặc sắc của Đà Nẵng trong tiến trình xây dựng thành phố sáng tạo và phát triển bền vững.
Thứ sáu, xây dựng thương hiệu và hệ sinh thái sản phẩm sáng tạo từ biểu tượng mục đồng
Biểu tượng mục đồng với hình ảnh chú bé chăn trâu gắn với tuổi thơ, lao động nông nghiệp và văn hóa đồng quê Việt Nam là một hình tượng giàu tính biểu trưng, mang giá trị thẩm mỹ và nhân văn sâu sắc. Đây cũng là biểu tượng có khả năng nhận diện cao, dễ tạo thiện cảm đối với công chúng và thuận lợi trong quá trình xây dựng thương hiệu văn hóa.
Trên cơ sở đó, thành phố có thể xây dựng bộ nhận diện cho Lễ hội Mục đồng làng Phong Lệ, bao gồm logo, khẩu hiệu truyền thông, linh vật biểu trưng (mascot) và hệ thống thiết kế đồng bộ phục vụ quảng bá.
Song song với đó, cần phát triển các sản phẩm sáng tạo như tượng gốm mục đồng cưỡi trâu, tranh minh họa, đồ chơi giáo dục, sách tranh, văn phòng phẩm và quà tặng du lịch. Việc hình thành hệ sinh thái sản phẩm sáng tạo không chỉ mở rộng khả năng thương mại hóa di sản mà còn giúp hình ảnh lễ hội hiện diện thường xuyên trong đời sống đương đại, tạo thêm nguồn thu cho cộng đồng địa phương và góp phần xây dựng thương hiệu văn hóa đặc trưng của Đà Nẵng.
Nếu được đầu tư bài bản, Lễ hội Mục đồng có thể trở thành sản phẩm văn hóa bổ trợ cho hệ sinh thái du lịch văn hóa của Đà Nẵng, bên cạnh các thương hiệu hiện có như lễ hội pháo hoa, du lịch biển hay không gian di sản Hội An, Mỹ Sơn...
Thay lời kết
Lễ hội Mục đồng làng Phong Lệ là một di sản văn hóa dân gian có giá trị đặc sắc, phản ánh sâu sắc đời sống tín ngưỡng, văn hóa và cấu trúc cộng đồng của cư dân nông nghiệp xứ Quảng. Trong bối cảnh phát triển công nghiệp văn hóa hiện nay, lễ hội không chỉ có ý nghĩa bảo tồn ký ức văn hóa truyền thống mà còn có khả năng trở thành nguồn lực cho phát triển du lịch, giáo dục và kinh tế sáng tạo. Việc khai thác giá trị lễ hội theo hướng bền vững sẽ góp phần tạo dựng bản sắc riêng cho Đà Nẵng - một đô thị hiện đại nhưng vẫn giàu chiều sâu văn hóa.
Để làm được điều đó, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa chính quyền, giới nghiên cứu, doanh nghiệp văn hóa và cộng đồng cư dân địa phương. Chỉ khi di sản thực sự được đặt trong đời sống cộng đồng và gắn với nhu cầu phát triển đương đại, Lễ hội Mục đồng mới có thể phát huy đầy đủ giá trị của mình trong tiến trình xây dựng nền công nghiệp văn hóa Việt Nam hiện nay.
Đ.T.T
Đinh Thị Trang: Thạc sĩ, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học-Nghệ thuật; Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian thành phố Đà Nẵng