Dưới vực thẳm là một rạng đông

Em Đặng Văn, Lớp 11/10, Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền đoạt giải Khuyến khích Cuộc vận động sáng tác Văn học thiếu nhi Đà Nẵng 2026.
Ánh nắng chiều Đà Nẵng loang lổ sắc đỏ rực nhưng không gắt gỏng như cái nắng trưa đổ lửa của miền Trung vào mùa hạ, mà cứ dịu nhẹ vắt vẻo, chông chênh trên những ngọn cây trong sân Trung tâm Hỗ trợ Phát triển Giáo dục Hòa nhập Đà Nẵng, rồi lười biếng đậu lại trên những bờ vai gầy mảnh khảnh của mấy đứa nhỏ khiếm thị.
Ở cái mảnh sân này, đối với những học trò khiếm thị thì dù nắng chiều hoàng hôn có đẹp đến bao nhiêu cũng chỉ còn lại một màu đen u ám, hụt hẫng, xám xịt, và âm thanh trở thành thứ ngôn ngữ sống động, chân thật nhất. Từ xa xa, tiếng thầy cô giáo chào học sinh vang lên dịu dàng. Có cái gì đó dường như kỳ lạ, khiến ai tình cờ ghé ngang cũng phải ngơ ngác đứngm lại nhìn. Ở đời, thường thì trẻ nhỏ phải chào người lớn trước, trò phải thưa thầy. Nhưng ở đây, sự ngược đời ấy cứ diễn ra tự nhiên như hơi thở, đơn giản vì đám trẻ đa phần chẳng thấy đường, hoặc nếu có thấy chút ít, thì ánh mắt cũng cứ ngơ ngác, dại dại, chỉ biết đáp lại bằng những nụ cười vô ưu, vô lo.
Tôi đứng lặng ở đó, giữa lòng sân trường ngập nắng, để mặc cho những luồng thanh âm len lỏi vào tâm khảm, dệt nên một thứ cảm giác ấm sực như bàn tay ai vừa áp vào đôi má. Có tiếng nũng nịu của đứa nhỏ nào đó còn vương vất giữa hư không: “Cô ơi, ngày mai con lại đến nữa nhé!”, nghe cứ nhẹ bẫng mà sao thương đến thắt lòng. Tôi nghe cả tiếng bước chân liêu xiêu, vội vã của những người cha, người mẹ đang cố nắm thật chặt bàn tay bé xíu của con mình ra phía cổng, như thể chỉ cần nới lỏng một chút thôi, bóng tối sẽ lại bủa vây lấy hình hài bé bỏng ấy. Tất cả những mảnh âm thanh vụn vặt và đời thường ấy, bằng một cách kỳ diệu nào đó, đã tự đan cài vào nhau để dệt nên một bức tranh đời đầy đặn và lộng lẫy.
Trong đôi mắt các em, chỉ có những khoảng không gian thăm thẳm, hun hút và lặng thinh, nhưng may thay, cái hố sâu hun hút ấy đã được lấp đầy bằng sự vỗ về dịu dàng của tình thương. Một thứ tình thương không cần hình hài, không cần sắc diện, cứ thế lặng lẽ chảy tràn, sưởi ấm những góc khuất trong tâm hồn, để mỗi đứa trẻ đều cảm nhận được rằng: dù mắt không thấy nắng, nhưng lòng các em vẫn luôn cảm nhận có một buổi chiều hoàng hôn tuyệt đẹp.

Tôi cũng từng là một đứa trẻ đứng giữa khoảng sân đầy nắng ấy với một nỗi sợ mơ hồ nhưng đầy ám ảnh. Những ngày đó, thế giới trong mắt tôi vẫn còn le lói chút ánh sáng lờ mờ, nhưng đôi mắt mang căn bệnh Glaucoma lại yếu ớt như một ngọn đèn trước gió, chỉ trực chờ một cơn dông là lụi tắt. Tôi sợ nắng. Nỗi sợ ấy cứ lớn dần lên theo độ rực rỡ của mặt trời ngoài kia, tỉ lệ nghịch với chút ánh sáng le lói đang rỉ rả trôi đi như cát tuột qua kẽ tay. Nắng càng vàng vọt, tôi càng thấy lòng mình xám ngắt. Tôi sợ nắng như sợ một kẻ thù giấu mặt, cứ chực chờ tôi bước ra khỏi bóng râm là ập đến, cướp đi nốt những hình hài mờ ảo cuối cùng mà tôi hì hục níu giữ.
Những ngày đó, tôi giống như một kẻ đi lạc trong chính ngôi nhà mình, cứ loay hoay tìm những góc tối, những nơi khuất ánh mặt trời để giấu đi đôi mắt yếu ớt, như thể làm vậy là có thể bảo vệ được chút ánh sáng ít ỏi đang lụi tàn dần.
Có một buổi chiều muộn, sau khi vừa trải qua những giây phút hoảng loạn đến nghẹt thở vì thị giác đột ngột biến mất - một khoảng không đen đặc và lạnh lẽo choàng lấy tôi - tôi đã đem hết thảy nỗi sợ ấy trút lên vai chị. Chị tôi đứng đó, lặng ngắt như một gốc cây già trước bão. Khi tiếng nấc của tôi dứt hẳn, gương mặt chị bỗng sững lại, trắng bệch và im lìm. Cái im lặng lúc đó dài lê thê, dài như một thế kỷ của nỗi đau thắt lại giữa lồng ngực. Tôi nghe rõ cả tiếng hơi thở run rẩy của hai chị em hòa vào tiếng gió xào xạc ngoài hiên. Tôi biết, sâu trong lòng chị, một phần hy vọng cuối cùng chị dành cho tôi - cái hy vọng mong manh về một đôi mắt sáng - vừa mới lịm chết.
Căn bệnh quái ác này vốn là nỗi ám ảnh truyền đời, một bóng ma chập chờn đã từng cướp đi ánh sáng của chị, nay lại bắt đầu tước đoạt nốt thế giới của tôi. Chị đã từng đi khắp nơi, gõ cửa bao nhiêu phòng khám để rồi chỉ nhận lại những cái lắc đầu lạnh lùng của các y bác sĩ. Chị không nói một lời an ủi sáo rỗng nào, vì chị hiểu hơn ai hết rằng khi trái tim đã tan nát, những câu chữ bóng bẩy chỉ làm những vết cứa thêm sâu. Trong bóng tối mênh mông đang dần đóng đinh vào định mệnh, tôi bỗng thốt lên một câu nói mà có lẽ cả đời này tôi không bao giờ quên được: “Chị ơi, chị có thể dạy cho em học chữ nổi được không ạ?”.
Chị không đáp, chỉ lặng lẽ nắm lấy bàn tay đang run rẩy của tôi. Đôi bàn tay chị thô ráp, chai sần nhưng lại ấm sực một tình thương không lời. Chị dắt tôi lại phía chiếc bàn gỗ nhỏ ở góc nhà. Đêm đó, dưới ánh đèn dầu mờ ảo mà thực tế cả hai chị em đều không còn nhìn rõ mặt nhau, chị bắt đầu dạy cho tôi những con chữ nổi đầu tiên. Chị đặt bàn tay mình phủ lên bàn tay yếu ớt của tôi, run rẩy dắt từng ngón tay tôi chạm vào những hạt giấy li ti gồ lên. Những điểm chạm ấy trong phút chốc như những tia điện nhỏ chạy dọc sống lưng, làm bừng tỉnh một giác quan đang say ngủ trong tôi.
Chị thì thầm, giọng khản đặc nhưng cương nghị:
- Văn ơi, gắng lên em. Những hạt này chính là đôi mắt mới của em đấy. Chị không biết ngày mai mắt em có còn thấy gì không, nhưng chị biết, nếu em chịu học những nốt nhạc của bóng tối này, thì dù bóng đêm có đặc quánh đến đâu, em vẫn có thể tự dắt tay mình đi tìm con chữ.
Chị dừng lại một chút, như để nén lại một tiếng thở dài vào trong, rồi tiếp tục:
- Chữ Braille, nó mọc lên từ giấy như mầm cây kiên cường mọc lên từ đất đen, li ti nhưng cứng cỏi lắm. Mỗi khi em chạm vào nó là đang chạm vào nhịp đập của thế giới ngoài kia, chạm vào những người em yêu thương, và chạm vào cả cái “nắng” mà em đang khao khát đến tận cùng. Mai này, khi đôi mắt không còn nhìn thấy ánh sáng mặt trời, thì đôi tay em sẽ thay đôi mắt ấy đi tìm ánh sáng của tri thức, tìm một tương lai thuộc về riêng em.
Giọng chị khàn đặc. Một giọt nước mắt nóng hổi rụng xuống mu bàn tay tôi, rồi thấm nhòe lên mặt giấy, làm mềm đi những hạt giấy li ti. Trong không gian đặc quánh mùi dầu hỏa và hơi lạnh của đêm, tôi thấy những hạt giấy gồ ghề ấy không còn là những ký hiệu vô tri. Chúng là những nốt nhạc đang tấu lên bản giao hưởng của hy vọng, là chiếc gậy dẫn đường để tôi hiên ngang bước đi giữa cuộc đời, dù trước mắt chỉ còn là một màu đen thăm thẳm.
Những ngày tháng ấy, nước mắt của tôi và chị hòa vào nhau, âm thầm tưới tẩm cho những mầm sáng kiên cường mọc lên từ tầng đất sâu của sự tuyệt vọng. Chị dạy tôi bằng sự kiên nhẫn của một người đã từng độc hành qua bóng tối, dìu dắt tôi bằng sự bao dung của một trái tim muốn gom hết thảy đêm đen về phía mình, để nhường lại cho em chút ánh sáng của niềm tin và khát vọng. Nhưng rồi, định mệnh nghiệt ngã vẫn lạnh lùng gõ cửa. Tôi không còn phải loay hoay “tránh nắng” nữa, vì bóng tối đã đóng đinh vĩnh viễn vào đôi mắt tôi.
Thế nhưng, chính khi cánh cửa thị giác khép lại, một chân trời khác của tâm hồn trong tôi lại chực mở ra. Bóng tối không còn là vực thẳm câm lặng hay nỗi sợ hãi nghẹt thở, mà đã hóa thành một đại dương mênh mông, cuộn sóng những thanh âm và cảm xúc mãnh liệt. Căn phòng nhỏ của tôi giờ đây không còn là ốc đảo của sự cô độc, mà đã trở thành một thánh đường của xúc giác. Nơi đó ngổn ngang những bản thảo chữ nổi - những “nốt nhạc” gồ ghề, kiêu hãnh chứa đựng cả một bầu trời rung cảm mà tôi chắt chiu từ những ngăn thẳm sâu nhất của tâm hồn mình.
Với tôi lúc này, thế giới màu sắc đã tái sinh bằng một quyền năng vô hình. Màu vàng của nắng không còn là khái niệm xa vời, mà là sự vuốt ve ấm áp trên đôi gò má, mang theo mùi nồng nàn của đất mẹ và hương cỏ khô giòn tan trong gió sớm. Màu xanh của hàng cây nơi sân trường Trung tâm Hỗ trợ Phát triển Giáo dục Hòa nhập Đà Nẵng hiện lên qua những thanh âm xào xạc tràn trề nhựa sống; mỗi nhịp gió lùa qua là một lần lòng tôi mở ra thênh thang giữa đất trời. Và màu đỏ, ôi cái màu đỏ thiêng liêng và nồng cháy của tình thân! Nó ấm nồng như bàn tay tần tảo, thô ráp của mẹ mỗi sớm mai, dịu dàng như chén trà chị pha khói tỏa nghi ngút mỗi đêm tôi thức trắng để trút cạn lòng mình lên mặt giấy.
Bước ngoặt huy hoàng và kiêu hãnh nhất, giây phút mà tôi cảm thấy mình thực sự được “sống” thêm một cuộc đời mới, là khi những đầu ngón tay run rẩy lướt trên trang Tạp chí Đất Quảng số tháng 4 năm 2026. Cảm nhận cái tên Đặng Văn hiện diện trang trọng trên trang tạp chí, tôi hiểu rằng mình không còn là kẻ lầm lũi bên lề cuộc đời. Trong không gian tĩnh mịch, lời chúc của một cô nhà văn vang vọng bên tai: “Chúc con sớm trở thành một cây bút chuyên nghiệp nhé, Đặng Văn!”.
Câu nói ấy như mồi lửa thần kỳ ném thẳng vào đống củi khô của khát vọng bấy lâu, thiêu rụi mọi mặc cảm tự ti và thắp lên một ngọn đuốc rực rỡ xuyên thấu đêm đen. Tôi nhận ra rằng: Dù đôi mắt không còn thấy nắng trời, nhưng trong huyết quản tôi đang chảy tràn cái “nắng” của văn chương. Đó là thứ ánh sáng không bao giờ tắt, một loại quyền năng có thể sưởi ấm những mảnh đời cùng cảnh ngộ, biến nỗi đau thành sức mạnh và biến bóng tối thành bài ca bất diệt của niềm tin.
Mỗi sớm mai, khi những giọt sương vẫn còn lười biếng đọng trên tán lá non, không gian tại Trung tâm Hỗ trợ Phát triển Giáo dục Hòa nhập Đà Nẵng lại bắt đầu chuyển mình trong một nhịp điệu riêng biệt. Với những học sinh lớp 11 đang học hòa nhập tại Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền như tôi, buổi sáng không bắt đầu bằng việc nhìn ra cửa sổ xem nắng đã lên chưa, mà bắt đầu bằng thanh âm của sự gắn kết và những bước chân đồng điệu của tình thân.
Trong tâm tưởng tôi, hình ảnh chúng tôi dắt tay nhau đi đến trường tựa như một trò chơi “rồng rắn lên mây” hay một đoàn tàu hỏa nhỏ nhắn đang kiên cường băng qua những con phố để tìm đến bến đỗ tri thức. Tôi nhớ như in những ngày đầu chập chững bước qua cổng trường Nguyễn Thượng Hiền, trái tim tôi khi ấy là một mảnh vườn khô héo, đầy rẫy sự bất an và lạc lõng. Nhưng rồi, chính những bàn tay của chị Thư, chị Hằng, chị Nhi - những người đồng cảnh ngộ, những người đã thuộc nằm lòng từng khoảnh sân, góc lớp - đã đan chặt lấy tay tôi và dẫn dắt tôi đi những bước chân đầu tiên.
Đặc biệt hơn cả, sự ấm áp không chỉ đến từ những người cùng cảnh ngộ. Những người bạn bình thường khác tại trường Nguyễn Thượng Hiền cũng dành cho chúng tôi một sự đón nhận đầy bao dung. Các bạn không nhìn chúng tôi bằng ánh mắt thương hại, mà bằng sự vui vẻ, hòa đồng và dìu dắt hết sức nhẹ nhàng. Có những giờ ra chơi, các bạn chủ động đến bên, trò chuyện rôm rả về bài giảng, hay nắm tay dẫn chúng tôi đi tham quan những hàng cây, ghế đá. Những cái nắm tay dịu dàng ấy không chỉ giúp chúng tôi vững bước trên đường đi, mà còn truyền sang một luồng điện của sự tự tin, giúp tôi hiểu rằng thế giới ngoài kia luôn rộng mở nếu mình đủ dũng cảm mở lòng.
Tại mái nhà Trung tâm, hành trình ấy còn được dệt bằng khát khao mãnh liệt của những tâm hồn bé thơ. Trong thế giới tĩnh mịch của mình, tôi nhận diện sự sống qua những thanh âm rộn rã nhất. Khi tôi đang dò dẫm sử dụng kỹ năng định hướng giữa khoảng sân quen thuộc, mải mê cùng bạn bè thảo luận về những dự định thi cử và ước mơ tương lai, thì từ phía xa xa, một giọng nói lảnh lót, tràn đầy nhựa sống đã phá tan bầu không khí:
- Anh Văn ơi! Anh Văn ơi!
Tiếng bước chân nhỏ xíu của Bình chạy lạch bạch về phía có tiếng gậy dò đường của tôi rồi chậm dần lại, em dò dẫm đi từng bước thật cẩn trọng cho đến khi đôi bàn tay nhỏ xíu ấy chạm được vào người tôi. Giọng nói của em bừng lên sự phấn khích và ngưỡng mộ chân thành:
- Anh Văn ơi, sáng nay trong giờ học, tụi em đã được cô giáo đọc cho nghe bài “Hương sen” và “Hướng về mặt trời” của anh trên Tạp chí Đất Quảng số tháng 4 năm 2026 rồi đó! Em thích lắm! Nghe bài “Hương sen”, em cảm nhận được đức tính thanh cao, giản dị, khiêm tốn và cả sự hy sinh thầm lặng của Bác đang lan tỏa, ướp thơm từng góc lớp học mình. Còn bài “Hướng về mặt trời”, em biết anh muốn dặn tụi em rằng khi cánh cửa ánh sáng vật lý đóng lại, trái tim mình phải là mặt trời thứ hai để vượt lên nghịch cảnh của số phận, đúng không anh?
Nói xong, Bình chợt trở nên ngập ngừng. Em tiến lại gần hơn, đôi bàn tay bé xíu khẽ nắm chặt lấy bàn tay tôi, thanh âm bỗng trở nên thỏ thẻ, chứa chan một niềm mong đợi cháy bỏng:
- Anh Văn ơi... anh có thể viết thêm thật nhiều những bản tản văn như vậy nữa được không? Anh viết bằng chữ nổi đi anh, để tự tay em có thể rờ rẫm, có thể “chạm” vào ánh nắng tuyệt vời, cảm nhận được những ngọn núi hùng vĩ, kiên cường và những tâm hồn không bao giờ khuất phục trước khiếm khuyết qua những nốt chữ của anh. Em muốn được thấy thế giới rực rỡ qua con chữ của anh...
Tôi xúc động đến lặng người, đưa tay tìm kiếm rồi xoa nhẹ lên mái tóc tơ mềm mại của em, khẽ gật đầu: “Anh hứa với Bình, anh sẽ chuyển đổi thật nhiều bài tản văn sang chữ nổi để anh em mình và các bạn cùng nhau đọc, cùng nhau thấy thế giới này đẹp đẽ đến nhường nào”.
Nhận được lời khẳng định của tôi, Bình reo lên một tiếng đầy hạnh phúc, thanh âm ấy trong trẻo như tiếng chuông. Em quay người chạy vụt đi, tiếng chân sáo nhảy nhót rộn ràng. Tôi đứng lặng im giữa sân trường, nghe tiếng cười đùa tươi vui và tiếng reo hò của em xa dần, xa dần rồi khuất sau những dãy hành lang lớp học: “Các bạn ơi, anh Văn hứa rồi! Anh Văn sẽ viết chữ nổi cho tụi mình đọc về thế giới nhiều màu sắc này rồi!”.
Nghe theo hướng thanh âm đang mờ dần ấy, tôi hiểu rằng mỗi nốt Braille mình tỉ mẩn gieo xuống chính là một cửa sổ tâm hồn đang mở ra. Bóng tối giờ đây không còn là bức tường ngăn cách tuyệt vọng, mà đã trở thành một bức màn nhung tĩnh lặng, buộc chúng tôi phải lắng nghe thế giới bằng cả trái tim và yêu thương bằng một thứ trực giác thuần khiết nhất. Giữa những nốt chữ li ti ấy, chúng tôi đang cùng nhau vẽ nên một mặt trời rực rỡ của riêng mình - một mặt trời không bao giờ tắt lặn phía sau những điểm chạm của những tình thương.
Bóng tối không giam cầm tôi, nó chỉ là khoảng lặng thiêng liêng để tôi tự thắp lên ngọn đèn văn chương rực rỡ của chính mình. Ước mơ của tôi giờ đây không còn bó hẹp trong gian phòng nhỏ đầy những trăn trở, mà đã vươn cánh bay xa theo từng nhịp đập của khát khao mãnh liệt. Sau khi tốt nghiệp THPT, tôi khao khát được đặt chân vào giảng đường khoa Ngữ văn của trường Đại học Sư phạm - nơi tôi có thể đắm mình trong biển tri thức bao la, để sau này trở thành một người truyền lửa, một người viết tiếp những bài ca về nghị lực sống. Tôi muốn dùng tiếng nói từ trái tim mình để chứng minh rằng: người khiếm thị không phải là những người cần sự thương hại hay ban ơn mà hoàn toàn có thể góp phần làm rạng rỡ thêm mảnh đất Việt Nam, làm đẹp giàu thêm tâm hồn con người bằng chính tài năng, sự rung động và một ý chí sắt đá không gì lay chuyển nổi.
Tôi viết chậm lắm, mỗi chữ hiện lên dưới đầu ngón tay là một lần tôi chạm vào mạch đập của cuộc đời, là một lần tôi cảm nhận được hơi thở nồng nàn của nhân gian qua từng trang giấy nổi thơm mùi hy vọng. Tôi muốn văn mình cũng giống như cách thầy cô và bạn bè đối đãi với chúng tôi ở mái nhà chung này: nhẹ nhàng như hơi thở, bao dung như lòng đất và đầy thấu hiểu như những người tri kỷ tâm giao. Tôi không còn sợ nắng nữa, cũng chẳng còn muốn trốn chạy khỏi ánh sáng hay giấu mình vào những góc tối cô đơn. Cái “nắng” trong mắt tôi bây giờ không còn là những tia sáng chói chang làm đau đôi mắt tật nguyền, mà là sự ấm áp tỏa ra từ đôi bàn tay tần tảo của mẹ, là niềm tin mà chị gái, cô nhà văn nọ và những người đi trước đã gửi gắm vào đôi vai tôi. Đó là thứ ánh sáng không bao giờ tắt, thứ ánh sáng soi thấu mọi góc khuất của nỗi đau để tìm thấy mầm sống của hy vọng và bản lĩnh của một con người.
Ngày mai, tôi vẫn sẽ đến trường với niềm kiêu hãnh của một kẻ không bao giờ đầu hàng trước định mệnh nghiệt ngã, với hành trang là những cái nắm tay dịu dàng, vui vẻ của bạn bè trường Nguyễn Thượng Hiền. Ngày mai, tôi vẫn sẽ tiếp tục kiên nhẫn gõ những dòng chữ nổi trên trang giấy trắng, để mỗi nốt Braille hiện ra là một nốt nhạc của niềm tin, là một bậc thang vững chãi đưa tôi và những em nhỏ như Bình chạm đến đỉnh cao của tri thức. Dù đôi mắt vẫn khép lại trước ánh nắng chiều rực rỡ, thì từ sâu thẳm vực tối mịt mù, một rạng đông huy hoàng của ý chí đã chính thức bừng tỉnh, xua tan mọi giá lạnh của mặc cảm tự ti. Tôi nguyện với lòng mình sẽ mãi là đóa hướng dương lặng lẽ tỏa hương nghị lực, luôn hướng về phía mặt trời bằng tất cả lòng tự trọng và kiêu hãnh. Bởi tôi hiểu rằng, mình chính là nguồn ánh sáng tự thân, một ngọn đuốc không bao giờ tắt lịm. Tôi sẽ sống một cuộc đời trọn vẹn, kiên cường, không lùi bước, và chẳng bao giờ phải hối tiếc vì đã yêu thương cuộc đời này bằng cả trái tim nguyên vẹn, nồng cháy nhất...
Đ.V