Văn nghiệp Huỳnh Thúc Kháng trong sự vận động của tư tưởng và thời đại

01.10.2026
Võ Văn Hoàng

Văn nghiệp Huỳnh Thúc Kháng trong sự vận động của tư tưởng và thời đại

Cụ Huỳnh Thúc Kháng (cầm quạt, ngồi giữa) tại trụ sở báo Tiếng Dân năm 1937. Ảnh tư liệu.

Trong lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XX, Huỳnh Thúc Kháng được biết đến trước hết với tư cách là một chí sĩ yêu nước, nhà hoạt động chính trị, xã hội và người sáng lập báo Tiếng Dân. Bên cạnh đó, ông còn để lại một di sản trước tác phong phú gồm thơ, phú, văn chính luận, hồi ký, khảo cứu, biên soạn và dịch thuật. Những tác phẩm ấy phản ánh rõ những chuyển biến tư tưởng, xã hội của Việt Nam đầu thế kỷ XX, khi Nho học đứng trước yêu cầu đổi mới và tư tưởng canh tân, dân quyền ngày càng được đề cao.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Q. Thắng nhận xét rằng, các “công trình nghiên cứu, sáng tác của Huỳnh Thúc Kháng tuy không nhiều nhưng ở mỗi bộ môn của các văn phẩm ấy đều có tính cách đa diện; dù cho khi ông viết vấn đề gì, thì ngòi bút đó đều nhằm tới một đối tượng nhất định: lo cho dân giàu nước mạnh”1.

Trong văn nghiệp của mình, Huỳnh Thúc Kháng để lại một số tác phẩm đáng chú ý như Thi tù tùng thoại, Thi văn với thời đại, Thi tù thảo, Việt ngâm thi thoại, Thi vịnh sử, cùng nhiều tác phẩm thơ, văn, khảo cứu, biên soạn và dịch thuật.

Và, có một điểm đáng lưu ý là, Huỳnh Thúc Kháng không chủ trương xây dựng sự nghiệp văn chương theo nghĩa một nhà văn chuyên nghiệp và thường từ chối vai trò nhà văn của mình dù cho ông viết văn, làm thơ… rất nhiều2. Chính điều đó phần nào cho thấy văn chương không phải mục đích tự thân trong hoạt động của ông. Ông viết từ những yêu cầu của đời sống và thời cuộc, dùng chữ nghĩa để ghi chép, giáo dục, cảnh tỉnh, lưu giữ ký ức và bày tỏ chính kiến trước những vấn đề của đất nước. Vì vậy, trong sự nghiệp Huỳnh Thúc Kháng, thơ văn luôn gắn với hoạt động xã hội và những trải nghiệm của chính ông.

* Văn chương như tiếng nói canh tân và yêu nước

Nhà báo, nhà nghiên cứu văn học và trí thức yêu nước Vương Đình Quang - người từng làm thư ký cho Phan Bội Châu và Thư ký tòa soạn báo Tiếng Dân, có nhiều năm trực tiếp làm việc, gắn bó với Huỳnh Thúc Kháng - trong bài viết “Con người và thơ văn” nhận định rằng: “Nói về Huỳnh Thúc Kháng thì không thể không nói đến sự nghiệp văn học của ông. Nhà Nho yêu nước ấy là một nhà thơ, một nhà văn  đồng thời là một nhà chính trị. Đóng góp của ông đối với sự nghiệp chung của dân tộc cũng bao gồm cả phần văn chương, đành rằng phần văn chương ấy cũng không phải để phục vụ cái gì khác hơn là chính trị. Có thể nói rằng trong lớp sĩ phu tiến bộ đầu thế kỷ XX, ngoài Phan Bội Châu, không ai viết nhiều hơn ông”3.

Những sáng tác đầu tiên của Huỳnh Thúc Kháng gắn liền với phong trào Duy tân. Đó là những bài thơ, bài vè cổ động “theo mới bỏ cũ (tuy chỉ những bài thơ ngắn nhưng giá trị thật lớn lao, và giá trị sâu xa nên được xem như một tác phẩm) được truyền tụng trong dân gian đến các bậc khoa bảng. Rồi những bài ấy trở nên những bài học chính thức tại các nghĩa thục vào các năm 1900 - 1908”4.

Trong số những sáng tác này, bài phú Lương ngọc danh sơn giữ một vị trí đáng kể. Tác phẩm được viết bằng một thể văn vốn thuộc truyền thống Hán học, nhưng nội dung lại hướng vào những vấn đề đang đặt ra trước xã hội: sự trì trệ của nền học cũ, nhu cầu mở mang dân trí và ý thức tự cường. PGS.TS. Trương Công Huỳnh Kỳ cho rằng, trong cuộc Nam du năm 1905 để xem xét tình hình, đề xướng tân học, lúc đi ngang tỉnh Bình Định, gặp kỳ khảo hạch thí sinh dự thi Hương năm sau, “Phan Châu Trinh làm bài thơ Chí thành thông thánh, Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng hợp sức sáng tác bài phú Lương ngọc danh sơn, công khai phê phán khoa cử Nho học, thái độ thờ ơ của tầng lớp quan lại, trí thức Nho học đối với vận mệnh của đất nước, lên án thực dân Pháp, kêu gọi duy tân, cải cách học thuật, xả thân đấu tranh để cứu nước”5. Việc dùng một thể văn quen thuộc của Hán học để truyền đạt tư tưởng Duy tân cho thấy sự chuyển biến trong tư duy sáng tác của Huỳnh Thúc Kháng: từ khuôn khổ văn chương truyền thống hướng đến những vấn đề của thời cuộc.

Trong thơ Huỳnh Thúc Kháng, cảm hứng về đất nước, thời thế và trách nhiệm của người sĩ phu thường nổi bật hơn những cảm xúc riêng tư. Những năm tháng ở Côn Đảo càng làm rõ điều đó. Trong Thi tù tùng thoại ông cho rằng, “biết chữ nhiều mối lo, văn-tự lụy người, xưa nay cùng đồng mối cảm-khái ấy, cho đến đã vì cái cớ văn-tự, đày ra ngoài đảo hoang, góc biển, nhốt trong khám kín, mà cái dây “văn-tự” làm lụy đó, vẫn dăng dính mãi, không chịu rời ra, cứ theo bó buộc đến trọn đời, há không phải quỉ thần ghét người biết chữ sao?”6. Câu chữ có phần hóm hỉnh nhưng chất chứa một nghịch lý: chữ nghĩa vừa là nguyên nhân khiến ông chịu cảnh tù đày, vừa là phương tiện để ông ghi lại thời thế, bộc lộ khí tiết và tiếp tục lên tiếng trước vận mệnh đất nước.

Vương Đình Quang còn cho biết, Huỳnh Thúc Kháng, con người tự cho là “thi cuồng” ấy, hầu như sống về thơ hơn là về món cơm lứt của nhà tù. Mười ba năm ròng rã, xa vợ xa con, xa quê hương, chân trời góc bể, cay đắng đủ mùi, nhà thơ được tôi luyện trong “trường học thiên nhiên” chỉ có thể trở nên già dặn hơn, phong phú hơn. Ở đây hận vong quốc mới càng thấm thía, càng nung nấu tâm can nhà chí sĩ: Vẫn cầm cái chết như không/ Chưa nên một việc tấm lòng chưa cam!7.

Từ những bài thơ, bài vè cổ động duy tân đến Lương ngọc danh sơn phú và những sáng tác trong thời gian bị giam cầm, văn chương Huỳnh Thúc Kháng luôn gắn với thời cuộc và trách nhiệm của người trí thức. Ở đó, tư tưởng canh tân và tinh thần yêu nước không tách rời hoạt động sáng tác, mà trở thành một trong những đặc điểm nổi bật của văn nghiệp của ông.

* Thi tù tùng thoại: Ký ức, lịch sử và phẩm giá con người

Trong văn nghiệp Huỳnh Thúc Kháng, Thi tù tùng thoại gắn với mười ba năm ông bị lưu đày ở Côn Đảo. Tác phẩm ghi lại thơ và chuyện của những người tù chính trị cùng thời, trong đó tác giả là một người trực tiếp trải qua những năm tháng ấy.

Ngay ở phần “Yếu-điểm nên biết”, Huỳnh Thúc Kháng viết: “Bản nầy là ký-giả chép góp thi và chuyện của một ít bạn chính-trị-phạm đồng tội trong thời-gian 13 năm bị đày ở đảo Côn-Lôn (Poulo-Condore) mà ký-giả là một người trong đồng bạn ấy, tai nghe mắt thấy toàn là chuyện thiệt, khởi đầu năm 1908 đến năm 1921”8. Lời tự xác nhận này cho biết rõ nguồn gốc của những câu chuyện được ghi lại: Viết từ những gì đã nghe, đã thấy và đã trải qua. Vì vậy, Thi tù tùng thoại có tính chất của một tập hồi ký, đồng thời cung cấp nhiều tư liệu về những người tù chính trị và phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX. Ở Thi tù tùng thoại, người đọc bắt gặp nhiều tài liệu liên quan đến hoàn cảnh xã hội, diễn tiến cách mạng Việt Nam hồi đầu thế kỷ cùng tư tưởng, tình cảm của các nhà ái quốc cách mạng Việt Nam, nhất là phong trào Đông Du, Duy Tân9.

Những trang viết về Côn Đảo chủ yếu xoay quanh con người và những câu chuyện cụ thể: cảnh bắt bớ, án tù, những chuyến áp giải, sinh hoạt của người tù và các cuộc gặp gỡ, trò chuyện giữa họ. Trong hoàn cảnh bị giam cầm, thơ, câu đối và chuyện kể trở thành một phần đời sống tinh thần của người tù. Qua đó, người đọc thấy được tình đồng chí, sự gắn bó với quê hương và ý thức về đất nước của những con người bị tước mất tự do.

Một điểm đáng chú ý là sự thận trọng của Huỳnh Thúc Kháng khi ghi chép. Những bản thảo ông viết ở Côn Đảo bằng Hán văn đã bị tịch thu và đốt khi ông được trả tự do. Sau này, ông phải dựa phần lớn vào trí nhớ để biên soạn lại. Khi không nhớ chính xác một vài chữ trong thơ của người khác, ông chú thích rõ chỗ mình bổ sung10. Điều đó cho thấy ý thức nghiêm túc của ông đối với độ chính xác của tư liệu.

Thi tù tùng thoại không thuần nhất về thể loại, mà đan xen chuyện kể, thơ, câu đối, lời bình và chú thích. Các bài thơ thường đi cùng một con người, sự việc hoặc hoàn cảnh cụ thể, gắn với những năm tháng lưu đày nơi Côn Đảo.

* Lưu giữ ký ức và đưa chữ nghĩa vào đời sống công luận

Bên cạnh Thi tù tùng thoại, Thi văn với thời đại cho thấy Huỳnh Thúc Kháng còn dành nhiều công sức sưu tầm, dịch thuật và giới thiệu thơ văn của các thế hệ trước và những người cùng thời. Ông đã “góp nhặt một số thơ văn (phần lớn là Hán văn)” của các quan lại, nhà khoa bảng và những người yêu nước thuộc các phong trào Cần Vương, Văn thân, sau đó dịch sang Việt văn, kèm theo chú thích, nhận định và phê bình. Những công việc này giúp giới thiệu các tác phẩm ấy đến bạn đọc đương thời, đồng thời lưu lại một phần tư liệu về các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.

Trong Huỳnh Thúc Kháng niên phổ, đối tượng ghi chép là chính cuộc đời ông. Đây là tập tự truyện, ghi lại những chặng đường và biến cố quan trọng trong cuộc đời, từ việc học hành, hoạt động xã hội đến những năm tháng tù đày và trở lại đời sống chính trị. Những trước tác viết về Phan Châu Trinh cũng có ý nghĩa đáng kể. Qua việc ghi lại người bạn, người đồng chí của mình, Huỳnh Thúc Kháng đồng thời nhắc lại một giai đoạn hoạt động của phong trào Duy tân và những biến chuyển trong giới sĩ phu đầu thế kỷ XX.

Với báo Tiếng Dân, hoạt động viết của Huỳnh Thúc Kháng gắn trực tiếp với những vấn đề đang diễn ra trong xã hội. Ông viết về văn học, lịch sử, xã hội, phong tục, dịch thuật và nhiều vấn đề thời sự. Nguyễn Q. Thắng nhận xét ông là “một nhà báo chân chính, không bao giờ tách rời con người yêu chân lý, yêu sự thật”1. Ở ông, với bất kỳ thể loại nào đều gắn với những vấn đề của đất nước và xã hội. Việc cầm bút vì thế cũng là một cách ông thực hiện trách nhiệm của người trí thức trước thời cuộc.

*

*      *

Huỳnh Thúc Kháng không chủ trương xây dựng sự nghiệp văn chương theo nghĩa một nhà văn chuyên nghiệp. Ông đến với chữ nghĩa từ hoạt động xã hội, chính trị, báo chí và những trải nghiệm của chính mình. Vì vậy, thơ văn, khảo cứu, hồi ký và báo chí của ông thường gắn với những vấn đề của đất nước, dân tộc và thời cuộc.

Qua các trước tác, có thể thấy rõ sự gắn bó giữa văn chương và cuộc đời hoạt động của Huỳnh Thúc Kháng. Những gì ông viết về lịch sử, con người, tù đày, canh tân hay đời sống xã hội đều có dấu ấn của một người trực tiếp tham gia và chứng kiến. Đây cũng là nét riêng trong văn nghiệp Huỳnh Thúc Kháng: chữ nghĩa luôn đi cùng trải nghiệm, tư tưởng và trách nhiệm của người cầm bút.

V.V.H

 *: Nguyễn Q. Thắng (1972), Huỳnh Thúc Kháng - Con người và thơ văn (1876-1947), Phủ Quốc vụ khanh đặc trách Văn hóa xuất bản, Sài Gòn, tr 130.

1. Nguyễn Q. Thắng (1972), sđd, tr 130.

2. Chương Thâu - Phạm Ngô Minh (Sưu tầm - biên soạn) (2010), Huỳnh Thúc Kháng tuyển tập, Nxb Đà Nẵng, tr 1737.

3. Nguyễn Q. Thắng (1972), sđd, tr 131.

4. PGS.TS. Trương Công Huỳnh Kỳ (2023), “Ảnh hưởng của phong trào Duy tân Quảng Nam ở Việt Nam”, Tư tưởng canh tân của nhà yêu nước Phan Châu Trinh, Nxb Đà Nẵng, tr 141.

5. Huỳnh Thúc Kháng (1936), Thi tù tùng thoại, bản in theo báo Tiếng Dân, tr 62.

6. Chương Thâu - Phạm Ngô Minh (Sưu tầm - Biên soạn) (2010), sđd, tr 1740.

7. Huỳnh Thúc Kháng, Thi tù tùng thoại, Sđd, tr 2.  

8. Nguyễn Q. Thắng (1972), sđd, tr 132.

9. Nguyễn Q. Thắng (1972), sđd, tr 132.

10. Nguyễn Q. Thắng (1972), sđd, tr 136.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Chương Thâu - Phạm Ngô Minh (Sưu tầm - Biên soạn) (2010), Huỳnh Thúc Kháng tuyển tập, Nxb Đà Nẵng.

2. Nguyễn Thắng (1972), Huỳnh Thúc Kháng - Con người và thơ văn (1876-1947), Phủ Quốc vụ khanh đặc trách Văn hóa xuất bản, Sài Gòn.

3. Huỳnh Thúc Kháng, Thi tù tùng thoại, bản in theo báo Tiếng Dân,

4. Tỉnh ủy Quảng Nam (2016), Huỳnh Thúc Kháng với cách mạng Việt Nam và quê hương Quảng Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

5. Anh Minh Ngô Thành Nhân (1961), Ngũ-Hành-Sơn Chí-Sĩ, Anh Minh xuất bản, tr 89.

6. Nhiều tác giả (2023), Tư tưởng canh tân của nhà yêu nước Phan Châu Trinh, Nxb Đà Nẵng, tr 141.