Nguyễn Tấn Sĩ: câu thơ rêu biếc phiêu du về trời!...

07.10.2026
Phan Chí Anh

Nguyễn Tấn Sĩ: câu thơ rêu biếc phiêu du về trời!...

Nhà thơ Nguyễn Tấn Sĩ (1956-2026)

Sau nhiều năm sống chung với bệnh tật, rạng sáng ngày 01/9/2026, nhà thơ Nguyễn Tấn Sĩ - nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh Quảng Nam; nguyên Biên tập viên Tạp chí Đất Quảng, nguyên Phó Chủ tịch Hội Văn học - Nghệ thuật thành phố Tam Kỳ, hội viên Hội Nhà văn thành phố Đà Nẵng, đã trút hơi thở cuối cùng tại nhà riêng ở tuổi 70.

Dù biết trước giờ phút này sẽ đến, sự ra đi của nhà thơ Nguyễn Tấn Sĩ vẫn không khỏi khiến gia đình, người thân, bạn bè và các thế hệ học trò của anh bàng hoàng, tiếc thương! Bởi suốt cuộc đời mình, anh đã sống một cách nghĩa tình, trách nhiệm, trọn vẹn với đời, với gia đình, với nghề dạy học và đặc biệt là với thơ ca.

Càng thương hơn khi giật mình nhận ra, trước đó hai tuần, anh như đã linh cảm về cuộc đi của mình và “báo tin”với mọi người bằng 4 câu thơ đăng trên Facebook cá nhân. Nhưng không ai dám xác quyết về “tin báo” đó - để kịp đến bên anh nhiều hơn trước khi chia biệt: “Đêm qua trong cõi người ta/ Một vầng trăng rụng lại là chính tôi/ Bao la cõi ấy tôi ngồi/ Gieo thơ rồi lại đứng ngồi gặt thơ” (Ngày tôi sinh).

Nguyễn Tấn Sĩ trước hết là một nhà giáo. Sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1977, anh về dạy học tại một vùng quê heo hút ở huyện Xuyên Mộc, tỉnh Đồng Nai. Dạy học được một năm, anh xung phong nhập ngũ và chiến đấu ở chiến trường K. Xuất ngũ, anh về quê tiếp tục theo nghề dạy học, làm công tác quản lý tại nhiều trường THCS ở Phú Ninh, Tam Kỳ. Giáo giới ở Tam Kỳ lâu nay vẫn truyền tai nhau rằng, sở dĩ thầy Sĩ được làm việc ở nhiều trường học khác nhau là bởi lãnh đạo ngành giáo dục rất tin tưởng khả năng lãnh đạo, quản lý và kỹ năng sư phạm của anh. Trường nào khó khăn, “trục trặc” là thầy Sĩ được điều đến, và tình hình lập tức được cải thiện.

Ngoài biệt tài ấy, thầy giáo Nguyễn Tấn Sĩ còn tạo được những dấu ấn đặc biệt khác đối với nhiều thế hệ cán bộ, giáo viên và học sinh. Trường học nào thầy Sĩ đến công tác là y như rằng ở đó sẽ có câu lạc bộ thơ, câu lạc bộ tem bưu chính - cả trong giáo viên và học sinh. Là hiệu trưởng nhưng thầy Sĩ lại “nắm” được cả học sinh ở các khối lớp, nhất là những học sinh cá biệt và học sinh giỏi, có năng khiếu văn chương. Rất nhiều những cuộc gặp riêng giữa thầy Sĩ hiệu trưởng với các phụ huynh, với các học sinh “đặc biệt” ấy đã giúp cải thiện tình hình chung, điều hòa các mối quan hệ trong không gian học đường và làm cho trường học trở nên thật sự lành mạnh như nó vốn cần và vốn có. Những năm tháng sau này, nhất là sau khi thầy Sĩ đã nghỉ hưu, nhiều học trò cũ đã tìm về thăm thầy vào dịp lễ, tết - trong đó có những người từng là học sinh cá biệt hoặc từng là những mầm non văn chương...

Không chỉ là người thầy nghiêm khắc và bao dung, thầy giáo Nguyễn Tấn Sĩ còn là một “hiệp sĩ” văn nghệ, một nhà thơ. Anh bắt đầu làm thơ từ rất sớm - khi mới học lớp 6. Trong những năm tháng còn là học sinh phổ thông, anh đã có thơ đăng trên các báo, tạp chí như Thằng Bờm, Tuổi Ngọc, Thời Tập, Bách Khoa... Những năm học đại học, đi bộ đội, dạy học, anh tiếp tục chưng cất cảm xúc, nuôi dưỡng đam mê và tình yêu văn chương, sáng tác và truyền dẫn niềm đam mê văn chương đến với người khác một cách bền bỉ. Khắp các vùng quê xứ Quảng, hầu như ở đâu cũng có dấu chân anh với những cuộc du diễn thơ mê đắm và lộng lẫy. Anh luôn thèm, luôn muốn được nhập thân “phiêu bồng” vào đời sống và thơ ca: “đêm phố cổ ngủ mà lo uổng giấc/ cuộc phiêu bồng mái ngói ngả nghiêng theo” (Trích dẫn rêu xuân). Và cũng từ những cuộc chơi ấy, rồi sau đó, khi đảm nhận nhiệm vụ biên tập thơ cho Tạp chí Đất Quảng, nhà thơ Nguyễn Tấn Sĩ đã phát hiện, kết nối được nhiều cây bút mới. Cũng chính anh giúp đỡ, dìu dắt, động viên những gương mặt mới ấy tiếp tục sáng tác, gắn bó với văn chương; trong đó có không ít người sau này trở thành hội viên Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh Quảng Nam trước đây và hội viên Hội Nhà văn thành phố Đà Nẵng bây giờ.

Trong giới văn nghệ xứ Quảng, nhà thơ Nguyễn Tấn Sĩ là người được rất nhiều bạn bè, anh em yêu mến, nể phục. Vì anh chơi văn nghệ theo cách rất văn nghệ, lại mang tinh thần “hiệp sĩ”. Anh làm thơ rất nhanh, dăm ba phút đã có thể làm được một bài thơ ra thơ hẳn hoi. Vì anh có nhiều bài thơ, câu thơ rất hay và được nhiều người thuộc. Anh có những câu thơ dữ dội, “nhạy cảm” và “nóng bỏng”. Ví như: “Những dũng sĩ đâm lê Núi Thành/ giờ còn sống có khi buồn biết mấy/ cứ mường tượng một đường lê đâu đấy/ chực đâm mình từ phía sau lưng” (Dưới chân tượng đài).

Anh có những câu thơ đau đáu nghe như tiếng thở dài kín đáo mà xót xa... “Đèn kéo quân/ em thắp lửa vu quy/ thu như thể nhen lòng tôi rát bỏng/ thương yêu ấy kéo quân vào vô tận/ có mình tôi kỷ niệm thả lên trời” (Ngọn đèn thu). Đặc biệt, anh còn có không ít những câu thơ tài hoa có khả năng mở ra cho người đọc rất nhiều suy nghiệm về lẽ sống, về sự được mất ở đời: “Tìm vầng trăng mọc chân cầu/ Để vầng trăng ở trên đầu lẻ loi/ Sống một nơi nhớ một nơi/ Suốt đời tìm suốt đời rơi để tìm” (Tìm trăng).

4 tập thơ in riêng của nhà thơ Nguyễn Tấn Sĩ

Khởi phát và tạo nên danh vị thi ca bằng thơ tự do, nhưng càng về sau, nhà thơ Nguyễn Tấn Sĩ lại chuyên chú, gắn bó hơn với thơ lục bát, với nhiều bài thơ biết lắng xuống trong sự duyên dáng, mượt mà và “cổ điển” riêng có. Ở tập đầu tay (Mặt trời và cơn khát, 1991), anh chỉ có 3 bài lục bát. Ở tập thứ hai (Lời hát khẽ, 2003), lục bát chiếm 12 bài trong tổng số 55 bài của cả tập. Đến tập thứ 3 thì toàn bộ đều là thơ lục bát, đúng như tên gọi của tập: Màu rêu lục bát (2011). Và đây cũng là lúc thơ Nguyễn Tấn Sĩ hướng nhiều hơn đến những mỹ cảm của sự lặng im, vô ngôn nhưng chất chứa suy tư. Thật khó để biết là chính anh muốn dẫn dụ cảm xúc hay cảm xúc dẫn dụ anh về phía ấy...

Lục bát của nhà thơ Nguyễn Tấn Sĩ có nhiều câu đẹp, giàu thi tính, bởi ở chúng, “ký hiệu tự bản thân nó đã hoàn tất một giá trị độc lập” (Roman Jakobson): “Yêu người hoa nở một màu/ Xa người mới thấy mình đau đớn lòng” (Như thể thiên thu). Có lúc anh hẫng hụt dừng lại bên này bờ sông tình yêu: “ngựa ô anh khớp ngựa ô/ chưa đeo lục lạc mà đò sang ngang” (Ngựa ô). Có lúc, anh chỉ “còn bờ cát trắng cõi riêng/ con chim vỗ cánh về miền xuân xa” (Bản thảo)... Những câu thơ như thế này không chỉ nói hộ nỗi niềm riêng của người thơ mà còn biểu lộ được chất thơ của chính nó.

Nương vào lục bát, nhà thơ Nguyễn Tấn Sĩ lặng lẽ tạo cho riêng mình những cuộc “tìm về”. Về, để biết “vẫn còn một nhánh sông quê/ vẫn còn một chỗ đi về lênh đênh” (Lắng nghe sông gọi). Về, để thấy có một cái gì, có thể không phải của mình, vừa tuột mất: “Bây giờ lúa mọc đồng xa/ Gạo mua ngoài chợ, em ra phố phường” (Lúa mọc đồng xa). Về, để thấy những cuộc hồi hương miên man, dằng dặc của nhớ thương quê kiểng: “Ôi dòng nước đã từ lâu/ Xoãi tay ôm những vui sầu thời gian” (Ba sông). Về, để thấy những yêu thương bơ vơ: “Bạn bè ai hẹn về ngồi/ Quán xưa để lại mình tôi nhập nhòa” (Tình xuân như gió). Về, để thấy quê hương hun hún trong những vẻ đẹp mong manh nhưng vĩnh hằng giữa cõi người mênh mang: “Con đường cát lấm bụi quê/ Dẫn ta về cõi không về nữa đâu” (Cát bụi con đường).

Cùng với những đằm sâu mỗi lúc thêm sâu đằm hơn ấy, trên hành trình thơ của mình, nhiều khi nhà thơ Nguyễn Tấn Sĩ lại chen cái tếu táo của đời thường riêng anh vào thơ. Nhiều bài thơ của anh vì thế được trải ra rất tự nhiên, như thể không phải do anh sắp đặt. Ví như: “ngổn ngang gạch đá lá hoa/ mùi xăng xe máy mùi cà phê rang” (Và phố sẽ thu); “mỗi khi nhớ lại xức dầu/ con đường trở lạnh không đâu ấy mà” (Ngoảnh lại, trông theo). Nhưng cũng đôi khi, phía sau cái tếu táo ấy là sự ngưng lắng với những cảm xúc khác biệt: “buồn thăm thẳm mấy cuộc chơi/ xét trên toàn diện là tơi tả mình” (Điều anh chưa biết). Nương theo câu ca dao “Trèo lên cây bưởi hái hoa/ Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân”, anh có bài thơ Tầm xuân tếu táo mà không kém phần chua chát: “trèo lên/ tìm một chỗ ngồi/ bước xuống/ còn đâu chỗ đứng/ bưởi ơi trắng trời mây trắng/ mưa trời rớt giọt tình tang”.

Và, cũng cần nói thêm là, cùng với việc thường xuyên tìm về và đồng hành với thơ lục bát, càng về sau này, nhà thơ Nguyễn Tấn Sĩ càng dành yêu thương, dồn cảm xúc nhiều hơn cho đất đai quê xứ - trong đó tập trung nhiều nhất, cô đọng nhất, đậm đặc nhất là ở tập thơ Gió ba sông (2018). Anh nhận ra tiếng gọi yêu thương da diết từ phía quê nhà đã trở thành nỗi nhớ, thành nỗi thôi thúc “quay về”: “Nỗi nhớ làm gió thổi phía ba sông/ Con trở về xin lạy với mênh mông” (Vọng theo lời gió). Đặc biệt, anh có rất nhiều bài thơ dành riêng cho xóm Tứ Bàn, cho phố xá Tam Kỳ nơi anh lớn lên. Mỗi một chuyển động của phố đều khiến anh bồi hồi, tự hào, yêu thương, lo lắng và kỳ vọng. “Ngày phố lớn khúc sông quê nhỏ lại/ Nỗi nhớ, trời ơi khản đặc giọng Tam Kỳ” (Tam Kỳ thành phố bên sông).

Nhưng bây giờ thì thầy giáo - nhà thơ Nguyễn Tấn Sĩ đã không còn phải mỏi mòn, day dứt, tiếc nuối trước nẻo đời tù túng, chật chội “Ban mai có tiếng chìa vôi/ trong lồng. Tôi cũng thế thôi, mỏi mòn” (Trước tôi là ghế trống) nữa. Anh đã “phóng thích” chính mình, đã vĩnh viễn rời xa gia đình, người thân, bạn bè, hóa thân thành câu thơ long lanh rêu biếc và phiêu du theo gió về trời: “màu rêu lục bát nguyên sơ/ mỗi đêm nguyệt rụng là phờ phạc thu/ một câu giấu ở sương mù/ một câu theo gió phiêu du lên trời” (Màu rêu lục bát).

P.C.A