Một ngày với Lộc Yên

Một con ngõ đá - chè tàu ở làng cổ Lộc Yên. Ảnh: P.C.A
Sau bao lần lỡ hẹn, một ngày cuối tuần, tôi mới yên vị sau xe cô bạn thân tìm về xứ Tiên, ghé thăm làng cổ Lộc Yên. Nơi ấy, tôi được đắm mình trong vẻ đẹp thâm trầm của vùng quê xứ Quảng, để thấm thía cái “chất” quê cha đất mẹ đang hiển hiện trong từng hơi thở của cảnh vật và con người.
Về Tiên Phước đất quê hiền như đếm
Em lạ xa mà ngỡ rất thân thương
Như nụ cười tạc vào hồn của đá
Trung du người, lòng chợt hóa
quê hương
Tam Kỳ đón chúng tôi bằng một cơn mưa lưa thưa cuối hạ. Đường phố vắng lặng đến bất ngờ. Chiếc xe mải miết chạy trên những cung đường vòng vèo hướng về Thạnh Bình. Trước đây, Lộc Yên thuộc xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam; nay làng cổ thuộc xã Thạnh Bình trên cơ sở sáp nhập các xã Tiên Cảnh, Tiên Lộc, Tiên Lập và Tiên An.
Thời tiết khiến chúng tôi không khỏi lo lắng, chỉ sợ càng lên cao mưa càng nặng hạt thì chuyến đi mất vui. May thay, khoảng chín giờ sáng, chúng tôi đã đứng ở khúc cua dẫn vào làng cổ dưới nền trời trong xanh. Gió trung du thổi man mát. Giữa những tán phượng vĩ đang ra lộc xanh non, vài chùm hoa vẫn cố níu giữ chút sắc đỏ trầm phai cuối mùa. Con đường dẫn về Lộc Yên phủ kín màu xanh cây rừng, một bên là những sườn đồi nhấp nhô, một bên là dòng vực róc rách. Mùa này nước cạn, dòng sông Đá Giăng trong veo để lộ từng cụm sỏi đá long lanh, hắt lên sắc bàng bạc dưới ánh trời.
Trước khi vào làng, chúng tôi tiện đường ghé danh thắng Lò Thung, nơi cây cầu sắt dây văng cheo leo vắt qua dòng Đá Giăng. Bãi đá tự nhiên kéo dài gần hai cây số, lấp ló dưới làn nước xanh trong vắt. Sông Đá Giăng giáp bìa làng cổ Lộc Yên. Dòng nước không cuộn trào, không xiết chảy, chỉ nhẹ nhàng ôm lấy triền quê miền trung du. Đứng trên cầu chụp vài tấm hình kỷ niệm, chúng tôi không khỏi áy náy khi vài chiếc xe máy đi qua phải liên tục lách né hai vị khách lạ. Thế nhưng, chẳng một lời than phiền hay khó chịu, họ chủ động lướt qua thật nhanh và không quên gửi lại một nụ cười thân thiện. Đó là điều ấm áp đầu tiên tôi cảm nhận được khi vừa đặt chân đến xứ Tiên.
Tôi từng xem khá nhiều video về Lộc Yên trên mạng xã hội, đọc những bài giới thiệu và cả bình luận của du khách từng đến đây. Qua trí tưởng tượng, tôi nghĩ Lộc Yên đơn thuần chỉ là một ngôi làng vắng người, nhiều cây xanh và yên ắng. Nhưng thực tế đã vượt xa những hình dung đơn điệu ấy.
Con đường bê tông dẫn vào làng quanh co, sạch bong, không một mụn rác. Dưới chân núi, những thửa ruộng bậc thang lúa đang chín tới, trải ra một màu vàng tươi, trù phú. Mùi bùn đất quyện với hương lúa chín phả vào không gian thứ hương đồng quê quen thuộc mà đã rất lâu rồi tôi mới được gặp lại.
Tôi cố hít thật sâu cái hương ngan ngát ấy, như muốn đánh thức mọi giác quan của đứa trẻ nông thôn năm nào đã vô tình quên mất mùi quê.
Thật khó để diễn tả hết những tầng bậc của màu xanh ở Lộc Yên: sắc xanh trong của sông Đá Giăng, xanh thẫm của núi đồi, xanh mơn mởn của cây lá ven đường, và sắc xanh rêu phong phủ trên từng phiến đá in hằn dấu thời gian… Tất cả hòa quyện tạo nên một nhịp sóng không gian êm đềm, gieo vào tâm khảm tôi một cảm giác bình yên đến lạ kỳ.
Lộc Yên là một trong bốn làng cổ đẹp nhất Việt Nam, được xếp hạng Di tích quốc gia vào năm 2019. Và tôi tin rằng, đá chính là nét đặc trưng riêng biệt của làng.
Người Lộc Yên kể rằng, những năm đầu khai sơn phá thạch, người dân đã kê trên vai đôi quang gánh nặng trĩu, kĩu kịt tha từng viên đá núi từ những đỉnh xa về đắp dựng cổng ngõ, hàng rào, lối đi, giếng nước… Theo thời gian, giữa kẽ đá bừng lên những mầm xanh; qua bao mùa nắng mưa trui rèn, phiến đá vô tri cũng sống một cuộc đời có nghĩa. Vẻ đẹp của đá Lộc Yên vì thế không chỉ nằm ở thị giác, mà lắng sâu bên trong là câu chuyện về cốt cách chịu thương chịu khó, sự cần mẫn chắt chiu của người xứ Quảng từ ngàn đời.
Lộc Yên hiện còn giữ được 8 ngôi nhà gỗ truyền thống theo kết cấu nhà rường 3 gian 2 chái của người Quảng xưa. Ngôi nhà đầu tiên chào đón chúng tôi là nhà cụ Nguyễn Huỳnh Anh, với tuổi đời ngót nghét hai thế kỷ. Đi qua cổng đá bề thế, bước lên con dốc dựng đứng với những bậc thang đá xa nhau, tôi ngợp trong không gian xanh rì của hàng trăm gốc cây lâu năm sừng sững che mát. Những bậc thang đá uốn lượn vừa tạo chiều sâu mềm mại cho khuôn viên, vừa giảm độ dốc địa hình. Trên bờ tường đá cũ, thời gian ngưng đọng bằng những mảng rêu phong và dải cây gấm bò chằng chịt, điểm xuyết vài bông hoa nhỏ màu đỏ rực rỡ. Vắt qua không gian là mùi mít chín thơm ngọt, tiếng ong rù rì bên giậu hoa đậu biếc và khúc ca mùa hạ râm ran của ve sầu.
Ngôi nhà hàng trăm năm tuổi vẫn giữ nguyên vẻ uy nghiêm nhờ hệ thống khung dựng hoàn toàn bằng lõi gỗ mít cổ thụ. Những đường nét chạm trổ tinh xảo của nghệ nhân làng nghề mộc Văn Hà thổi vào khối gỗ cứng cỏi nét mềm mại, vừa trang nghiêm lại vừa ấm áp. Trên bàn thờ gian giữa, ảnh thờ bậc tiền nhân được đặt trang trọng. Một vài vị khách lặng lẽ chắp tay vái lạy như lời chào kính cẩn gửi đến gia chủ đã khuất, một khoảnh khắc linh thiêng và xúc động. Chiều sâu hoài cổ dắt người ta trở về một điền trang trù phú của thế kỷ trước, nơi gia chủ gửi gắm cả trí tuệ lẫn tư duy nghệ thuật vượt thời đại.
Điểm đến tiếp theo của chúng tôi là nhà cụ Nguyễn Đình Mẫn, ngôi nhà mang lối kiến trúc khá tương đồng với các không gian cổ khác trong làng. Thế nhưng, vừa bước qua ngưỡng cửa, tôi đã cảm nhận rõ hơn hơi thở thời gian lắng đọng trong từng nếp gỗ. Đây cũng là nơi khởi nguồn cho câu chuyện về chiếc bàn gỗ mít tự xoay kỳ bí - điều khiến bao du khách hiếu kỳ tìm đến tận mắt chứng kiến. Theo lời người nhà, ngày trước cụ cố cho thợ đóng trọn bộ năm chiếc bàn xoay để dành tặng năm người con. Nay trải qua bao thăng trầm, làng chỉ còn giữ được ba chiếc, hai chiếc còn lại đã theo căn nhà cũ bán đi từ nhiều năm trước. Gia chủ tự hào khẳng định, chiếc bàn ở đây vẫn nguyên bản chưa từng qua tu sửa, kết cấu nhẹ nên rất “nhạy” trước những lời yêu cầu của khách. Dù có vô số giả thuyết từ tâm linh đến khoa học thêu dệt xung quanh, nhưng khi tự tay “điều khiển”, tôi vẫn không khỏi ngỡ ngàng trước hiện tượng kỳ diệu ấy.
Tôi bước lại và đặt hờ đôi tay lên mặt bàn. Đầu óc tôi cố sức ra lệnh: “Bàn ơi, xoay phải”, “Bàn ơi, xoay trái”. Thế nhưng phần nào đó trong tôi vẫn đầy rẫy hoài nghi lẫn thách thức, nếu kỳ thực có năng lực siêu nhiên nào tồn tại, tôi cũng không ngại va thẳng. Và rồi, trước những cặp mắt hiếu kỳ xung quanh, “chiếc bàn tự xoay” mà mọi người vẫn hô hào đứng trơ như đá. Tôi cười cợt trong bụng chắc mẫm đây đúng là trò “bịp” như thi thoảng vẫn thấy ở một điểm du lịch nào đó mà thôi. Thế nhưng, ngay lúc ấy, con gái cụ Mẫn bước đến, bà đặt hai tay chạm vào bàn, dõng dạc ra lệnh: “Bàn ơi xoay bên phải đi bàn”. Tầm năm giây sau bàn dịch chuyển nhẹ nhàng sang bên phải. Tôi ngay lập tức lùi ra xa ngồi thụp xuống quan sát dưới chân bàn cố soi ra điều bất thường. Bàn vẫn xoay nhè nhẹ. Tôi lại muốn kiểm chứng bằng cách ra hiệu cô bạn thân cùng tham gia trò vui này và yêu cầu người nhà cụ Mẫn lùi ra. Bây giờ, chính tôi mới là người dõng dạc ra lệnh cho bàn: “Quay sang phải đi bàn. Quay ngược lại đi bàn. Dừng lại đi bàn”.
Kỳ lạ thay, chiếc bàn xoay chuyển nhịp nhàng đúng theo từng lời tôi ra lệnh trước sự kinh ngạc của chính tôi và những người xung quanh!
Người nhà cụ Mẫn giải thích: “Chiếc bàn ni vận động theo từ trường và năng lượng của người điều khiển. Tinh ý sẽ thấy sự xoay chuyển là kết nối giữa đất, gỗ và người, một sự giao hòa âm dương mà khoa học đôi khi chưa giải mã hết...”.
Tôi vội liếc xuống chân bàn, đúng là nó được đặt trên nền đất bồi đã được người ta phủ dầu hỏa rồi rắc tro bếp lên đầm xuống thật chặt. Nền nhà cứng như đá, chỗ lồi chỗ lõm nhưng tuyệt nhiên không một vết nứt. Bất giác, tôi cảm thấy một chút xấu hổ vì sự đa nghi ban đầu của mình trước một câu chuyện văn hóa đẹp đẽ đằng sau nếp nhà cổ.
Bước ra sân, vươn mình hít thở không khí trong lành, tôi mới nhận ra hầu như các ngôi nhà ở Lộc Yên đều tuân theo thuật “tựa sơn hướng thủy”, lưng tựa núi cao, mặt hướng ra thung lũng, sông suối hoặc đồng ruộng ngát xanh.
Cả làng có chưa đến 200 nóc nhà và chúng đều không nằm san sát kèn cựa nhau từng mét vuông đất như dưới đồng bằng. Ở giữa các hộ đều có một “khoảng thở”, có khi cách nhau bằng một mảnh vườn cây trái, có khi phân định lãnh thổ chỉ bằng một hàng rào chè tàu được cắt tỉa vuông vức. Không tường rào, không bê tông cốt thép, tôi chợt nghĩ đây chẳng phải là văn hóa làng “tối lửa tắt đèn có nhau” của dân tộc ta từ hàng ngàn đời qua?
Tôi lang thang khắp các vườn, xung quanh nhà bốn bề đều là cây ăn trái sum suê tươi tốt. Trên những hàng cau thẳng tắp hai bên lối đi, gốc thanh long vừa bật ra mấy quả xanh bám vào thân cây. Cây bòn bon hay dâu da thân cao và tỏa bóng rợp cả một khoảng đất rộng. Mít ướt chín cây rù quến khách lạ bằng thứ hương thơm sực nức khó mà cưỡng lại được. Mùa này, thanh trà mọc trĩu cả cành. Quả thanh trà xanh sẫm to cỡ bằng trái dừa nước lủng lẳng cả trăm trái trên cây. Chuối lùn trổ từng buồng dài ngoằng, quả thon dài căng mịn. Khá bất ngờ khi trong vườn, tôi còn được giới thiệu cả bơ, sầu riêng, măng cụt,… những loại quả mà lâu nay tôi vẫn nghĩ chỉ mọc được ở những vùng quê khác.
Thiên nhiên thực sự đã ban cho Lộc Yên quá nhiều “lộc” từ phong cảnh hữu tình đến thổ nhưỡng màu mỡ, ngay cả không khí mát mẻ, trong lành cũng là một món quà vô giá mà bất cứ ai nơi phố thị chật chội cũng phải ao ước được một lần trải nghiệm. Nói theo văn phong gen Z bây giờ: “Nơi đây xứng đáng được viral”. Thế nhưng, điều làm nên linh hồn và vẻ đẹp trọn vẹn nhất của Lộc Yên lại chính là con người nơi đây. Khí chất mộc mạc của họ đã chứng minh rằng: vẻ đẹp của một vùng đất không chỉ dừng lại ở cảnh sắc, mà chan chứa trong từng nhịp thở nhân sinh, nơi con người chính là linh hồn đọng lại qua bao biến thiên thời gian.
Trưa đó, chúng tôi gửi xe trên khoảnh sân rộng có cây bàng tỏa bóng mát rượi ở nhà văn hóa làng cổ Lộc Yên, rồi thong dong rảo bước trên đoạn đường bê tông uốn lượn ôm lấy ruộng lúa ngả vàng. Lúc ấy, trời quang mây và thoảng chút gió nhẹ.
“Vô đây ngồi nghỉ mát em? Đi đâu cho nắng? Vô đây ngồi nè…”. Giọng người đàn ông sang sảng vẳng ra từ ngôi nhà nhỏ sát chân núi. Lia mắt vào, tôi thấy vài ba người đang tụm năm tụm ba trò chuyện. Liếc sang cô bạn thân, hai đứa khẽ cúi đầu cười ẩn ý, chắc lại mấy chú trung niên thích chọc ghẹo, buông vài câu bông đùa với khách lạ. Thế nhưng, lời mời gọi càng lúc càng xởi lởi, giòn giã. Một anh thanh niên mon men bước ra góc vườn, niềm nở giới thiệu mấy cây ăn quả nhà mình. Chính sự nhiệt tình ấy đã tiếp thêm sự dạn dĩ cho chúng tôi bước vào sân.
Anh tên Nguyễn Hoàng Gia, đã lập gia đình và có hai con. Thấy tôi trầm trồ trước vườn cây ăn trái sum suê, anh Gia chẳng nói chẳng rằng, đi thẳng ra sau hè cầm cái sào dài khều ngay mấy trái thanh trà trĩu cành. Giật liền ba bốn trái xanh mướt, anh xởi lởi giới thiệu sản vật quê nhà: “Thanh trà xứ ni không đắng đâu em, trái non cũng không đắng. Nó không ngọt lịm như bưởi nhưng giòn ngọt thanh nhẹ, dễ ăn lắm. Ăn thử đi em!”.
Miệng nói tay làm, anh gọt từng miếng thanh trà đưa cho chúng tôi bằng tất cả sự hiếu khách tự nhiên. Tôi thực sự xúc động trước tấm lòng xởi lởi của người anh xứ lạ. Khoác tạm chiếc áo sơ mi cộc tay cho lịch sự, ôm cậu con trai nhỏ vào lòng, anh Gia bắt đầu câu chuyện bằng sự tếu táo, hài duyên rất đặc trưng của người Quảng.
Anh kể về quá khứ từng bôn ba sa ngã, rồi hành trình thức tỉnh khi gặp người vợ quê Cà Mau. Anh đưa vợ về quê, dựng chòi bán nước mía, sửa quần áo, làm vườn, trồng trầm hương và làm lại cuộc đời. Chỉ tay ra phía những dãy núi xa, mắt anh ánh lên nét trầm tĩnh của người đã đi qua nhiều bão giông: “Đi xa rồi mới thấy không đâu bằng quê mình. Thanh bình yên ả rứa, mắc chi đi chỗ khác. Đời anh chỗ mô cũng qua rồi, nhưng rốt cuộc quê hương giữ anh lại. Quê hương là tất cả…”.
Phải trải qua bao bể dâu thăng trầm để một người đàn ông dạn dĩ thốt ra câu nói rút ruột rút gan đến thế? Phải chăng Lộc Yên chính là chiếc nôi vỗ về, chữa lành cho những cánh chim từng bão giông lạc lối? Quê hương bao giờ cũng bao dung, chưa từng từ bỏ bất kỳ đứa con nào.
Ở Lộc Yên hôm ấy, chúng tôi còn có duyên gặp Hữu, chàng trai sinh năm 1991 ở Tiên Kỳ, chủ kênh “Hữu Tôn Quảng Đà”. Tôi khá ấn tượng với tư duy của Hữu: yêu tự do nhưng không vội từ bỏ công việc văn phòng, khéo léo dung hòa giữa nhịp sống công sở và đam mê sáng tạo nội dung. Mục đích lớn nhất của chàng trai 9X này là mang cảnh sắc xứ Tiên đến gần hơn với du khách thập phương. Hữu tin rằng chính sức trẻ sẽ góp phần đưa quê hương hiên ngang đặt chân lên bản đồ du lịch. Một ý niệm thật đẹp! Bởi muốn vươn xa, người ta cần một điểm tựa, mà điểm tựa vững chãi nhất chẳng phải là gì khác ngoài quê hương xứ sở.
Người Lộc Yên hiền lành, chân chất và xởi lởi. Họ niềm nở chỉ đường, vội vã chạy xe về nhà lúc canh trưa vẫn không quên mở khẩu trang mỉm cười chào người lạ, hay sẵn sàng ngồi xuống say sưa kể về mảnh đất đã dung dưỡng mình. Với họ, khách phương xa cũng... chẳng phải là người ngoài. Bước vào hiên nhà, uống chén trà chè xanh là có thể dốc lòng tâm sự, giãi bày. Cái chất hào sảng, bộc trực mà chân tình của người Quảng vẫn vẹn nguyên qua bao năm tháng. Lộc Yên quả là một “bảo tàng sống”, nơi lưu giữ trọn vẹn từ cảnh sắc, văn hóa làng cho đến cốt cách đáng quý của người nông dân miền Trung.
Rời Lộc Yên khi nắng chiều còn gay gắt. Xe bon bon trên đường. Dưới chân ghế là quả mít ướt thơm nức cùng ba trái thanh trà còn nguyên cuống lá. Tôi chợt nhớ dưới một clip trên TikTok, tôi đăng cảnh biển ở làng chài nơi mình sinh sống. Có ai đó để lại bình luận khiến tôi đau đáu rất nhiều trước khi phản hồi: “Sợ cái nghèo của xóm chài, nó chỉ đẹp với lãng khách, xơ xác với những đứa trẻ…”. Tôi không hoàn toàn phản bác ý kiến này, chỉ là lòng chợt man mác nỗi buồn khó tả. Trên đường từ Lộc Yên trở về, không ít lần tôi bắt gặp nhiều chiếc xe máy đi cùng chiều chở hành lý, cạnh đó có cả buồng chuối, trái mít, con gà,… Họ đang tất tả chạy từ làng quê nào đó ra “Đà Nẵng phố” giữa cuộc mưu sinh. Họ treo trên xe những sản vật quê hương để dành ăn hay chia cho bà con lối xóm. Thật may mắn khi mỗi người còn có một chốn để về, còn có cái gọi là quê cha đất mẹ để nương náu sau những ngày lăn lộn kiếm sống phương xa.
Bất giác tôi bật cười khi nhớ lại cái giọng chua chua, danh dảnh của anh Hoàng Gia ở Lộc Yên. Chắc dạo sau phải quay lại thăm ảnh quá!
N.T