Thơ Hoàng Sĩ Nguyên

Về Văn từ
Làng Đông Bàn là đây
Văn từ là đây
Cụ Phạm Phú Thứ thường ngồi đọc sách
Cụ Phạm Liệu cùng đàn chim phụng
Đọc bia hào kiệt, trí nhân
Chiến tranh
Bom đạn cày xới bao lần
Văn từ tan hoang đi vào quên lãng
Chút bia đá nay còn sót lại
Chơ vơ giữa đám ruộng cày
Tôi lặng nhặt từng viên gạch vỡ
Nghe ngày xưa
Những hội nghị hàn lâm
Những hội làng văn học
Những luận bàn cải cách, duy tân,…
Tôi lặng nhặt từng viên đá vỡ
Nghe lịch sử thăng trầm
Dẫu đá tan, nát lòng bia khắc
Tài đức còn sống mãi với nhân gian
Nhớ mẹ
Tuổi mười tám con vào đại học
Mẹ cười mắt ướt hai hàng
Cái thằng sớm chiều mót lúa
Ngày đi áo vá vai sờn
Tuổi hăm hai nhận tháng lương đầu
Dành biếu mẹ tấm chăn bông nhỏ
Mẹ cười hai mắt hoe đỏ
Thân cò lặn lội đồng xa
Thương mẹ suốt đời tần tảo
Cuốc cày níu bám vai còng
Củ khoai nhường con, chén cơm
nhường cháu
Láng giềng hạt muối san đôi
Ước một ngày về bên mẹ
Cám heo khỏi bỏng tay gầy
Rạ khô đủ chiều mẹ nhóm
Khói nhòe con hứng mắt cay
Chín chữ cù lao, chín chiều quặn thắt
Tiếng ho thắt ruột đêm trường
Leo lét ngọn đèn mỗi tối
Trở mình thầm nhắc tên con
Gửi!...
Ngày tỏ tình
Em giấu mùa hè trong tim mà nói lời
băng giá
Anh hoang hoải lần tìm củi mục đốt
than hồng
Khói nghi ngút đen dày hư ảo
Khóe mắt cay nhòe lệ tình si...
Than củi mục chóng tàn thành tro bụi
Còn mùa hè nồng cháy vẫn hư vô
Nhuốm thời gian em vồ vập hờn dỗi
Anh không biết nhìn mắt con gái khi yêu(!?)
Anh lơ ngơ, ngu muội, dại khờ
Em kín đáo, khôn ngoan, sâu sắc
Lửa tình yêu lại ưa chân thật
Không cháy hết mình thì đâu có than hồng
Nắng mùa hè loang vạt bến sông quê
Mưa mùa đông chảy tràn bong bóng nổi
Sâu sắc giếng khơi hay cơi mời nông cạn
Trầu xanh vôi trắng nhai kỹ mới thành hồng
Hết ngóng rồi trông đến bạc mái đầu
Lời xưa cũ âu sầu trên gác bếp
Xông khói kỹ mối mọt không đục khoét
Để tháng năm nguyên vẹn nếp dỗi hờn!
H.S.N