Cây đào phai bên bờ rào đá

Minh họa NGUYỄN TRỌNG DŨNG
Xóm nhỏ vốn im ắng bỗng rộ lên khi hay tin A Châu bất ngờ trở về. Ai cũng nghĩ rằng A Châu đã không còn trên đời này nữa. Những vụ lật tàu, đắm tàu ngoài biển, người không rõ tung tích… Nghe đâu hồi đó A Châu cũng ở trên chuyến tàu ấy.
Bọn nhóc trong xóm không gọi anh là Ngô Bằng Châu mà gọi tắt là A Châu. Gọi riết rồi thành quen.
Mười bốn tuổi, A Châu thất học. Bỏ nhà đi bụi, theo xe khách vào Nam. Trước khi đi, A Châu không một lời bàn bạc với gia đình, cũng không để lại một mẩu tin nào. A Châu chỉ nhắn vội với o Dẫn khi đang phát cỏ ở vườn chuối: “Nhờ o nói với bọ cháu là thằng Châu đi vào Nam xin việc làm vài năm rồi về. Chớ có tìm”. Thế là đi đằng đẵng gần ba mươi năm. Bọn nhóc trong xóm ngày nào, giờ đứa nào đứa nấy cũng đã yên bề gia thất, làm ăn khấm khá.
A Châu trở về, da sạm, gương mặt hốc hác với hai gò má nhô cao. Tóc buộc gọn một túm sau gáy. Lối vào nhà sau gần ba mươi năm chẳng mấy thay đổi. Vẫn vườn chuối bên cạnh. Vẫn con đường mòn đi giữa hai rặng tre, dẫn xuống con dốc nhỏ là Rào Bùng.
Rào Bùng chảy từ hướng núi Bồng Lai. Mỗi mùa mưa lũ, nước từ trong núi cuồn cuộn đổ về, từ một ngọn rào xanh trong, hiền hòa trở nên đục ngầu, hung hãn, xói lở những doi đất sỏi pha cát hai bên bờ. Hằng năm, người ta phải gia cố bằng cọc tre, xếp thêm bờ rào đá để ngăn nước xâm lấn vào đất canh tác. Ấy vậy mà những năm lụt lớn, từng mảng đất vẫn nứt hoác ra, như chiếc bánh bị sấn từng miếng, cuộn trôi ra biển. Doi đất hẹp dần. Ngôi nhà vì thế trở nên sát mép ngọn rào. Cheo leo. Nguy hiểm.
Nhìn vào, nom như một bức tranh. Mùa hè, rặng tre đung đưa kẽo kẹt, đổ bóng râm xuống mái nâu giản dị. Mùa thu, khói mơ màng bay lên, lá tre vàng ươm xoáy tít trong gió trước khi đáp xuống mặt nước. Mùa đông, sương từ sông là đà trên những vạt ớt đỏ.
Cây đào phai bên bờ rào đá năm nào cũng nở. Nở bất chấp. Nở không vì ai. Mọi thứ có thể trôi đi, nhưng ký ức thì vẫn còn neo đậu. Có thể một ngày nào đó, ký ức cũng sẽ mờ dần khi ông ngày càng già và lú lẫn. Nhưng lúc này, ông vẫn nhớ rõ mồn một: cây đào ấy do chính A Châu trồng năm nó mười ba tuổi. Nó theo ông ra xây bờ rào đá, tiện thể trồng cây đào rừng ở đây. Nó bảo: “Mạ rất thích đào phai, con xin được gốc lớn này từ nhà chú Thứ, khéo chăm thì qua năm có hoa thôi”.
Ông Thoản sống mũi cay xè khi nghe A Châu nhắc đến người vợ đầu của mình. Bà mất vì bệnh phổi, khi ấy A Châu mới bảy tuổi. Những năm tháng gà trống nuôi con, ông Thoản quyết định đi thêm bước nữa để con có mẹ, để ngôi nhà bớt hiu quạnh. Đó là bà Thiển, người vợ hiện tại của ông.
Chồng bà cũng mất trong một đận đi rừng lấy gỗ. Bà có một đứa con trai riêng, nhỏ hơn A Châu hai tuổi. Cám cảnh, rổ rá cạp lại, được bà con làng xóm động viên mãi, hai bên mới mở lòng về ở với nhau. Rồi có thêm hai mặt con, một trai, một gái. Giá mà cuộc sống cứ thế trôi đi trong êm đềm, lặng lẽ của sự thấu hiểu, cảm thông và sẻ chia thì tốt biết mấy. Nhưng sự đời mà. Chuyện con anh, con em, con chúng ta đã phá vỡ sự êm đềm ấy.
Hôm đó thằng Chình ôm cái đầu đầy máu khóc lóc chạy về mách: “A Châu lấy đá ném con”. Bà Thiển liếc xéo A Châu, vẻ mặt hậm hực, không nói không rằng, lôi thằng Chình ra trạm xá. Lát sau trở về, một mảng tóc trên đầu nó đã bị húi sạch, miếng băng gạc trắng phếu nổi cộm lên. Trong lúc chờ bà Thiển dọn cơm, ông Thoản kéo đầu thằng Chình lại, hỏi: “Nghịch mô mà để toác đầu ra rứa?”.
Giọng bà Thiển từ dưới bếp vọng lên: “Hỏi thằng con giai quý hay làm của ông ấy, nó kể cho mà nghe”.
- Răng rứa Châu?
- Thằng Chình chặt phá cành đào làm ná, con nói không được chặt, nó vẫn lỳ ra đấy. Bọ xem cây đào có còn ra thể thống gì nữa không, cành lớn cành bé đều gãy sạch.
- Ối dào, khoai sắn còn chưa có đổ vô mồm, đào với chả Chăm lo vạt bắp kia cho tốt thì hơn.
- A Châu lần sau không được đánh em nữa nghe không, con làm anh thì nhường nhịn em út chút xíu có chi mô...
- Đấy, ông cứ dạy bảo con kiểu thế thì chỉ có lớn mà chẳng có khôn. Phải người khác á, không một trận nhừ tử thì cũng giam cho rục xương đừng hòng cơm nước Ừm... mà cũng phải thôi, có ruột rà máu mủ chi mô mà thương mà xót... Tôi mà đánh mắng nó thì người đời lại độc mồm độc miệng bảo mẹ ghẻ con chồng, nói nó vài câu thì y như rằng cãi lại nhem nhẻm... tui là tui thua rồi đấy...
- Thôi mà, trẻ con nghịch dại, từ từ bày vẽ cho nó...
- Ôi dồi ôi, tui tay xách nách mang, sáng mài đũng quần ở chợ lo buôn lo bán, chiều lại đồng áng đến tối mịt... tưởng ông hiểu tui hóa ra cũng chỉ như rứa thôi...
Bà Thiển khóc rống lên như chết cha chết mạ, được phen cho hàng xóm lắm chuyện, thấp thỏm bờ rào...
Một tháng cứ vài vụ to nhỏ xảy ra, không với thằng Chình thì cũng thằng Mẳn, con Mẹt... và lần nào A Châu cũng là người mang tội. Có bận A Châu nhịn ăn ra đồng, nó ngước mắt về phía thung lũng, nơi những ruộng ngô thấp thoáng vây quanh. Mạ nó ở đó. Mùa lau trắng xóa bời bời. Tiếng vạc kêu đồng khắc khoải. Hoàng hôn ở đó càng tô buồn lên mắt nó. Một nỗi buồn thăm thẳm trùm xuống tuổi mười bốn. Những ngày, nó nằm trên chiếc đò ngang, thả trôi theo ngọn Rào Bùng. Màu xanh lam của nước, của núi, của nền trời xoa dịu những vết roi hằn trên mông và lưng nó. Bọ đã đánh nó, vì tội để trâu phá nát đám hoa màu của thôn, bị phạt hai yến lúa. Rõ ràng nó đã dặn thằng Chình trông nom trâu cẩn thận để nó đi kiếm ít củi mang về đun nấu.
Nước mắt A Châu khô cong bởi gió, để lại những vệt trắng lờ mờ. Nó liếm thấy vị mặn. Nó đói và thèm một bát khoai xéo nóng hổi. Hồi đó mạ nó nấu món này ngon lắm.
“Cho cu Thí (tên hồi nhỏ của A Châu) của mạ nhiều lạc nì. Ăn cho no rồi học hành cho ngoan hỉ”. Trường học tiện đường, mạ A Châu bao giờ cũng nựng cằm con trai rồi mới đi ra ruộng.
Cơn ho dai dẳng kéo dài, vòm ngực thít chặt lại. Bàn tay nhỏ nhắn của A Châu vuốt vuốt liên tục trên cổ mạ. Nước mắt bà chảy dài, cầm lấy tay A Châu dặn: “Nhớ ráng học hành, sống làm người tử tế nghe con”. Mùa đông năm đó, A Châu mồ côi mạ.
Những tiếng bấc tiếng chì ậm ực mãi rồi cũng bật ra, trút hết mọi kìm nén bấy lâu. Bà Thiển cầm chiếc đòn gánh lia một cú dài, chiếc đòn gánh nảy bật lên, trúng vào cẳng chân A Châu đau điếng. Trời mùa lạnh, manh áo che thân chưa đủ ấm, cơm độn thêm khoai sắn cũng chẳng đủ no. Với sức ăn tuổi dậy thì, lưng bát cơm mỗi bữa có thấm bõ bèn gì đâu. Những ngày ở đồng, A Châu cố lấp đầy cái bụng đói bằng mầm đậu, khoai lang sống đào lên, dăm con cua con cá bắt được nướng trên lửa khét mù. Đau bụng thì nhai vài đọt lá chè xanh rồi cũng qua. Tự ốm tự lành. Ơn trời!
Có bận, nhớ mạ quá, A Châu ra mộ ngồi thi thỉ một mình. Nó đã lên kế hoạch cho một chuyến đi xa. Chỉ mạ nó biết. Mạ sẽ phù hộ cho nó thôi.
*
* *
Thằng A Châu về, nó về thật rồi, không phải đồn đại mô. Làng xáo xác lên, kéo nhau qua nhà ông bà Thoản coi thực hư.
- Ầy hầy... mi đây thiệt à A Châu... khỏe mạnh rắn rỏi ri mà làng cứ đồn bậy đồn bạ...
- Mấy lâu biệt tăm biệt tích, rứa đã vợ con chi chưa?
- Hồi đó choa hết nước mắt vì mi, khi nghe tin lật tàu... đêm đó cả xóm tập trung ở nhà mi đông lắm...
“Bọ cháu mô rồi mấy o mấy bác?”. A Châu liếc nhìn khắp một lượt, là người cứng rắn lắm nhưng cũng không giấu được đôi mắt đỏ hoe vì xúc động...
Gần ba mươi năm rồi còn gì. Những người làng, nét mặt thân quen còn đó nhưng lưng đã còng xuống và tóc bạc hết trên đầu. Người còn người mất.
- A Châu, bọ mi tuy tai lãng nặng nhưng được cái sức khỏe còn dẻo dai lắm, bảy lăm có khi hơn rồi mà có ai được như bọ mi mô. Ông đang kê đá ngoài bờ rào đó tề.
A Châu nhìn theo hướng tay o Dẫn. Một dáng người lom khom đang vần xếp mấy tảng đá thành từng hàng dài. Cây đào phai cạnh đó phủ trùm hết một khoảnh đất canh tác, một phần nhoài nhánh ra sông.
“Bọ ơi!...”.
Ông Thoản, tai như rỗng ra, nghe rõ tiếng gọi sau lưng mình. Ông quay người lại, con mắt vừa mới mổ đục thủy tinh thể, cố gắng căng ra hết cỡ để nhìn cho rõ con người đang đứng trước mặt mình. Chỉ một lát thôi, ông như muốn khuỵu xuống, tay chân run bắn, chiếc cần cổ chạy lên chạy xuống những đường gân không tự chủ. “A Châu, thằng A Châu... thằng A Châu về rồi, hắn chưa chết. Đó! Tui đã nói rồi, con tui không đời nào chết được...”. Ông Thoản khóc rống lên, ôm chặt A Châu. Sự vui mừng đột ngột khiến ông loạn xạ y như chú cò gầy nhảy tâng tâng trên luống đất cày.
Giữa sân, chiếc làn nhựa đỏ lăn ra những ống đương (một loại họ nứa dùng để chẻ lạt làm bánh, hoặc để đan lát), bà Thiển nói to: “Mau gọi anh chị em của nó tập trung về đây. Thằng A Châu về rồi...”.
Chiếc bàn thờ nhỏ nằm sâu trong cùng gian trái nhà. Không di ảnh. Chỉ một bình hoa và bộ ấm trà mộc.
“Bọ không tin mi chết, nên bọ nhất quyết không thờ, bọ chỉ khấn vọng gia tiên phù hộ độ trì cho con, dẫn lối con về nhà... Tết nào bọ cũng pha trà mời vọng và không quên cắm lên đây một cành đào. Bọ phải sống dai, sống tốt để chờ mi về... Mi thấy chưa chừ mi còn gầy hơn cả bọ, chỉ được cái cao hơn thôi...”.
- Con ra thăm mạ tí. A Châu xách chiếc túi vải đựng những thứ quà từ miền Nam mang ra... Ngày xưa mạ nói rất thèm ăn hoa quả “trong tê”.
Núi, cánh đồng và dòng sông vẫn thế. Xanh biếc. Khác là hai bên đường dẫn ra sông Son nhà cửa mọc lên nhiều, ruộng đồng thu hẹp hơn. Dải đất ven sông người ta còn trồng hoa, dựng nhà lá, nhà gỗ để làm du lịch, trâu bò, ngan ngỗng, vịt, gà... đều trở thành thú cưng của du khách. A Châu cảm nhận rõ luồng gió mới đang thổi qua vùng đất yên bình. “Chỉ cần giữ nguyên vẻ đẹp tự nhiên vốn có này cũng đã là một nguồn đầu tư lớn”. A Châu thầm nghĩ khi tận hưởng bầu không khí khoáng đạt giữa vùng xanh biếc đến tận cùng này.
Các cơ sở chế biến hải sản sạch để phục vụ du lịch, làm quà biếu tặng, không ai qua được A Châu. Một trong những thương hiệu uy tín ở trong Nam. Với tính cách trầm ổn, không ồn ào, A Châu không thích phô trương, khoe mẽ... anh đã tạo dựng được công ăn việc làm cho mấy chục nhân công ở xưởng. Hàng năm thu nhập khấm khá, vợ con đề huề. Lần này đáng ra vợ con anh cũng theo về, nhưng Tết nhất cận kề, hàng hóa lu bu, mỗi ngày hàng ngàn đơn đặt...
Anh nói vợ, ra Tết sẽ đón bọ vào Nam chơi và hỏi xem mấy đứa em có theo anh vào Nam làm cùng không. Anh em bảo ban nhau làm ăn, chứ ruộng đồng mãi thì có được mấy xu, quanh năm khí hậu khắc nghiệt, mùa màng thất thường...
Anh tính về từ lâu, nhưng ngặt mấy ao tôm cần anh phải bắt tay chỉ việc. Ổn đâu vào đấy rồi anh mới đi được. Nói thẳng ra, ban đầu mang tâm lý tự ti e ngại của một đứa con nhà nghèo, chưa công thành danh toại thì chưa muốn trở về. Đành rằng còn cha còn mẹ ai mà chẳng thương, nhưng muốn lo toan được thì phải có tiền đồ. Sau mười mấy năm bôn ba trên biển, A Châu cũng tích cóp được ít tiền, mở xưởng khô cá, nước mắm riêng, dần dần có thêm các đại lý. Và Loan là một trong số các cô gái thầm để ý A Châu, bởi tính cách hiền lành, chịu thương chịu khó. Cha cô cũng thích A Châu. Thế là ngầm nhờ bạn ông mối lái, mấy tháng sau thì đám cưới. Nhà cha vợ có mấy công ruộng, ông cho hai vợ chồng con gái cải tạo làm hồ nuôi tôm. Cuộc sống khấm khá lên rất nhanh. Nhoắng cái thêm một, rồi đến hai thập niên trôi qua. Từ cậu bé đen nhẻm gầy guộc ăn không đủ no, nay đã là ông chủ, tóc trên đầu bạc nhiều hơn xanh.
“Thằng A Châu về rồi liệu nó có đòi chia chác đất đai không?” - Tiếng thì thầm nhỏ to trong nhà cũng đủ để A Châu nghe.
Bà Thiển già đi trông thấy, cũng đúng thôi, người lúc nào cũng đầy lo toan, chân đi chẳng mấy chạm đất. Người thế đâm ra khổ. A Châu thấy bà đáng thương nhiều hơn để giận.
“Bao nhiêu năm giờ con mới về, thấy con mạnh khỏe rứa là dì mừng. Thôi con ngồi chơi với mọi người đi, dì đi nấu cơm. Thằng Chình, ra vườn bắt gà vô đây hỉ”.
A Châu nhìn ra vạt đất rộng trước mặt nhà, rồi lại nhìn quanh khắp khu vườn một lượt. Trước kia quanh đây toàn những hố bom. Là bọ, dì Thiển và mấy đứa con ôm vác từng trạc đất vùi lấp lại. Như kiến tha lâu rồi cũng đầy tổ, qua bao nhiêu năm, nương vườn giờ bằng phẳng, rộng lớn hẳn. Mấy đứa em được bọ mạ chia đất cho ở riêng cạnh đấy. Thế cũng yên tâm, người già cần có con cái quây quần, lỡ hôm đau mai ốm.Tự dưng A Châu thấy rưng rưng. Thương dì và các em một đời lam lũ. Suy cho cùng, dì vẫn là một người tốt, mồm miệng bù loa dăm ba điều thế thôi chứ hành động của dì lại khác.
“Cơm nước xong rồi, dọn ăn thôi kẻo đói hỉ”. Mâm cơm nghi ngút khói được bê lên và dì không quên đặt một mâm nhỏ lên bàn thờ của mạ A Châu, cùng với đĩa hoa quả mà anh mang về. Dì Thiển nhấc chiếc ba lô cũ kỹ của A Châu gác lên nóc tủ. Chợt thấy ngậm ngùi và thoáng hổ thẹn với lương tâm vì những suy nghĩ ban đầu.
- Nay về rồi thì ở lại quê mà sinh sống thôi con ạ. Không mô bằng nơi chôn nhau cắt rốn. Phần đất hương hỏa từ đường kia là chờ con về chăm nom đó.
- Dạ không đâu dì - Từ lúc về tới giờ, mọi người mới để ý thấy anh cười
- Ở đâu mà cho mình cuộc sống tốt thì cứ sống thôi dì ạ. Ở lâu rồi cũng hóa quê hương.
- Ừ, biết vậy, nhưng dì muốn con về sống gần bọ mạ và các em cho ấm cúng gia đình.
- Bọ ạ, dì ạ và các em nữa. Lần này con về...
A Châu nói những ý định của mình và lấy ra trong ba lô những xấp tiền mệnh giá cao nhất. “Đây là chút tấm lòng của con, bọ và dì cầm đi mà sửa sang nhà cửa vườn tược, rồi chăm lo sức khỏe cho mình nữa. Còn phần các em, vô đó anh em con sẽ bảo ban nhau làm ăn. Tết nhất lại kéo nhau về. Bọ và dì cứ yên tâm hỉ”.
Không ngờ cuối đời gia đình ông Thoản lại có niềm hạnh phúc lớn lao như vậy. Ông đi đến bàn thờ của mạ A Châu, rưng rưng thắp nén nhang trầm thì thầm khấn.
Ngoài bờ rào đá, những nụ hoa bắt đầu bung nhẹ lớp vỏ lụa màu nâu bóng. Từ phía núi Bồng Lai, ngọn Rào Bùng vẫn âm thầm chảy giữa hai bên xóm làng xanh ngút ngô khoai. Giữa cánh đồng ai đó vừa đốt rác, những lọn khói lảng bảng bay lên. Cả một vùng ký ức tuổi thơ quay về khiến A Châu cay xè đôi mắt. Rưng rưng...
T.D