Những đóa “Hoa hồng trong lửa”

27.03.2026
Quế Hà

Những đóa “Hoa hồng trong lửa”

4 nữ nhà thơ, nhà văn: Bùi Thị Chiến, Vũ Thị Hồng (hàng sau, từ phải sang) và Hà Phương, Trần Thị Thắng (hàng trước) chụp ảnh chung tại Đà Nẵng sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Ảnh tư liệu

Bốn người, gồm Bùi Thị Chiến, Vũ Thị Hồng, Trần Thị Thắng và Đỗ Thị Thanh, đều là sinh viên Khoa Văn - Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, cùng học chung một khóa (1966 -1970), cùng vào chiến trường miền Nam một năm. Họ đã sống, chiến đấu bằng tất cả nhiệt huyết của tuổi trẻ và tình yêu Tổ quốc... Và rồi họ lại có dịp được đứng cùng nhau, cạnh nhau, khăng khít, gần gũi, yêu thương... trong một ấn phẩm: tập sách “Hoa hồng trong lửa” (NXB Hội Nhà văn 2025).

1. Những ngày tháng 4 lịch sử, tôi gặp đại tá - nhà văn Vũ Thị Hồng bên bờ hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội, để trao Giấy chứng nhận Giải thưởng  Văn  học  -  Nghệ  thuật Đất Quảng lần thứ 4 cho tập truyện ký Chạm vào ký ức, vì khi UBND tỉnh Quảng Nam (cũ) tổ chức  trao  giải chị không đến dự được vì lý do sức khỏe. Chị khoe với tôi, rằng ngoài giải thưởng của Quảng Nam, Chạm vào ký ức của chị còn vinh dự được trao giải C của Bộ Quốc phòng.

Đại tá - nhà văn Vũ Thị Hồng từng vào Quảng Nam nhiều lần. Nhưng đến lần này, hai chị em mới có dịp ngồi bên nhau, để kể về những năm tháng tuổi trẻ của chị ở Quảng Nam, với Quảng Nam... Ngày ấy, cô sinh viên Văn khoa Hà Nội vừa qua tuổi 20, vào chiến trường Khu V, làm phóng viên Tạp chí Quân Giải phóng Trung Trung bộ, thường xuyên theo chân các đơn vị chiến đấu ngoài mặt trận. Và, chị đã được sống, chiến đấu trong suốt 1.500 ngày cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta.

Rồi chị hồ hởi kể cho tôi nghe những tháng năm tuổi trẻ của mình, kể về khóa đào tạo đặc biệt của Hội Nhà văn Việt Nam dành cho 61 học viên là sinh viên khoa Ngữ văn và Sử của Đại học Tổng hợp Hà Nội để chi viện cho chiến trường Khu V, Khu II, với nhiệm vụ chính là viết văn, làm báo. Đoàn sinh viên vào Nam ngày ấy có 4 nữ; trong đó hai người vào Khu V là Bùi Thị Chiến và Vũ Thị Hồng (Bắc Hà); Trần Thị Thắng và Đỗ Thị Thanh (Hà Phương) đi Khu II. Đoàn đi Nam Bộ khởi hành ngày 15/4/1971. Một ngày sau, đoàn đi khu V lên đường. Vào khu V, Vũ Thị Hồng trụ lại Quảng Nam, Bùi Thị Chiến về công tác ở Bình Định - quê hương của chị.

Bìa tập sách Hoa hồng trong lửa

Một ngày đầu tháng 9, nhà văn Bùi Thị Chiến nhắn tin cho tôi, bảo chị vừa vào Đà Nẵng, muốn gặp tôi và các đồng đội cũ ở Khu V. Chị rạng rỡ, vui mừng vì được xem phim “Mưa đỏ” chuyển thể từ kịch bản cùng tên nhà văn Chu Lai - là ông xã của nhà văn Vũ Thị Hồng - bạn chị...

Tôi đưa chị tới thăm nhà văn Hồ Duy Lệ. Hai nhà văn gặp nhau, ký ức về những ngày tham gia hội nghị viết văn năm 1974 ở căn cứ Phước Trà - Hiệp Đức bên dòng sông Trà Nô như sống lại. Hai anh chị ôm nhau mừng khôn xiết, xúc động, bồi hồi... Ở cái tuổi ngoài 80, cả hai người đều nặng tai, chị Bùi Thị Chiến hầu như không nghe được gì, chủ yếu giao tiếp bằng tin nhắn hoặc ra tay làm dấu.

Nhà văn Hồ Duy Lệ như sống lại những năm tháng  tuổi  trẻ. Anh  kể, ở hội nghị đó, khu V có khoảng 10 người. Quảng Nam - Đà Nẵng (Quảng Đà) có Hồ Duy Lệ; Bình Định là Bùi Thị Chiến… Ở hội nghị đặc biệt đó, khi anh hỏi làm sao để viết văn, thì và trở thành người viết văn chuyên nghiệp.

Nhà văn Hồ Duy Lệ gọi nhà văn Bùi Thị Chiến là “người vùng sâu”. Bởi năm 1974, từ Bình Định, chị đem đến hội nghị truyện ngắn Người vùng sâu - tác phẩm đầu tay của chị. Nguyên mẫu nhân vật chính trong truyện ngắn này là đội trưởng đội du kích xã Hoài Thanh, huyện Hoài Nhơn - người mà chị đã gặp trong hội nghị thi đua điển hình cấp quân khu... Để có được những trang văn đầy bi thương của vùng đất Khu V, chị đã cùng sống, cùng chiến đấu với đồng bào và chiến sĩ.

Nhà văn Bùi Thị Chiến vào chiến trường Khu V làm phóng viên tạp chí Văn nghệ Trung Trung bộ, được phân công về “đứng cánh” ở Bình Định. Chị hoạt động chủ yếu ở vùng Mỹ Thọ, Mỹ Thành, Mỹ Lộc (Phù Mỹ), Hoài Nhơn, Hoài Ân… Trong tập sách Hoa hồng trong lửa, chị chỉ có 3 truyện ngắn nhưng để lại cho người đọc bao cảm xúc về những người con xứ dừa Bình Định. Như với truyện ngắn Dừa không lá, chứng kiến những thân dừa ở quê mình trơ trụi vì trúng bom pháo của địch, chị đã xúc cảm viết thành truyện ngắn.

2. Ở tập sách Hoa hồng trong lửatrong những trang nhật ký, nhà văn Trần Thị Thắng kể lại: “...Lúc đó chúng tôi đều là sinh viên năm thứ ba, chỉ có Bùi Thị Chiến là học xong năm thứ tư, đều là sinh viên Khoa Văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Học xong lớp viết văn, chúng tôi lên Hòa Bình, học bắn súng, đeo ba lô gạch. Lần đầu tiên học bắn súng. Tôi có ông chú mới ở chiến trường ra, tìm đến tận Hòa Bình để xin cho tôi ở lại vì chiến trường rất khốc liệt, nhưng tôi bảo chú là: “Cháu quyết đi”. Chú bảo: “Cháu vào đó có thể bị sốt, có thể gặp biệt kích, xuống chiến trường có khả năng hy sinh. Nhớ là sốt rét đừng nằm li bì, phải đi đi lại lại...”. Cũng vậy, dù có bệnh về mắt, Vũ Thị Hồng vẫn nằng nặc xin vào chiến trường miền Nam. Còn chị Bùi Thị Chiến xung phong vào Nam là để được chiến đấu và để tìm gặp mẹ. Chị theo cha đi tập kết khi mới 7 tuổi. Và 17 năm sau hai mẹ con mới gặp lại nhau: khi hay tin chị bị thương, mẹ chị gánh gạo lên thăm…

 Nhà thơ Hà Phương vào chiến trường lúc 21 tuổi. Chị là cô gái trẻ nhất trong nhóm 4 nữ sinh viên lên đường vào chiến trường. Chị không ngại lăn lộn giữa bom đạn để viết báo trong tư cách phóng viên của Báo Văn nghệ Giải phóng. Địa bàn tác nghiệp của nhà thơ Hà Phương là vùng đất thép Củ Chi nhiều cam go, ác liệt. Vì vậy, phía sau mỗi ký sự nóng bỏng, nhà thơ Hà Phương luôn bày tỏ sự biết ơn đối với những người du kích địa phương đã bảo vệ chị: “Vũ khí của tôi chỉ là cây viết/ Nên em luôn giành lên phía trước/ Để cho tôi an toàn”.

Hình ảnh “gái trai phải ôm súng đạn tâm tình” chắc chắn sẽ còn đọng mãi trong tâm khảm bao người, nhất là với những người đã từng gác lại bao hoài bão riêng tư để lên đường tham gia bảo vệ Tổ quốc như Hà Phương và bè bạn.

 Đối với 4 nhà văn nữ này, thứ quý giá nhất mà họ luôn trân trọng, gìn giữ, chính là tình bạn. Họ gìn giữ những bức ảnh chụp chung như những báu vật vô giá của một thời gian khổ nhưng oanh liệt, hào hùng. Vui nhất, giây phút gặp lại sau ngày thống nhất đất nước 30/4/1975, nhà văn Trần Thị Thắng kể lại: Làm xong mấy số báo Văn nghệ Giải phóng ở Sài Gòn, tôi và Hà Phương đi xe đò ra Đà Nẵng gặp Vũ Thị Hồng và Bùi Thị Chiến. Điều đầu tiên khi gặp lại là chúng tôi ôm nhau khóc, cười mừng vui, hạnh phúc vì cả bốn chị em cùng sống sót trở về. Vũ Thị Hồng bị thương trên cánh tay do mảnh pháo. Bùi Thị Chiến bị thương ở chân trong một chuyến công tác ở Phù Mỹ, người bị lệch sang một bên... Bùi Thị Chiến là nhà văn chuyên viết truyện ngắn, nhưng hễ viết được truyện nào chị lại bỏ ngăn kéo cất đi. Mãi đến năm 2002, từ sự giúp đỡ của nhà văn Trần Thị Thắng, chị mới in tập truyện ngắn Lời tự thú ngọt ngào...

 Chiến tranh đã lùi xa. Mỗi người đều phải lo vun vén, giữ gìn khoảng trời riêng cho mình. Nhưng 4 đóa “hoa hồng trong lửa” ngày nào vẫn luôn dành những tình cảm sâu sắc cho nhau, cho một thời kỳ gian khó, hiểm nguy nhưng cũng rất đỗi tự hào: “Cảm ơn đất nước đã cho tôi hương mật cuộc đời để viết nên những trang văn của riêng mình. Cảm ơn cuộc đời đã cho chúng tôi đi vào cuộc chiến tranh thực sự nhưng cả bốn chị em vẫn bình yên trở về...” (Trần Thị Thắng).

 Q.H