Mẫn và tôi - Khúc bi tráng chiến tranh và tình yêu

31.03.2026
Trần Thị Ánh Nguyệt

Mẫn và tôi - Khúc bi tráng chiến tranh và tình yêu

Tác phẩm Mẫn và tôi do NXB Thanh Niên ấn hành năm 1975

Chiến tranh vẫn là “siêu đề tài” trong nghiên cứu văn học. Bởi vì, khi đã lùi xa một quãng để nhìn lại, chúng ta lại nhận ra: Lịch sử chính là sự gây đau, những phần quan trọng nhất của lịch sử cũng là phần mà ở đó con người phải chịu đựng. Tôi đọc Mẫn và tôi từ cảm quan của nỗi buồn. Chiến tranh hiển thị trên trang viết Phan Tứ là những suy tư, trăn trở của một giai đoạn lịch sử hào hùng nhưng đầy bi tráng của dân tộc.

* Tình yêu lãng mạn trong vành đai lửa

Ấn tượng sâu đậm của tiểu thuyết Mẫn và tôi là tình yêu vượt qua những ngăn cách của chiến tranh, cái chết và bạo lực. Mãi mãi hằn sâu trong tâm trí về một vùng cát trắng, nằm giữa nắng trong hố cát gần sân bay Chu Lai, người chiến sĩ quân báo tên Thiêm chống chọi và vượt qua cơn say nắng thập tử nhất sinh nhờ tình yêu dịu dàng của cô gái mà anh yêu: anh coi ký ức về nụ hôn của cô là nước mà sống qua giờ mê man vì nắng. Nhớ về Mẫn - cô gái với khuôn mặt trái xoan, gò má bầu bĩnh  và đôi mày rậm. Tình yêu đã giúp con người vượt qua lằn ranh sống chết. Quả đúng như Alexei Tolstoy đã nói, “những cuộc chiến tranh rồi sẽ chấm dứt, những cuộc cách mạng sẽ thôi gào thét, và sẽ chỉ còn lại mãi mãi tấm lòng dịu dàng và êm ái của em”.

Tuy nhiên, cái dịu dàng của Mẫn là dịu dàng bền bỉ của một cô du kích sống giữa lòng kẻ thù. Cho nên cảm giác về người con gái trong đạn lửa cũng thật khác: “Tôi hôn mãi cái ngón tay khét mùi thuốc súng của Mẫn. Tay Mẫn chai nhiều quá, đến nỗi  cuối  búp  măng  cũng  có  một mảng cứng như sừng”; “người yêu của tôi yếu như chồi tơ, (…) còn phải trụ vững cho bà con dựa”… Tình yêu thời chiến, hạnh phúc rất ngắn ngủi: “Hai chúng tôi chỉ có mấy phút thôi để yêu nhau trong cái khói bụi dầy đặc… Thời gian dành cho tình yêu được “tính bằng phút trên đầu ngón tay.” Thậm chí khi Thiêm bị thương, Mẫn vào thăm và chỉ nói được câu “Đừng chết nghen anh”. Rồi cô lại tất tả đi vì trận đánh vẫn còn đợi ngoài kia. Tình yêu phấp phỏng giữa sống chết trong gang tấc.

Tuy nhiên sức hấp dẫn của tình yêu ở Mẫn và tôi thể hiện trong kiểu cốt truyện là câu chuyện tình lãng mạn chuẩn ngôn tình: hiểu nhầm - cùng chiến đấu - hóa giải hiểu lầm - yêu. Thiêm gặp Mẫn lần đầu tiên trên đường hành quân gặp trận lụt lịch sử, anh còn đang rối như tơ vò vì không biết làm thế nào hành quân cho kịp chiến dịch thì cô du kích Tam Sa xin bộ đội cứu dân nhưng anh từ chối vì kỷ luật chiến trường không cho phép. Anh đã đã bị Mẫn đánh giá là “coi mạng người như cỏ rác”. Sau đó, tin từ chiến trường đưa tới, đại đội đã thành công trong chiến dịch và các anh có thể dừng lại để cứu dân vùng lũ. Sau đó, anh được cử làm chiến sĩ quân báo ở vùng vành đai Chu Mẫn trở thành cộng sự đắc lực của anh và từ đó tình yêu dần nảy nở. Những ngày cứu lụt, chống càn, những lần cầm chung khẩu súng, tránh địch, giúp dân… đã gieo mầm tình yêu, và tình yêu ấy được nuôi lớn dần theo những trận đánh, giữa tiếng pháo. Tình yêu của một chàng chiến sĩ quân báo với cô du kích mang vẻ đẹp vừa lãng mạn vừa hào hùng bắt rễ rất sâu từ tình yêu quê hương làng xóm, từ gốc mít, gốc rạ, từ những buổi đạp chè hát bài chòi. Tình yêu đôi lứa lớn dần với tình yêu đất nước.

Khúc bi tráng chiến tranh

Tiểu thuyết Mẫn và tôi có bố cục chặt chẽ như một vở kịch tuân thủ theo luật tam duy nhất:  duy  nhất về thời gian (một năm), duy nhất về không gian (vành đai Chu Lai), duy nhất về hành động (chiến đấu chống kẻ thù xâm lược). Dừng lại mốc thời gian 1 năm (1964-1965) nhưng Mẫn và tôi tái hiện khái quát sự vận động lịch sử của cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam, từ thời kỳ đen tối trước phong trào đồng khởi đến các giai đoạn phát triển mạnh mẽ của cuộc chiến đấu trực tiếp với đội quân xâm lược đế quốc Mỹ. Được thể hiện bằng một cách viết đầy ắp tư liệu, Phan Tứ đã kể câu chuyện thật cảm động về những người con dũng cảm ở một thời oanh liệt của vùng Chu Lai nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung. Với giọng văn hóm hỉnh, vui, tếu táo “rất đời”, đậm “chất lính”, vừa lãng mạn và cũng đầy bi  tráng về một giai đoạn lịch sử đầy khói lửa.

Tiểu thuyết Mẫn và tôi khái quát quá trình vận động phát triển của cuộc chiến đấu cùng với sự trưởng thành của nhân vật anh hùng. Khuynh hướng sử thi là đặc điểm bao trùm Mẫn và tôi, cùng chung cảm hứng trong văn học thời kỳ chống Mỹ. Các nhân vật anh hùng cũng được xây dựng như những con người toàn diện trong những mối quan hệ riêng chung, thủy chung trọn vẹn với đất nước, quê hương, với cách mạng và cả trong tình nghĩa gia đình, trong tình yêu. Các nhân vật: Thiêm, Mẫn, Ba Tơ, Tư Luân được xây dựng theo hướng khái quát, tập trung cao độ các đặc điểm, phẩm chất của tầng lớp, thế hệ, trở thành những biểu tượng mang tính lý tưởng. Các nhân vật cũng thường được đặt trong những hoàn cảnh thử thách gay go, những tình huống căng thẳng nghiệt ngã trong chiến tranh để làm bộc lộ vẻ đẹp và những phẩm chất cao cả của họ. Sự can đảm, kiên cường của Mẫn trong cuộc chiến không phải tự dưng mà có, nó được nung nấu bằng tuổi thơ nằm dưới hầm tránh bom, bằng tình yêu với người cha bị đày Côn Đảo, bằng xác mẹ khô quắt trên ngọn đa vì địch bắn pháo khi bà con chạy lũ, bằng xác đứa con tan nát, có mảnh sọ vương trên quả mít còn nguyên mấy sợi tóc mịn đen, bằng nỗi đau khi mất đồng đội…

Chiến tranh đi qua hai mùa mưa nắng. Tiểu thuyết bắt đầu bằng một trận lụt lịch sử, câu chuyện cho thấy sự chồng chéo giữa những khó khăn của thiên tai và kẻ thù. Mở đầu tiểu thuyết, Phan Tứ đi thẳng vào cao trào của câu chuyện trong một tình thế ngặt nghèo. Cách kể chuyện thông minh đó đã dẫn dắt người đọc đi qua những thời kỳ đen tối nhất với sự hy sinh, mất mát đến những thử thách khó khăn khi Mỹ đổ bộ vào miền Nam.

Tiểu thuyết về chiến tranh nhưng được soi dưới ánh sáng của đời tư cá nhân với sự phân tích nội tâm nhân vật, Phan Tứ đã phơi bày tâm hồn dưới ngòi bút sắc sảo. Chiến tranh được nhìn từ cái nhìn đời tư thế sự, do vậy nó mang sức nặng của sự trải nghiệm riêng tư.

Tấm lòng ưu tư với những thân phận phụ nữ

Nhiều trang viết của Phan Tứ dành ưu ái cho những người phụ nữ: những cô du kích sống trong vùng tạm chiếm, một mình gánh vác nhiều việc: vừa giỏi sản xuất vừa giỏi việc nước, những hình mẫu của người phụ nữ “giỏi việc nước đảm việc nhà”. Những trang viết về chiến tranh dừng lại ở những chỗ trĩu nặng ân tình, niềm thương cảm và sự đồng cảm sâu sắc với thân phận những người du kích, những cô gái nằm vùng, những cô giao liên lặng lẽ. Đó là chị Tám Giàu: chân dung người phụ nữ làm cô dâu 3 ngày và 10 năm đợi chồng mòn mỏi; là chị thám báo không có tên chỉ là một kí hiệu ST24 bị địch đánh đến trụy thai với khát khao làm mẹ; là mẹ Sáu như bao nhiêu người mẹ dịu dàng, ý tứ khi dặn bé Hoàn tinh nghịch nhẹ nhàng cho Thiêm ngủ vì biết anh phải thức suốt đêm...

Trên đường hành quân, một lần gặp hai mẹ con nhận nhầm Thiêm là chồng. Người con thấy anh còn trẻ biết không phải, người phụ nữ vẫn nhớ về người chồng thời trai trẻ. Chi tiết rất nhỏ nhưng người đọc thấy đằng sau đó sự đằng đẵng của cuộc chiến, sự mòn mỏi của người phụ nữ đi qua thời son trẻ, sự nhói buốt của người vợ nhớ chồng dường như chỉ gặp nhau thoáng chốc rồi xa biền biệt. Nhà văn đã cúi xuống nỗi đau của những người phụ nữ vô danh như thế trong chiến tranh. Là người phụ nữ vô danh nhưng nỗi đau của chị rất thật, nỗi nhớ nhung rất thật. Những cảnh huống đau lòng xa xót như nhà thơ Hữu Thỉnh viết: “Một mình một mâm cơm/ Ngồi bên nào cũng lệch/ Chị chôn tuổi thanh xuân trong má lúm đồng tiền” (Đường tới thành phố, Hữu Thỉnh).

Chiến tranh đã đi qua hơn 50 năm. Ký ức của một thời binh lửa, những thân phận người ở vùng vành đai Chu Lai được nhà văn Phan Tứ để lại qua di sản tiểu thuyết Mẫn và tôi. Văn chương, vì vậy như lịch sử tâm hồn của một dân tộc.

T.T.A.N

Trần Thị Ánh NguyệtL: Tiến sĩ. Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng.