Bên cửa biển lịch sử

Thành Điện Hải được xây theo kiểu kiến trúc Vauban. Ảnh tư liệu
“Đây là vị trí cần phải chiếm lấy và chiếm được xứ này thì các lái buôn châu Âu sẽ tìm được một nguồn lợi nhuận và tài nguyên rất dồi dào”. Giáo sĩ Đắc Lộ, người từng tham cứu nhiều năm ở xứ Đàng Trong đã viết như vậy về Đà Nẵng. Cảng Đà Nẵng là nơi trú ẩn vững chắc cho các tàu thuyền ở mọi tải trọng, trong mọi điều kiện thời tiết. Trước làn sóng các nước tư bản phương Tây đổ xô về phương Đông tìm kiếm thị trường thuộc địa thì Đà Nẵng luôn nằm trong tầm ngắm của họ. Triều đình nhà Nguyễn cũng biết rất rõ mối đe dọa đó luôn rình rập ở mạn phía nam Kinh Thành Huế, tức bên kia Hải Vân quan, còn có tên là Vũng Thùng.
“Đà Nẵng là then chốt của nước ta nên người Tây muốn chiếm lấy”, vua Gia Long đã sớm nhận định như vậy. Ngay sau khi lên ngôi, vua Gia Long rồi liên tiếp các đời vua sau đều đầu tư nhiều công trình bố phòng chạy dọc theo vùng lòng chảo Đà Nẵng, trong đó có pháo đài Định Hải trên núi Hải Vân, pháo đài Ngự Hải nằm về phía đông bắc núi Sơn Trà và nhiều đồn lũy khác. Trên cửu đỉnh đặt trước Thế Miếu, vua Minh Mạng cho khắc phù điêu Đà Nẵng hải khẩu và hàng loạt các phù điêu khác về chiến thuyền, súng thần công để tỏ rõ tiềm lực quốc phòng của vương triều. Có thể những chiến thuyền vạm vỡ của vua Gia Long, Minh Mạng mạnh hơn chiến thuyền của các triều đại trước đó, nhưng nó vẫn còn phải vận hành bằng thủ công. Trong lúc đó thì các thế lực xâm lược phương Tây đã có tàu chiến chạy bằng hơi nước được trang bị vũ khí tối tân.
Vũng Thùng thực sự là cửa ngõ ngự phòng không chỉ của riêng Đà Nẵng mà còn có mối liên quan sống còn trực tiếp đến kinh thành Phú Xuân, trung tâm quyền lực nhà Nguyễn. Trong bối cảnh Đà Nẵng vừa là nơi duy nhất của triều đình chọn sử dụng làm cửa ngõ tiếp đón các sứ giả phương Tây, vừa là nơi ngự phòng từ xa cho kinh đô Phú Xuân, nên các vua Nguyễn lo xa cũng là điều tất yếu.
Một trong những pháo đài ngự phòng còn lại dấu tích đến ngày nay là Thành Điện Hải, nằm cách bờ sông Hàn vài trăm mét. Đây là thành lớn được xây theo kiểu kiến trúc Vauban, hình vuông có phần lồi ra bốn góc, xung quanh thành là hào rộng và sâu, có kho thuốc súng và trang bị súng thần công bốn phía. Nhưng rồi việc binh cũng đã đến bất ngờ.
Ngày 1 tháng 9 năm 1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha xua 14 chiến thuyền cùng 2.500 tên lính viễn chinh được trang bị vũ khí hiện đại đồng loạt nổ súng tấn công vào Đà Nẵng. Cho dù đã có những đụng độ lẻ tẻ vào những năm trước đó giữa quân Việt và quân Tây Dương, nhưng lần này mới thực sự là cuộc xâm lăng chính thức đầu tiên của thực dân phương Tây đối với nước ta thông qua chiến trường Đà Nẵng. Cuộc chiến đấu kéo dài suốt 569 ngày đêm. Trong nhiều lần giao tranh ác liệt, không cân sức đó, triều đình nhà Nguyễn, cụ thể là vua
Tự Đức, đã điều chuyển nhiều tướng lĩnh vào quân thứ Quảng Nam, trong đó nổi bật là danh tướng Nguyễn Tri Phương, một nhà quân sự thao lược, có cách đánh theo chiến thuật cương nhu, phù hợp với khả năng binh lính và khí tài của ta thời bấy giờ, nên mới buộc đối phương rút ra khỏi Vũng Thùng, Đà Nẵng. Đây thực sự là một cuộc chiến tổng lực toàn dân, toàn diện và toàn tâm của sĩ dân xứ Quảng trước vận mệnh sống còn của dân tộc. Không lâu sau những trận kịch chiến bất thành đó, một tác giả Pháp cũng đã phải chua chát thừa nhận: “Sự thật hiển nhiên là tinh thần độc lập dân tộc vẫn còn tồn tại trong dân chúng An Nam”.
Sự kiện lịch sử năm 1858 không chỉ là những trang viết phủ bụi trên giá sách, lại càng không chỉ là những bia đá sờn mòn theo thời gian, mà đang còn một di tích nằm cạnh một con phố chính của Đà Nẵng: nghĩa trũng Phước Ninh. Một nghĩa trũng được xem là nghĩa trang liệt sĩ đầu tiên của cả nước, nơi quy tập hài cốt nghĩa dân xứ Quảng đã hy sinh trong cuộc đụng độ đầu tiên chống lại thực dân phương Tây ở Đà Nẵng.
“Sĩ dân đó, núi sông đây, muôn năm còn lại nước non này”, như cảm khái đầy bi tráng của Phạm Văn Nghị, một sĩ phu Bắc Hà khi đến chiến trường Đà Nẵng. Cũng một lòng hàm ơn như vậy đối với tiền nhân mà hàng năm vào ngày 6 tháng 3 âm lịch, người Đà Nẵng có lệ tế cúng anh linh các tử sĩ ở nghĩa trũng Hòa Vang. Một đôi dòng sùng kính trong văn tế cũng đáng được người đời nhắc nhớ. “Chữ trung can sử sanh ghi tạc, tưởng người nghĩa sĩ luống đau lòng, kiếp vô thường ai dễ sống đời, tráng bất hủ ta thường nhớ mãi, bảo tồn nòi giống ấy, ơn sâu giữ trọn non sông là nghĩa trọng”.
Những biến động dữ dội nửa sau thế kỷ 19 đã dẫn đến Việt Nam bị rơi vào tay thực dân Pháp. Vua quan nhà Nguyễn không còn mấy thực quyền bên cạnh hệ thống cai trị rất hà khắc của chế độ thực dân. Nhiều sĩ phu yêu nước từ bỏ quan trường, lập chiến khu đánh Pháp nhưng đều thất bại. Ba mươi năm sau ngày nổ súng tấn công vào Đà Nẵng, Pháp buộc vua Đồng Khánh ký dụ cắt Đà Nẵng thành đất nhượng địa cho họ. Đó là ngày 3 tháng 10 năm 1888. Bên cạnh tòa đốc lý, sau này là ủy ban nhân dân thành phố, thì người Pháp chỉ cho xây dựng các công sở, nhà ga, kho tàng, bến cảng làm phương tiện phục vụ cho chính sách khai thác thuộc địa. Một thành phố nhượng địa đặt dưới quyền cai trị trực tiếp của nhà nước Pháp kéo dài trong suốt 60 năm.
Bên một con phố nhỏ nằm giữa lòng thành phố có một ngôi từ đường vừa làm trường học, gọi là trường Cự Tùng. Nơi đây là cơ sở liên lạc, gặp gỡ của các sĩ phu yêu nước ở Trung Kỳ đầu thế kỷ 20. Đây là một ngôi trường tân thục gọi là trường Cự Tùng và nhà thờ họ của cụ hội đồng Tùng, làm trụ sở của trường học. Nơi đây là cơ sở hoạt động cách mạng của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội, một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tourane Đà Nẵng trước năm 1945 thực chất chỉ là một thị xã nhỏ, chính quyền thực dân cho xây dựng tập trung chủ yếu về phía bờ tây sông Hàn, còn phía bờ đông và các vùng phụ cận chung quanh thị xã thì dường như không thay đổi gì so với các vùng nông thôn khác của xứ Quảng. Cái thị xã chỉ lòng vòng sinh hoạt trong giới quan chức cai trị, những viên chức bản xứ làm cho chính quyền thuộc địa, những người làm công cho các nhà buôn và phu phen lao động tạp dịch cho các công sở. Nhưng đằng sau cái bình lặng bên ngoài đó lại bắt đầu nhen nhóm ngọn lửa cách mạng trong các hoạt động bí mật của Đảng Cộng sản. Nhiều cán bộ tiền bối của Đảng ở xứ ủy Trung Kỳ đã dùng hiệu sách Việt Quảng nằm trên bờ sông Hàn làm nơi trao đổi công tác.
Khi Cách mạng Tháng Tám nổ ra, rồi tiếp theo là chín năm kháng chiến chống Pháp, mặt trận Đà Nẵng đã có lúc được liệt vào hàng đánh Pháp mạnh nhất và dẻo dai nhất so với toàn quốc.
Lịch sử binh đao lại một lần nữa lặp lại trên đất Đà Nẵng. Ngày 8 tháng 3 năm 1965, hai tiểu đoàn thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, theo hướng Vũng Thùng đổ bộ lên Đà Nẵng, tại chính nơi mà liên quân Pháp - Tây Ban Nha đã đặt chân lên vào năm 1858. Với việc đổ 3500 lính tinh nhuệ đầu tiên vào Đà Nẵng, nước Mỹ đã chính thức can thiệp quân sự vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Từ đây, Đà Nẵng như một thành phố của trại lính mà các sử gia thường gọi là căn cứ liên hiệp quân sự lớn nhất ở miền Trung Việt Nam.
Ngày đó, bầu trời mặt đất Đà Nẵng như một chảo lửa, binh khí và các phương tiện chiến tranh rầm rập suốt ngày đêm. Quân đội Hoa Kỳ dùng trực thăng vận chi viện cho các chiến trường trong khu vực, còn sân bay Đà Nẵng là căn cứ chính làm nơi xuất kích, rải bom ở miền Bắc.
Cũng từ đây, người Đà Nẵng đứng lên chống chính quyền Sài Gòn và chống sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam. Thông qua tổ chức các cơ sở nội thành, đã có liên tiếp nhiều cuộc đình công bãi chợ, bãi khóa rầm rộ trong giới công nhân, lao động, tiểu thương và học sinh các trường học trong thành phố. Trong nhiều cuộc đấu tranh gay gắt đó, lần đầu tiên ở miền Nam, nhân dân Đà Nẵng đã nổi dậy làm chủ thành phố suốt 76 ngày đêm.

Ngôi nhà số 52 Trần Bình Trọng trước đây là cơ sở hoạt động cách mạng của Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội. Ảnh tư liệu
Quân đội Hoa Kỳ tham chiến ở Việt Nam có những chiến dịch khá kỳ lạ theo kiểu Mỹ, như chiến dịch thức ăn nóng dành cho quân nhân đồn trú trên các chốt điểm cao xung quanh thành phố Đà Nẵng. Bộ phận hậu cần của họ có hẳn một xưởng làm bánh kem để binh lính ăn tráng miệng. Các thức ăn nóng được chế biến tại các bếp hậu cần đặt trong thành phố rồi dùng trực thăng mang lên các chốt đồn trú cắm trên điểm cao các ngọn núi Non Nước, Phước Tường, bán đảo Sơn Trà mà họ gọi là núi Khỉ, và đèo Mây, tức đèo Hải Vân.
Sân bay Đà Nẵng và các sân bay vệ tinh xung quanh thành phố là khối phương tiện không lực khổng lồ ngày đêm chi viện cho các chiến trường trong khu vực, được gọi là Vùng I chiến thuật. Sau khi hiệp định Paris được ký kết, cùng lúc với Sài Gòn, quân đội Mỹ đồn trú ở Đà Nẵng đã làm lễ cuốn cờ chính thức rút khỏi cuộc chiến tranh ở Việt Nam, một cuộc chiến tranh được xem là tốn kém nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Đó là ngày 29 tháng 3 năm 1973.
Đúng vào ngày đó, tháng đó của hai năm sau, trước thời cơ thế trận đã chín mùi, quân cách mạng mở chiến dịch giải phóng Đà Nẵng. Dựa vào sự phối hợp tác chiến linh hoạt giữa các lực lượng quân chủ lực, bộ đội địa phương và tự vệ nội thành, quân giải phóng đã nhanh chóng làm chủ thành phố. Bấy giờ đô thị Đà Nẵng như một chảo người khổng lồ từ các tỉnh lân cận đổ về, trong đó có cả số hàng binh của chính quyền Sài Gòn tan rã tại chỗ. Đó là ngày 29 tháng 3 năm 1975, một ngày bằng 21 năm và cũng một ngày bằng 117 năm mà Vũng Thùng Đà Nẵng đã dậy sóng trong nhiều cuộc đấu tranh giành hòa bình, độc lập và thống nhất đất nước.
Sau ngày giải phóng, Đà Nẵng phải mất một thời gian dài khá chật vật mới giải quyết được các vấn đề hậu chiến để ổn định cuộc sống mới. Một đô thị gần như chỉ toàn súng đạn, khí tài chiến tranh, sân bay, bến cảng, kho tàng, đều sử dụng vào mục đích quân sự.
Ngày nay, toàn cảnh bức tranh màu xám đó dường như chỉ còn lại trong ký ức của những người trong cuộc. Đà Nẵng đang trở lại vị trí xứng đáng trong thời bình. Từ những chiến địa xưa, nơi từng dậy sóng binh đao và khói lửa, hôm nay Đà Nẵng đã vươn mình mạnh mẽ. Bên cửa biển từng in bóng tàu chiến năm nào, giờ đây là những con tàu thương mại tấp nập vào ra, là nhịp sống sôi động của một đô thị trẻ và hội nhập. Những cây cầu nối đôi bờ sông Hàn không chỉ là công trình giao thông, mà còn là biểu tượng của sự nối dài ký ức - từ quá khứ đau thương đến hiện tại rạng rỡ.
Thành Điện Hải trầm mặc giữa lòng phố thị, nghĩa trũng Phước Ninh lặng lẽ dưới bóng thời gian, vẫn còn đó như những chứng nhân thầm lặng. Nhưng quanh những di tích ấy, một Đà Nẵng khác đã hiện hình, rộng mở và đầy sức sống. Có lẽ, nếu lớp cha ông đi trước từng đổ mồ hôi, xương máu nơi cửa biển này có thể trở về, họ sẽ nhận ra rằng: mảnh đất từng được gọi là “then chốt của nước Nam” không chỉ giữ trọn vị thế trong binh lược, mà còn tỏa sáng trong thời bình, như một minh chứng sống động cho ý chí hồi sinh và khát vọng vươn lên của người dân Đà Nẵng.
Bên cửa biển lịch sử, sóng vẫn vỗ như ngàn năm trước. Nhưng mỗi con sóng hôm nay dường như mang theo một âm vang khác, là nhịp sống của một thành phố đang lớn lên từng ngày, sau hành trình dài đi qua bom đạn để chạm đến hòa bình và phồn thịnh.
V.N.G