Lặng lẽ một mặt trận

27.03.2026
Minh Sơn

Lặng lẽ một mặt trận

 

 

 

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, có những con người không kể ngày đêm, không quản mưa bom bão đạn âm thầm chuyển tải gạo, bắp, sắn, khoai, thuốc men… từ trong lòng địch ra tiền tuyến cho bộ đội. Không quân hàm, không cấp hiệu, họ là những cán bộ lương thực, được gọi bằng cái tên mộc mạc, thân thương: “Binh chủng gùi cõng”. Trên những hành trình thầm lặng ấy, rất nhiều người trong số họ đã nằm xuống mãi mãi...

 

 

 

 

Phục kích đánh địch ở hầm số 1 đèo Hải Vân trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp (1947). Ảnh tư liệu.

Bức  tranh”  mười  chữ  Tối  ăn khoai đi ngủ, sáng ăn củ đi làm từng khái quát đầy đủ nhất đời sống của người dân Quảng Nam - Đà Nẵng trong những năm tháng gian khó. Trừ một vài huyện như Điện Bàn, Đại Lộc, Thăng Bình, Duy Xuyên, Hòa Vang… có nhiều đất lúa, phần lớn diện tích còn lại của Quảng Nam - Đà Nẵng là đồi núi. Lúa ít, mỗi năm lại chỉ làm được hai vụ tháng Tám và tháng Ba, bằng giống lúa thân cao, dài ngày, chịu hạn kém, lại dễ ngã rạp trước mưa gió. Sản xuất phụ thuộc hoàn toàn vào nước trời: mưa nhiều thì lụt, hạn kéo dài là mất mùa nên phải trồng thêm sắn, khoai. Thế nhưng thiên tai quá khắc nghiệt nên khắc họa cho bức tranh buồn ấy là câu: Gió nam thổi kiệt bảy ngày/ Khoai lang khô đã hết, lúa vay cũng chẳng còn.

 Ngay sau ngày độc lập 1945, để chống giặc đói, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi phong trào “Hũ gạo tiết kiệm”. Đến những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, nhằm phục vụ chiến đấu, mỗi huyện đều hình thành các tổng kho lương thực. Tùy theo địa bàn, Tam Kỳ có 9 kho, Tiên Phước 8 kho, Thăng Bình và Quế Sơn 4 kho…

 Khi chính quyền Ngô Đình Diệm phá Hiệp định Giơnevơ, chống tổng tuyển cử thống nhất đất nước, Trung ương Đảng ta ban hành Nghị quyết 15 (tháng 6 năm 1959) đặt ra nhiệm vụ tăng cường cán bộ từ miền Bắc vào, xây dựng miền núi thành căn cứ địa cách mạng. Cùng với rựa, rìu, vũ khí, việc chuẩn bị lương thực - trước hết là gạo và muối - trở thành nhiệm vụ sống còn.

 Bà con các dân tộc và nhân dân vùng căn cứ hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và Bác Hồ. Ở đâu cắm được hom sắn là cắm. Bộ đội đến đâu đều có sắn ở đấy. Khi Mỹ đổ quân chiếm nông thôn, đồng bằng, sắn trở thành “vệ sĩ” chống đói cho bộ đội. Bà con còn làm các “Đâng haro cách mạng” (rẫy cách mạng). Lúa của nhà nào gửi nhà nấy, khi cần cấp phát thì nhờ bà con xay giã. Nhiều nơi thành lập đội ngũ chế biến, như xã Tam Thái có lúc lên đến 200 - 300 người. Giữa bom đạn ác liệt, anh chị em lương thực vẫn bám nương rẫy để trồng trọt, bám đường dây để cung cấp cho bộ đội, bám buôn làng để vận động bà con các dân tộc thiểu số tham gia sản xuất, giữ vững niềm tin với Đảng, với cách mạng.

Kho thóc thường nằm nơi hẻo lánh nên trông coi kho là những người có trách nhiệm, không ngại khó khăn, gian khổ, hy sinh: là thương binh, con liệt sĩ. Họ sống một mình nơi rừng thiêng nước độc, đói rét, bệnh tật. Trông coi kho gạo nhưng ăn rau củ rừng, giữ từng hạt gạo cho cách mạng.

Có năm, đói còn có sắn, có bắp, có củ rừng, nhưng thiếu muối thì người phù thũng, kiệt sức. Muối quý đến mức không ai gọi là “hạt muối” mà gọi là “thuốc muối”. Thấy muối, người ta nhặt một hạt đặt lên lòng bàn tay, nhìn thật lâu rồi mới đưa vào miệng.

Việc vận chuyển, cất giấu muối vô cùng khó khăn. Anh em nghĩ ra cách chất muối thành đống rồi đốt. Khi lớp ngoài cháy đen như than, khối muối cứng lại, mưa không thấm, trông như đá. Chỉ cần phủ lá lên trên, khi cần thì khai thác như muối mỏ. Nguồn muối ấy không chỉ nuôi bộ đội, nhân dân mà còn san sẻ cho đồng bào Lào gần biên giới Việt Nam.

…Cuối năm 1962, đầu 1963, địch mở trận càn lớn lên Tú Mỹ (Kỳ Sanh). Cán bộ lương thực đóng ở Đồng Cố làm nhiệm vụ bảo vệ kho ngăn chặn địch, nhưng lực lượng vũ trang của ngành lương thực chỉ đủ làm nhiệm vụ tự vệ chứ không thể chống lại lực lượng lớn của địch, vì vậy chỉ đưa đi được một ít, còn lại bị chúng cướp, phá và đốt nhà kho chứa gạo. Trận lụt năm Thìn 1964 làm nhiều kho lương thực bị trôi, ướt mất 100 tấn gạo, 4 người giữ kho bị chết và mất tích.

Ngày 8 tháng 3 năm 1965, khi Mỹ ồ ạt đổ quân vào miền Nam, phát động chiến tranh cục bộ, các kho lương thực buộc phải chuyển dần lên núi để tránh sự đánh phá. Trong hoàn cảnh đó, ngành lương thực đứng trước nhiệm vụ cấp bách: tổ chức các đội vận chuyển, xây dựng mạng lưới móc nối để rút lúa gạo từ thành phố ra vùng giải phóng.

Trong giai đoạn mới của cách mạng, phải thực hiện phương châm “Thực túc binh cường”. Vì vậy, cùng với lực lượng vũ trang, các cơ quan dân - chính và nhân dân tích cực đẩy mạnh tăng gia sản xuất. Chỉ tiêu đặt ra là mỗi lao động tỉa 5 ang lúa và trồng 1.200 gốc sắn. Nhưng sự hủy diệt, tàn phá của địch cũng vô cùng lớn. Có lúc, chỉ trong một trận càn, lính Mỹ đã đốt phá 30 mẫu lúa và hàng trăm căn nhà của nhân dân xã Kỳ Xuân, Kỳ Liên. Từ ngày 1 đến ngày 12 tháng 6 năm 1965, máy bay Mỹ ném 500 tấn bom xuống xã Kỳ Sanh, biến nơi đây thành một “vành đai trắng”. Chúng lùng sục, khống chế từng nhà. Người dân lên núi trồng sắn, đốn củi cũng bị hạn chế, không được mang quá 5 lon gạo. Nhiều đơn vị bộ đội phải ăn cháo rau ranh, bột bắp cầm hơi... Trong hoàn cảnh ấy, cán bộ, chiến sĩ và nhân dân quanh vành đai diệt Mỹ Chu Lai không chỉ kiên cường chống lại các cuộc càn quét, lấn chiếm của địch mà còn phải chắt chiu từng hạt lúa, củ sắn, gây dựng nguồn lương thực dự trữ cho cuộc kháng chiến lâu dài. Các bà, các mẹ đã nghĩ ra sáng kiến treo những ống tre đựng đầy gạo, muối lên sừng bò, lặng lẽ đưa vào rừng tiếp tế cho bộ đội. Địch cấm mang quá 5 lon gạo thì bà con đi nhiều chuyến, nhiều người, âm thầm góp lại thành nguồn tiếp tế quý giá.

Tháng 8 năm 1966, Ban Lương thực tỉnh Quảng Nam được thành lập. Với phương châm “Bộ đội đến đâu là có gạo ở đó”, Ban Lương thực trở thành một bộ phận nòng cốt của Hội đồng cung cấp tiền phương, bảo đảm nguồn hậu cần cho các chiến dịch mở rộng vùng giải phóng. Các đơn vị trực thuộc Ban Lương thực được gọi tắt là K (kho), cùng với các đội thanh niên xung phong trở thành những mũi xung kích có mặt khắp các chiến trường ác liệt của Quảng Đà. Địa bàn hoạt động của K625 là vùng B Đại Lộc và vùng tây Duy Xuyên (khu An Hòa - Đức Dục). K650 hoạt động ở vùng trung và đông Duy Xuyên. K800 ở vùng A - B Điện Bàn. K610 phụ trách Đông và Tây Giang (Hiên). K622 phụ trách Nam Giang (Giằng),... Về sau ta phát triển mạng lưới thu mua, tích trữ lương thực ra tây bắc Hòa Vang, xuyên qua Đồng Xanh - Đồng Nghệ lên Bạch Mã, sông Bắc, sông Nam đèo Hải Vân phục vụ bộ đội. K700 hoạt động ở Bắc Hòa Vang. K667 được thành lập sau Tết Mậu Thân, đóng tại Tà Uông, Đắc Pring (Giằng). Ngoài nhiệm vụ cung cấp lương thực cho 1.000 người ăn trong 6 tháng, cung ứng gạo, sắn, bắp, cho các đơn vị tỉnh, ngành mà còn phục vụ cho các hội nghị quan trọng. Năm 1975, khi chiến tranh kết thúc, K667 còn mang về đồng bằng 26 tấn gạo, hàng chục phuy dầu phụng, hàng trăm con heo, gà...

Giai đoạn 1965 - 1967, ta và địch ở thế cài răng lược. Địch ra sức “tìm diệt” và “bình định” ta thì quyết “trụ bám”, “một tấc không đi, một ly không rời”. Ban ngày địch hoạt động, lấn chiếm nhưng ban đêm thì ta làm chủ. Dựa vào lực lượng quần chúng, ta mua lương thực từ ngã ba Chiên Đàn, từ các xã đông Tam Kỳ và các xã ven quốc lộ. Những người bám trụ chủ yếu là các cụ già và phụ nữ, họ trồng bắp để duy trì cuộc sống. Thanh niên trai tráng hầu hết đã vào bộ đội. Để phục vụ cho lực lượng từ miền Bắc vào, ta phải tăng cường thu mua lương thực, thuốc men, tổ chức vận chuyển, cất giấu và bảo vệ gạo. Đường dây thu mua hoạt động bí mật: ban ngày họ là những người dân hợp pháp trong vùng tạm chiếm, ban đêm trở thành lực lượng hậu cần cho cách mạng. Họ liên hệ chặt chẽ với du kích và đội công tác xã, vào các chợ mua lương thực, thực phẩm, thuốc men rồi chuyển về vùng giải phóng.

Thu mua đã khó, cất giấu còn khó hơn, lũ lụt làm ướt lương thực dự trữ; nhiều khi không kịp phân phối cho bộ đội phải hong phơi vất vả nhưng vẫn bị thối. Khi nấu phải thay đến ba lần nước mới ăn được...

Đội ngũ vận chuyển lương thực đa số là nữ. Như K625 có 270 người thì có đến 200 nữ. Liễu yếu đào tơ nhưng họ gùi đến 80 kg, phục vụ chiến dịch thì lên cả tạ. Mắm cái thì mang đến 4 thùng, vũ khí thì 4 quả ĐKB (120kg). Mà đâu phải đi đường bằng, toàn lên đèo xuống dốc, khe, suối. Dốc Gió thì phải cả tiếng mới lên đến đỉnh. Dưới chân dốc nóng, lên đỉnh đèo thì lạnh buốt... Từ nơi thu mua đến các đơn vị chiến đấu là chặng đường cam go, hiểm nguy. Vận chuyển chủ yếu bằng gùi, băng rừng lội suối, rắn rết, thú dữ...

Có lần, địch phát hiện ta giấu gạo ở bãi sông Hòa Mỹ, Phiếm Ái (Đại Lộc), bèn cho gài mìn định hướng và phục kích, làm hy sinh 40 đồng chí. Khó khăn là vậy nhưng chuẩn bị cho chiến dịch Mậu Thân, lực lượng lương thực vẫn dự trữ được 5.000 tấn. Sau Tết Mậu Thân, địch phản kích điên cuồng, đánh phá đến tận biên giới Việt - Lào. Tuyến sau trở nên trống trải, nguồn lương thực càng thiếu hụt nghiêm trọng. Theo số liệu của Quân khu V, đầu năm 1969, mỗi tháng ta cần 700 tấn gạo, nhưng nỗ lực lắm cũng chỉ mua được 300 tấn, khiến bộ đội nhiều nơi rơi vào cảnh đói.

 Năm 1969, chiến trường Quảng Đà vô cùng ác liệt. Địch dồn dân vào các khu tập trung, triệt phá làng mạc. Huyện Đại Lộc vốn có hàng chục nghìn hộ dân nhưng khi ấy chỉ còn khoảng 500 - 600 gia đình kiên trì bám trụ. Hay như ở cánh nam, khi ta giải phóng xã Kỳ Thạnh (huyện Tam Kỳ), cả xã chỉ còn lại vỏn vẹn 32 người dân. Cuối năm 1969, có tới 351/ 441 thôn ở Quảng Đà bị địch cày ủi trắng; hơn 12.400 nóc nhà bị đốt, 6.000 con bò bị giết… Trong hoàn cảnh đó, dù ở vùng giải phóng nhưng ta gần như không thể huy động được lương thực.

 Khi có tiền, đội thu mua lương thực cho vào ruột nghé, buộc ngang thắt lưng. Ban ngày ngồi trong hang đá, tối lần ra khu dồn mua gạo, thực phẩm. Địch bắt được, sát hại xong phát hiện có tiền, mừng vì vớ được của, nên chúng càng hăng say lùng sục đường vận chuyển lương thực, thực phẩm của ta.

 Mà không chỉ tiền, đô la, mà cả máu xương của rất nhiều người đã đổ xuống. Anh Chiến người Xuyên Lộc thức suốt đêm lo chôn giấu gạo; hửng sáng về chỗ trú ở thôn 4 Xuyên Trà thì vấp mìn, hy sinh. Cô Nhị cũng hy sinh trên đường về nhà sau khi đi chôn gạo. Em Trà dẫn đội công tác vào Xuyên Châu mua gạo, chất lên ghe thì đã nửa đêm, nhưng chưa cập bến thì bị “Mỹ lết” phục kích bắt được. Hôm sau anh em đi tìm thấy xác Trà... Ở K700, cánh bắc Hòa Vang cũng vậy. Tháng 9 năm 1971, địch phát hiện đội vận chuyển gạo nên đã nổ súng tấn công, 3 đồng chí Trương Đình Chúc, Hồ Kỳ Nhất, Thái Hy và em Võ Vu Quy hy sinh. Có những đoàn thuyền chở gạo đi theo sông Thủy Tú đã bị địch phục kích bắn chết hết... Ở Tam Kỳ, khi lực lượng chủ lực chuẩn bị đến mà kho không còn gạo, 6 người của Ban Lương thực cấp tốc mang tiền xuống tận vùng Kỳ Sanh để mua gạo. Địch bắt được, nhét 6 người vào một cái hố và nện rồi cho xe giày. Vùng đông Duy Xuyên giáp với Hội An, Cửa Đại là vùng ngập nước, địch dùng thuyền máy kiểm soát rất gắt gao nên việc trụ bám lấy gạo, nhất là bảo quản, vận chuyển cực kỳ khó khăn. Có lần từ Cẩm Kim lấy gạo chất lên được 7 ghe, trời chập choạng tối vừa nhổ neo thì bọn thủy thuyền ở gành Hội An dùng bo bo đuổi bắt. 4 chiếc ghe chạy trước kịp lẩn trốn, 3 chiếc sau sợ không thoát kịp phải nhận chìm. Tối anh em vào làng nhờ du kích địa phương vớt gạo lên bờ xong cấp tốc chuyển qua Duy Nghĩa cất giấu trước khi trời sáng.

Công tác bảo quản của K650 cực kỳ khó khăn vì Xuyên Trà gần như vùng trắng, không có dân, lại gần cứ điểm quân Nam Triều Tiên đóng ở Mã Châu. Anh chị em cán bộ lương thực ban ngày phải ẩn nấp, chờ đêm xuống mới nhận gạo và vận chuyển bằng thuyền ngược sông Bà Rén lên bãi cát Tây An chôn để cấp phát cho bộ đội. Có lần số lượng tồn kho dưới lòng bãi cát này lên 200 - 300 tấn. Hằng đêm, hàng trăm bộ đội của Mặt trận 4, của Sư đoàn 2 băng rừng về kho gạo khổng lồ nằm dưới bãi cát này để nhận gạo. Việc thu mua, bảo quản, cấp phát ồ ạt, có đêm 500 - 700 người, chen lấn chật bãi cát Tây An dẫn đến không giữ được bí mật. Địch phát hiện được đã đổ quân càn quét, đánh phá. Bọn lính Nam Triều Tiên phát hiện ra các hầm gạo, chúng đào lên, chất thành đống, làm công sự phản kích bộ đội ta. Có lần địch pháo kích vào giữa đội hình gùi gạo từ vùng A sang vùng B Đại Lộc làm 75 người hy sinh. Đường hành lang đèo Đòn Gánh lên Lộc Đại, Sơn Trung gần như ngày nào cũng có chiến sĩ gùi gạo hy sinh vì bom mìn, vì phục kích, vì đại bác…

Để có được hạt gạo phục vụ bộ đội, cán bộ ngành lương thực không chỉ thanh liêm, tận tụy với công việc mà còn vô cùng dũng cảm. Họ lặng lẽ hiến dâng tuổi trẻ, máu xương cho cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước, góp phần đem lại tự do và hòa bình cho Tổ quốc.

M.S