Vết lăn trầm - Lời nhắn nhủ thầm kín của Trịnh Công Sơn - Trương Hồng Mẫn

21.03.2013

Vết lăn trầm - Lời nhắn nhủ thầm kín của Trịnh Công Sơn - Trương Hồng Mẫn

      Trịnh Công Sơn đã từng viết “Mỗi bài hát của tôi là một lời tỏ tình với cuộc sống, một lời nhắn nhủ thầm kín về những nỗi niềm tuyệt vọng, … .”. Vậy lời nhắn nhủ thầm kín đó của Ông trong bài hát “Vết lăn trầm” là gì?

      Khi nghe giọng Khánh Ly vang lên: “Vết lăn! vết lăn trầm!...”, lòng tôi như se lại, một cảm giác bâng khuâng không rõ cội nguồn, cảm giác cô đơn, vắng lặng phủ lấy tâm hồn rồi đẩy tôi vào một trạng thái trầm tư kéo dài đến nỗi khi bài hát đã qua rồi mà tôi còn chưa tỉnh lại! Vết lăn trầm, trước tiên đó là một hình ảnh hay là một dấu tích của một kiếp người ngắn ngủi, nhưng lại vô cùng khổ đau, trầm luân và lận đận. Nhưng nếu chỉ có vậy thì chưa thể nào hiểu được lời nhắn nhủ thầm kín của Trịnh Công Sơn trong bản nhạc này là gì.

      “Hằn trên phiến đá nâu thêm ưu phiền...”, Với Trịnh Công Sơn, cuộc đời con người thật là ngắn ngủi như một vết chân chim hằn trên đá, trên cát. Nó xuất hiện rồi nhanh chóng phai mờ, như “có lần chim muông hằn dấu chân”. Đời người ngắn ngủi được Ông viết trong nhiều bài hát: “Mùa xuân quá vội. Mười năm tắm gội. giật mình ôi chiếc lá thu phai." (Chiếc lá thu phai), hay “Ôi tiếng buồn rơi đều, nhìn lại mình đời đã xanh rêu” (Tình xa).

      Nhưng thật là trớ trêu, đời người ngắn ngủi là vậy mà con người lại phải gánh chịu biết bao đau khổ, tủi hờn, như nhân gian đã có lần than thở đời là bể khổ, vì mấy ai hiểu được cuộc đời để mà sống qua cho đúng nghĩa con người, “làm sao em nhớ những vết chim di” (Diễm xưa), “Có biết gì về ngày chưa tới” (Cỏ xót xa đưa) để mà “về thu xếp lại … Vội vàng thêm những lúc yêu người” (Chiếc lá thu phai).

      Ở một góc nào đó của cõi trần gian, thân phận con người là định mệnh, không thể kháng cự mà bị đẩy đưa lăn lóc, con người phải chấp nhận số mệnh và sống qua cuộc đời đầy bất hạnh như một viên đá để lại một vết lăn buồn: “Người chợt nhớ mình như đá. Đá lăn, vết lăn buồn”.

      Cũng đã có mấy ai nhận thức được cội nguồn của những nỗi bất hạnh mà con người phải gánh chịu kể từ khi bắt đầu cuộc sống, “Trẻ thơ ơi, trẻ thơ ơi, tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người” (Gọi tên bốn mùa).

      Cội nguồn đó chính là cái ác đã và đang ẩn náu ngay chính bên trong con người. Bởi vì anh mang danh là con người, nhưng thực ra anh đang ngụy trang che giấu cái gốc gác xa xưa của mình, bởi vì anh xuất thân từ loài dã thú: “Từ hoang xưa dấu thân anh dã cầm. Ôi vết hằn ghi trên bồn gió hoang” (không phải là “Từ hoang xưa dấu chân anh dạ cầm” như Tuyển tập những bài ca không năm tháng đã in sai, và vô nghĩa). Cái ác  của chính con người từ cổ chí kim đã và đang là cội nguồn của mọi nỗi bất hạnh trên thế gian. Và chính nó vẫn còn ghi lại những vết hằn trong quá khứ không ai có thể chối bỏ được, trên những thành quách, những đài tưởng niệm, những mộ bia hoang vắng, … và hãy còn lưu lại trong sử sách: “Ôi vết hằn ghi trên bồn gió hoang”. Bồn gió hoang không phải là một từ ghép. Bồn là một thực thể vật chất hiện hữu, gió hoang chỉ đóng vai trò một trạng từ không gian. Nếu chúng ta bỏ ra một ít thời gian để làm một chuyến đi, một cuộc hành trình đi từ hiện tại về quá khứ, để chiêm nghiệm, để thấy tận mắt, nghe tận tai về những vết hằn đẫm máu của cái ác vẫn còn lưu lại ở nhiều nơi, thì chúng ta sẽ hiểu được thế nào là vết hằn ghi trên bồn gió hoang. Hãy nghe lại tích xưa như Trọng Thủy Mỵ Châu để biết đâu là tình yêu, tham vọng, sự phản bội và những cái chết; hãy lật báo hàng ngày ra mà xem cảnh cướp của giết người, anh em giết nhau, vợ giết chồng, chồng giết vợ; hãy đến bên tượng đài Sơn Mỹ để xem và nghe người ta đã giết dân mình như thế nào; hãy mở sách sử để xem cội nguồn của cái chết trên hai triệu người dân Việt vì đói năm 1945; hãy sang Campuchia để chứng kiến vết tích của sự diệt chủng; hãy trở lại Liên Xô (cũ) đứng bên những ngọn lửa nhỏ của những đài tưởng niệm chiến sỹ vô danh để nghe có đến hai mươi triệu người đã chết trong chiến tranh vệ quốc... và còn biết bao nhiêu những vết hằn của cái ác do chính con người đã gây ra nữa! mà kể ra, cả đôi môi và tâm trạng người ta càng cảm thấy u uất hơn: “Chờ ta da du một chuyến. Ôi môi hờn xin đừng kể lại tích xưa buồn hơn”. Từ “da du” được sáng tạo bởi Trịnh Công Sơn với ý nghĩa như vậy, hẳn không phải “Chờ ta giao du một chuyến” như có ca sỹ đã hát.

      Như một nỗi niềm tuyệt vọng trước những thực tại đau buồn, như một sự tương phản với thực tại, lời ca đột ngột nhắc lại cái đích không xa mà mọi con người đều phải đến: “Đợi chờ năm làm gió qua truông thiên đàng”. Cái đích ấy đã được Trịnh Công Sơn viết không chỉ một lần: “Người đã đến và người sẽ về bên kia núi” (Cỏ xót xa đưa), “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi” (Cát bụi).  

      Sự tương phản ở đây khiến ta cảm nhận có một sự vô nghĩa nào đó đang hiện hữu, một sự lầm đường lạc lối nào đó của con người đang tồn tại. Nó khiến ta muốn phủ nhận cái xấu xa đang hiện hữu để vươn tới những gì cao thượng hơn mà lẽ ra con người phải có được trong khi còn “ở trọ” chốn trần gian. Đó là những gì? Đó là tuổi thơ vô tội, là những bài ca dao đầy ắp tình thương mà mẹ đã một thời hát ru con ngủ. Đó là tình yêu và là cái thiện!

      Điệp khúc tiếp theo là một lời hát ru con ngủ, nhưng không phải bài ca dao thuở nọ, mà là lời hát tiễn đưa con trong nỗi niềm tuyệt vọng, đành phải tin rằng chết là một giấc ngủ bình yên, đành phải tin rằng chết là cơ may thoát khỏi những đau khổ chốn trần gian (“che dấu thân đau rã mòn”) để an ủi cho chính người ở lại. Âm “thôi” kéo dài não nề khiến ta cảm nhận được nỗi tuyệt vọng ấy: “Thôi! Ngủ yên đi con. Ngủ đời yên đi con che giấu thân đau rã mòn. Ngủ đời yên đi con như vết thương đau ngủ buồn, như trùng dương đêm mắt thâm còn nghe ngóng!”, đó là lời ru con lần thứ hai, như “Ru con nay đã hai lần, ôi tấm thân này ngày xưa bé bỏng” (Ngủ đi con).

      Có lẽ điệp khúc là nghệ thuật đỉnh cao trong  mô tả nỗi khổ đau của kiếp làm người. Hình ảnh người phụ nữ ru tiễn con đi về cõi vĩnh hằng kết hợp với hình ảnh một người phụ nữ đêm mắt thâm quầng còn mỏi mòn nhìn ra biển mà nhen nhóm một chút hy vọng nhỏ nhoi đợi chồng về trong nỗi tuyệt vọng bao la của đại dương như ẩn hiện một hòn vọng phu, khiến trời xanh mà nghe thấy chắc cũng phải động lòng! Ôi kiếp làm người! Ôi “Đá lăn! Vết lăn trầm”!

      “Từ cơn đau ấy, lưu thân mỏi mòn, ôi mắt thầm van xin lời thánh đêm!”, khi đã trải qua khổ đau tột cùng, con người như mất tất cả, không còn chỗ bám víu, không còn biết đâu là hạnh phúc trên cõi đời, chỉ còn biết cầu xin đấng tối cao cho được bình an để mà mòn mỏi lưu thân cho đến hết cuộc đời. Thật không còn từ nào có thể thay thế được “lưu thân mỏi mòn” để diễn tả nỗi khổ của kiếp làm người, lưu thân là chỉ ở tạm, ở trọ mà thôi như “Tôi đây ở trọ trần gian” (Ở trọ), còn nhà của mình là chốn vĩnh hằng hay chốn thiên thu như Ông đã từng viết: “Anh nằm xuống như một lần vào viễn du. Đứa con xưa đã tìm về nhà” (Hát cho người nằm xuống).

      Từ đầu bài hát đến giờ, tổng kết lại ta thấy những gì ? Đó là cái ác trong con người và những vết hằn của nó vẫn còn đó; đó là nỗi bất hạnh tột cùng của kiếp người; và bây giờ là “van xin lời thánh đêm”.  Và hoàn toàn không phải ngẫu nhiên sau “Ôi mắt thầm van xin lời thánh đêm”, thì vang lên “Bài ca dao trên cồn đá, trên ngai vàng quê nhà một thời ngủ yên tuổi xanh”.

      Mọi người Việt, dù được sinh ra từ những nơi tận cùng của nghèo khó (trên cồn đá) hay từ những nơi tột đỉnh của vinh quang (trên ngai vàng) đều đã có ít nhất một lần được nghe hát ca dao. Đó là những lời giáo huấn của cha ông được truyền lại về lòng nhân ái, đầy ắp tình thương  giữa người và người: “Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”, “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”, “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng”…, hay đôi khi là biểu hiện tình mẫu tử thiêng liêng nhưng cũng gởi gắm nhiều tâm trạng của kiếp người ngay từ thời ấu thơ:

      “Ví dầu cầu ván đóng đinh

      Cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi

      Khó đi mẹ dắt con đi

      Con thi trường học mẹ thi trường đời”.

 

      Khi viết về sự “van xin” “lời thánh đêm” và “bài ca dao”, Trịnh Công Sơn chắc chính mình cũng muốn van xin con người hãy hướng về lòng nhân ái, về cái thiện tâm, hãy để cho tình yêu, lòng vị tha, hạnh phúc được nhân lên; hãy để cho cái ác, sự nhẫn tâm, sự phản bội … đi vào lãng quên. Khi hát các khúc nhạc của Trịnh Công Sơn, người hát cũng như đang van xin chính mình hãy giã từ cái ác, hoặc là cầu mong cho mình, cho nhân gian được niềm vui, hạnh phúc. Người nghe cũng phần nào được an ủi, được củng cố lòng tin vào cuộc sống và thấy cuộc đời còn đáng sống hơn.  Và tất cả những điều đó cũng chính là lời nhắn nhủ thầm kín của Ông trong ca khúc “Vết lăn trầm”.

 

      Tôi đã đọc một số bài viết về nhạc Trịnh Công Sơn, trong đó có bài viết gây nhiều ấn tượng của Ông John C. Schafer, một người Mỹ đã phân tích và chứng minh “về Cái chết, Phật giáo và Chủ nghĩa hiện sinh trong nhạc Trịnh Công Sơn”.

 

      Tôi cũng lấy làm tiếc là không thấy ai đưa ra kết luận về cuộc sống trong âm nhạc của ông là rất ngắn ngủi và đầy bất hạnh, và lời trong mỗi bài ca thường là một lời nhắn nhủ thầm kín rằng con người hãy từ bỏ cái ác trong chính mình, hãy làm cho tình yêu, hạnh phúc được chắp cánh bay cao. Và do đó, nhạc của Ông là loại âm nhạc hướng thiện. Ca từ đầy quyến rủ và bí ẩn. Giai điệu thánh thiện và nội dung đầy tính nhân văn. Chính vì vậy mà nó có sức thu hút mạnh mẽ cả người hát lẫn người nghe.

 

      Nếu bạn chịu khó để tâm, sẽ thấy điều ấy (sự hướng thiện) đã được Ông viết rất nhiều lần: “chiều này còn mưa sao em không lại, nhỡ mai (không phải là nhớ mãi) trong cơn đau vùi làm sao có nhau”! (Diễm xưa) hoặc “Xin hãy cho mưa qua miền đất rộng, ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau” (Diễm xưa), khác nào hãy cho nhau một cuộc đời này hạnh phúc, bởi lẽ kiếp sau sỏi đá vô tri cũng cần có tình, huống hồ chi là con người của kiếp này.

 

      Hay “Ru khi mùa mưa tới. Ru em mãi yêu người. Ru em hoài bé dại, một hồn thơm  cây trái. … Ru em là cánh nhạn miệng ngọt hạt từ tâm”! “Ru em tình như lá trăm năm vẫn quay về”! (Ru tình) khác nào là lời cầu mong cho con người có thiện tâm, tình yêu và sự thủy chung.

 

      Hay “Một ngày, ngày ngày đã qua. Ôi một ngày, ngày chóng qua … Ôi nhân loại, mặt trời và em thôi. Này đôi môi xin thương người”! (Xin mặt trời ngủ yên).

 

      Trong một thể hiện khác: “Mặt trời nào soi sáng tim tôi, để tình yêu!...” để tình yêu được thức tỉnh trong mọi trái tim người, để những tâm hồn khô cằn như đá cuội cũng được hồi sinh. Có lẽ ở đây Ông đã sử dụng một phép đảo ngữ mà ta ít khi thấy trong tiếng Việt  “Để tình yêu xay mòn thành đá cuội” (Cát Bụi).

 

      Và nhiều khi không còn là một lời nhắn nhủ thầm kín nữa mà là một sự thẳng thắn, một lời kêu gọi bộc trực rằng con người hãy quên đi điều ác mà hướng đến cái thiện: “Biển sóng, biển sóng đừng âm u. Đừng nuôi trong ấy trái tim thù!” (Sóng về đâu).

 

      Sự đấu tranh vì cái thiện thật sự mạnh mẽ và quyết liệt hơn trong những ca khúc phản chiến: “Giòng máu anh em đã nhuộm mặt trời, cùng xương khô lên tiếng nói. Đòi sống ấm êm nhân danh con người” (Ta đã thấy gì đêm nay), “Hãy sống giùm tôi, hãy nói giùm tôi, hãy thở giùm tôi! Thịt da này dành cho thù hận…” (Hãy sống giùm tôi) …

 

      Và có lẽ không có chứng minh nào thuyết phục hơn bằng chính lời tâm sự của Ông: “… Không ai muốn mình là kẻ tuyệt vọng. Nhưng tôi tự nguyện làm tên tuyệt vọng. Bởi nhiều sớm mai khi tôi thức dậy đã không thấy được hoa quả khai sinh trong trái tim người …” (Sài gòn, tháng 11.1992). Lời nhạc còn một câu cuối. Lại xuất hiện một sự tương phản. Tương phản giữa “Một thời ngủ yên tuổi xanh” và “Rồi một hôm chợt thấy hoang vu quanh mình!”. Một câu ngắn, nhưng chứa đầy nội tâm làm ta không thể không quan tâm.

 

      Trong nhạc của Ông, nhiều khi ta gặp các từ “trẻ thơ”, “tuổi xanh”, “vòng nôi”, “tóc … xanh”, “trẻ hát trong nôi”, “thơ ngây”, “bé dại” … được sử dụng với một sự trân trọng đặc biệt. Nó thể hiện một sự tinh khôi, một thời hồn nhiên vô tội, một sự bình yên và là niềm hạnh phúc. Bên cạnh đó, ta cũng thấy sự xuất hiện của từ “hoang vu”, “im vắng” “bỏ hoang”… trong tâm hồn con người. Nó chứa đầy nội tâm bí ẩn. Nó là lúc con người chợt nhìn lại cuộc đời của chính mình, là lúc con người cảm thấy cô đơn, như một báo hiệu vết lăn sắp kết thúc. Trong nhạc của Ông, ở  những mảnh đời khác nhau, tâm trạng con người cuối đời cũng khác nhau. Có kẻ vội vã yêu thương ở cuối cuộc đời, là lúc “Về thu xếp lại, ngày trong nếp ngày. Vội vàng thêm những lúc yêu người” (Chiếc lá thu phai), hay là “Còn đây có bao ngày, còn ta cứ vui chơi” (Còn có bao ngày), nhưng cũng có khi sự hoang vắng lại biểu hiện một sự tự vấn, một sự ăn năn, một sự sám hối về phần đời đã qua: “Đời sao im vắng như đồng lúa gặt xong, như rừng núi bỏ hoang. Người về soi bóng mình giữa tường trắng lặng câm!” (Ru ta ngậm ngùi), sự sám hối lên đến tột cùng: “Hương trầm có còn đây ta thắp nốt chiều nay. Xin ngủ trong vòng nôi! Ta ru ta ngậm ngùi! Xin ngủ dưới vòm cây!” (Ru ta ngậm ngùi), có lẽ là tâm trạng con người sống cuộc đời đã qua với bản năng dã cầm nhiều hơn là con người để rồi ăn năn xin được tha thứ, xin được trở về với tuổi thơ vô tội, xin trở lại “ngủ trong vòng nôi”, nhưng đã quá muộn, đành phải “ta ru ta ngậm ngùi”. Và rõ ràng sự “chợt thấy hoang vu quanh mình” cũng phản ánh những nỗi niềm, sự băn khoăn thiện ác của con người trước lúc chia tay đi xa. Nó cũng không nằm ngoài sự hướng thiện.

 Tuy nhiên, chúng ta không chỉ biết ngồi yên hát rao điều thiện, cầu xin cái ác hãy thương tình mà còn phải biết cách ủng hộ cái thiện, chống lại cái ác, như ai đó đã viết: “Khi cái ác đã cầm lấy dao găm thì cái thiện phải cầm lấy súng trường”.

       “Vết lăn trầm” là ca khúc chứa nhiều nỗi ưu tư của Ông về kiếp làm người. Là lời nhắn nhủ thầm kín để con người biết quên đi lòng tham, quên đi hận thù, tránh điều ác để hướng tới tình yêu, hạnh phúc, cũng là để cứu lấy con người khỏi khổ đau, bất hạnh. Nó có thể xem là đại diện cho âm nhạc hướng thiện của Ông. Cần thiết nên xem xét lại để phổ biến âm nhạc của Ông đầy đủ hơn thay vì ngăn cấm. Và hãy đừng ngạc nhiên khi có ai đó nói với bạn rằng bạn cũng thích nhạc Trịnh Công Sơn ư, vậy bạn là người tử tế!./.

                                                                                                TP. Hồ Chí Minh, 10.2012

                                                                                                       T. H.M

Bài viết khác cùng số

Chùm truyện ngắn của Lưu Đức TrungValentine quên - Truyện ngắn Thanh Trắc Nguyễn VănẨn tướng - Truyện ngắn Trương Điện ThắngĐà Nẵng Đà Nẵng – Tạp bút Văn Công HùngHòa Vang bây giờ - Ghi chép Tiểu YếnTầm vóc thành phố trẻ - Tản văn Nguyễn Thị Anh ĐàoỦ hương – Thơ Vương Phạm Tâm CaTôi hát – Thơ Tăng Tấn TàiHoa và nắng – Thơ Phạm Thị Bích HợiHương quê tình biển – Thơ Thùy NgaNhịp cầu kiêu hãnh – Thơ Xuân ThànhChạm vào xuân – Thơ Thuận TìnhTrên đường Trường Sa – Thơ Ngô MinhLặng im đợi gió ru mùa – Thơ Nguyễn Ngọc Hưng Biển quê anh – Thơ Huy TríCột mốc thời gian – Thơ Nguyễn Đông NhậtỞ Sokcho – Thơ Mai Văn PhấnLũ chim sẻ - Thơ Ngân VịnhNhững buổi sáng màu rêu – Thơ Nguyễn GiúpThì đây trắng để chiều không muốn chiều – Thơ Nguyễn Hưng HảiNét xuân – Thơ Triệu Nguyên PhongVết lăn trầm - Lời nhắn nhủ thầm kín của Trịnh Công Sơn - Trương Hồng Mẫnhọng đêm và những câu thơ bung gai giữa ngày không nắng - Hoàng Thụy AnhNơi cuối con đường anh lại bắt đầu đi - Hoàng Thanh ThụyThơ văn Tú Quỳ - Từ điểm nhìn văn hóa - PGS.TS. Nguyễn Phong NamBí thư Chi bộ "Culi" Xe kéo TỐNG PHƯỚC PHỔ - Nhà soạn Tuồng Hát Bội thâm nho - Trần HồngGiáo sư Hoàng Châu Ký - Bậc thầy của nghệ thuật Tuồng - Nguyễn Phước Tương*