Theo dấu hai ngôi miếu Bà ở Vũng Tàu

06.07.2026
Huỳnh Thạch Hà

Theo dấu hai ngôi miếu Bà ở Vũng Tàu

Miếu Hòn Bà tọa lạc trên đỉnh một hòn đảo nhỏ giữa biển khơi

Biển Vũng Tàu những ngày tháng Năm lặng gió, sóng xô nhẹ vào bãi cát từng đợt nhỏ. Nắng cũng dịu hơn cái gay gắt của miền Trung. Từ thành phố biển Đà Nẵng, tôi theo đoàn văn nghệ sĩ đến Vũng Tàu dự trại sáng tác kéo dài từ ngày 11 đến 20 tháng 5. Ngoài thời gian hoàn thiện bản thảo, chúng tôi rong ruổi qua nhiều di tích văn hóa, ghé thăm các làng biển và nghe những câu chuyện đời sống của cư dân miền sóng nước. Nhưng có lẽ điều ám ảnh tôi nhiều nhất vẫn là hành trình tìm về những ngôi miếu thờ Bà, cũng là nơi gửi gắm niềm tin tâm linh của cư dân biển phương Nam.

Ở một thành phố biển mà nhịp sống hiện đại đang phát triển từng ngày như Vũng Tàu, vậy mà tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ Bà vẫn tồn tại bền bỉ trong đời sống tinh thần của  người  dân. Đó không chỉ là niềm tin mà còn là cách người ta gửi gắm nỗi lo âu trước biển cả, cầu mong bình an cho những chuyến ra khơi và gìn giữ tinh thần cố kết cộng đồng.

Từ miễu Bà Chúa Xứ đến câu chuyện của cư dân biển

Buổi sáng đầu tiên ở phường Phước Thắng, chúng tôi ghé thăm miễu Bà Chúa Xứ. Ngôi miễu không lớn, nép mình dưới những tán cây xanh, tạo cảm giác vừa gần gũi vừa linh thiêng. Trong không gian bảng lảng khói nhang, bước chân của những người khách phương xa cũng tự nhiên chậm lại, tĩnh lặng hơn.

Ông Nguyễn Minh Hiếu, sinh năm 1954, một cư dân bản địa sống lâu năm ở vùng này, kể cho tôi nghe về ngôi miễu với giọng đặc sệt miền biển Nam Bộ. Ông nói, trước năm 1962, miễu nằm ở Ẹo Ông Từ nên người dân quen gọi là miễu Bà Chúa Xứ ở Ẹo Ông Từ. Khi mở đường, dân làng góp công góp của dời miễu về vị trí phường Phước Thắng như hiện tại. “Miễu có lâu đời rồi, Bà được thỉnh từ Châu Đốc về. Hằng năm dân chúng dâng lễ cúng từ sáng 22 đến rạng 23 tháng Ba âm lịch để cầu an cho bá tánh. Sau lễ cúng Bà, các bang hội sẽ cùng tham gia phần hội. Những ngày diễn ra lễ hội thì các đoàn hát bội miền Trung sẽ về đây hát 2-3 đêm. Không khí lễ hội năm nào cũng đông đúc, nhộn nhịp. Người dân quanh đây tin rằng, Bà luôn phù hộ cho dân bình an, gặp may mắn và nhiều tài lộc”.

Điện thờ miễu Bà Chúa Xứ

Câu chuyện ấy khiến tôi nhớ đến tín ngưỡng thờ Bà ở miền Trung, đặc biệt là tại Đà Nẵng. Từ lâu, cư dân ven biển Đà Nẵng cũng duy trì tục thờ các nữ thần biển cả như Bà Đại Càn, Thủy Long Thần Nữ hay phối thờ Thiên Y A Na Thánh Mẫu trong các lăng miếu ven biển. Những ngôi miếu nhỏ nằm dọc theo bờ biển ở Nam Ô, Mân Thái, Hòa Hải, Thăng Bình… đều phản ánh nỗi niềm chung của người đi biển, đó là khi đối diện với biển cả rộng lớn, nhiều bất trắc, thì luôn tìm một điểm tựa tinh thần để vượt qua sóng gió.

Nếu tín ngưỡng thờ Bà ở Đà Nẵng mang nhiều dấu vết giao thoa văn hóa Chăm - Việt, thể hiện sự dung hợp giữa tín ngưỡng dân gian với tục thờ nữ thần bản địa, thì ở Vũng Tàu, hình ảnh Bà Chúa Xứ lại mang đậm sắc thái thờ mẫu của Nam Bộ. Người dân tin Bà che chở cho việc làm ăn, bảo hộ cuộc sống mưu sinh và đem lại bình an. Vì thế, tín ngưỡng nơi đây lại rất gần gũi với đời sống thường nhật.

Điều thú vị là ở cả Vũng Tàu lẫn Đà Nẵng, tín ngưỡng thờ Bà đều gắn chặt với cộng đồng cư dân biển. Nó xuất phát từ cuộc sống những người đàn ông quanh năm lênh đênh ngoài khơi làm nghề biển và luôn mang theo nỗi bất an trước sóng gió, còn những người đàn bà ở đất liền lại gửi niềm cầu nguyện vào những ngôi miếu. Từ đó hình thành nên các lễ thức cộng đồng, những ngày cúng vía, những cuộc hội ngộ làng xóm và sâu xa hơn là tinh thần cố kết cộng đồng làng biển.

Trong không  gian  linh  thiêng của ngôi miễu, trước tượng Bà, khói hương hòa quyện trong mùi gió biển tạo nên một cảm giác thật bình yên. Có lẽ, sau tất cả những biến động của đời sống hiện đại, con người vẫn luôn cần một nơi để gửi gắm niềm tin. Và với cư dân nơi đây, đó vừa là nơi trú ngụ của thần linh, nơi họ tìm về mỗi khi biển động, làm ăn thất bát hay gia đình gặp biến cố bất ngờ.

Hòn Bà và ngôi miếu hiện lên giữa biển khơi

Trong khi miễu Bà Chúa Xứ mang cảm giác gần gũi của đời sống cư dân thì miếu Hòn Bà lại gợi một vẻ huyền bí thiêng liêng. Từ bờ nhìn ra, Hòn Bà như một hòn đảo nhỏ nhô lên giữa biển xanh. Ngôi miếu hiện nay thuộc làng Thắng Tam, phường Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh. Người địa phương bảo rằng vào những ngày gần rằm hoặc mùng 1 âm lịch, khi nước xuống thấp mới lộ ra con đường đá nối đảo với đất liền. Con đường ấy chỉ hiện lên trong một khoảng thời gian ngắn rồi lại chìm vào biển nước. Thật may vì chúng tôi có duyên đến đây vào chiều ngày 14 tháng 3 âm lịch, đúng lúc con nước xuống. Bước trên con đường đá gập ghềnh giữa hai bên sóng vỗ khiến những khách bộ hành có cảm giác như đang đi vào không gian trong câu chuyện cổ tích nào đó.

Tìm hiểu về lịch sử xây dựng ngôi miếu, chúng tôi được nghe người dân kể rằng, miếu Bà được dựng từ xưa, khoảng cuối thế kỷ 18 để thờ Thủy Long Thần Nữ, là vị thần bảo hộ vùng sông nước. Một số khác lại cho rằng một người miền Trung tên Hồ Quang Minh dựng miếu vào năm 1881 để cầu bình an cho ngư dân làng Thắng Tam.

Ngôi miếu hôm nay nằm trên đỉnh đảo, mái ngói đỏ nổi bật giữa nền trời và biển cả. Kiến trúc không đồ sộ hay quá cầu kỳ nhưng trang nghiêm với những đường nét truyền thống: mái cong, phía trước có bình phong trang trí bởi 2 con chim phượng đang chầu mặt trời, với những áng mây trắng vờn quanh; tượng Thủy Long Thần Nữ đặt phía trước điện thờ, bên phải còn có một am nhỏ thờ Phật Bà Quan Âm. Bà được thờ ở đây không chỉ là vị thần của nước mà còn là hiện thân của sự che chở trước thiên nhiên vô thường.

Người hướng dẫn kể cho  chúng tôi nghe về sự hiển linh của Bà qua giai thoại “Hòn Ba Viên Đạn” thời Pháp thuộc. Năm 1939, một sĩ quan Pháp tên Archinard từng cho bắn đại bác vào miếu để thị uy. Ba phát đạn chỉ có một phát làm sứt góc miếu, còn sau đó viên sĩ quan lại chết vì tai nạn súng đạn. Câu chuyện được người dân truyền tai nhau và họ tin Bà sẽ phù hộ cho ai kính ngưỡng và trừng phạt những ai dám mạo phạm.

Dĩ nhiên, dưới góc nhìn khoa học, đó chỉ là một giai thoại dân gian. Nhưng chính những huyền  tích  ấy đã góp phần tạo nên sức sống cho tín ngưỡng dân gian một vùng đất. Người dân cần những câu chuyện để nuôi dưỡng niềm tin, cố kết cộng đồng.

Hẳn là, dù ở Vũng Tàu hay Đà Nẵng, tín ngưỡng của cư dân biển dường như đều xoay quanh ước vọng biển khơi lặng sóng để mỗi chuyến ra khơi đều được bình an. Chỉ khác rằng trong không gian Nam Bộ, yếu tố thờ Mẫu hiện diện rõ hơn, lễ thức quy mô hơn và màu sắc cộng đồng cũng rộn ràng hơn. Dù hình thức khác nhau, tất cả đều phản ánh niềm tin của cư dân duyên hải vào sự kết nối giữa con người với biển cả.

Tôi ngồi khá lâu bên phiến đá ở Hòn Bà. Gió biển lồng lộng thổi. Phía xa, những chiếc tàu cá lặng lẽ trở về khi hoàng hôn buông xuống. Trong khoảnh khắc ấy, tôi bỗng hiểu vì sao tín ngưỡng thờ Bà vẫn tồn tại bền bỉ đến hôm nay. Đó chính là cách cư dân miền biển ứng xử với thiên nhiên, đồng thời cũng là nơi gửi gắm niềm tin giữa bao bất trắc của đời sống.

Vũng Tàu hôm nay đã chuyển mình mạnh mẽ bởi du lịch và đô thị hóa. Những khách sạn cao tầng mọc lên sát biển, những dòng xe nối nhau qua các tuyến đường mới mở. Nhưng giữa nhịp phát triển ấy, miễu Bà Chúa Xứ hay miếu Hòn Bà vẫn là nơi người dân tìm đến để gửi gắm những ước mong bình an cùng những chuyến đánh bắt bội thu.

Và hành trình đi tìm dấu vết của Bà ở Vũng Tàu, với tôi, cũng là hành trình nhận ra sức mạnh tinh thần của tín ngưỡng thờ Bà, là nét văn hóa dân gian sinh ra từ đời sống, ước vọng của nhân dân, đi qua bao biến động vẫn lặng lẽ tồn tại như tiếng sóng ngoài khơi, âm thầm mà bền bỉ trong đời sống cư dân biển.

H.T.H