Văn học, nghệ thuật Đà Nẵng với công nghiệp văn hóa: Những rào cản và đề xuất

Từ chỗ lạ lẫm, hoài nghi, đến nay nhiều vấn đề về công nghiệp văn hóa (CNVH), về hệ sinh thái CNVH, đã dần được tường minh và càng lúc càng thu hút sự quan tâm của nhiều người. Trong đó, lĩnh vực văn học, nghệ thuật cũng được tiếp cận đầy đủ hơn và khác hơn, đó là: Không chỉ được nhìn nhận ở khía cạnh tinh thần hay thẩm mỹ, văn học, nghệ thuật còn được xem là nguồn lực để chuyển hóa thành giá trị kinh tế, quảng bá hình ảnh của địa phương, của quốc gia.
Từ cách nhìn nhận ấy, trong hệ sinh thái CNVH, văn nghệ sĩ được xem là chủ thể sáng tạo trong tư cách là người làm ra sản phẩm đầu tiên của chuỗi giá trị văn hóa. Mỗi một tác phẩm văn học, nghệ thuật - ví như một bài thơ, một truyện ngắn, tấm ảnh, bức tranh, ca khúc... hay có quy mô lớn hơn là một vở kịch, một bộ phim, một công trình mỹ thuật hoành tráng... đều được xem là và đều chính là hạt nhân của quá trình tạo ra giá trị. Tác phẩm văn học, nghệ thuật được xem, hay đúng hơn, chính là một sản phẩm để đưa vào lưu thông, để cạnh tranh bình đẳng và sinh lợi trong môi trường cạnh tranh của cơ chế kinh tế thị trường.
1. Ở nước ta trong những năm gần đây, cùng với các thế hệ văn nghệ sĩ đi trước - những người đã góp phần làm nên vóc dáng vạm vỡ của văn nghệ Việt Nam, đội ngũ văn nghệ sĩ cũng liên tục được bổ sung với rất nhiều những người trẻ, năng động, vừa có kiến thức chuyên sâu vừa có hiểu biết đa ngành, đa lĩnh vực. Nhiều người trong số đó có khả năng tiếp cận và vận hành rất nhanh chóng tư duy mới và các ứng dụng công nghệ hiện đại... Và đây cũng chính là lực lượng tiên phong trong đội hình văn học, nghệ thuật trên tiến trình hình thành và phát triển CNVH.
Tại Đà Nẵng, phong trào sáng tạo nghệ thuật những năm gần đây phát triển khá mạnh. Các hội chuyên ngành thuộc Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật thành phố như Hội Mỹ thuật, Hội Âm nhạc, Hội Điện ảnh, Hội Nhiếp ảnh, Hội Nghệ sĩ Sân khấu, Hội Kiến trúc sư, Hội Nhà văn, Hội Văn nghệ dân gian, Hội Nghệ sĩ múa đã có nhiều nỗ lực tổ chức triển lãm, xuất bản, biểu diễn, góp phần quảng bá hình ảnh của đất và người thành phố đến với bạn bè trong nước và quốc tế. Nhiều tác phẩm âm nhạc, điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật, sân khấu... đã có sự dự phần nhiều hơn vào các hoạt động văn hóa, du lịch, lễ hội, các sự kiện chính trị, ngoại giao, tạo hiệu ứng xã hội tích cực.
Thành phố Đà Nẵng cũng là đô thị năng động bậc nhất miền Trung và đang được kỳ vọng sẽ trở thành trung tâm sáng tạo và tổ chức các sự kiện văn hóa, nghệ thuật mang tầm khu vực. Ngay từ khi chưa thực hiện sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, cả Quảng Nam và Đà Nẵng đều đã triển khai nhiều hoạt động nhằm thúc đẩy sự phát triển của CNVH. Tuy nhiên, trên thực tế, nếu nhìn sâu vào quá trình thực hành CNVH, có thể thấy vẫn còn nhiều hạn chế. Đó là: mối liên kết giữa sáng tạo nghệ thuật và thị trường vẫn còn lỏng lẻo. Phần lớn văn nghệ sĩ vẫn hoạt động trong khuôn khổ truyền thống: sáng tác, dự thi, triển lãm, in ấn… mà chưa có sự gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp, nhà đầu tư hay công nghệ số. Khoảng cách giữa người sáng tạo - doanh nghiệp - người tiêu thụ sản phẩm văn hóa vẫn còn khá lớn. Hầu hết tác phẩm văn học, nghệ thuật vẫn chưa phải là sản phẩm để đưa ra thị trường, tạo ra giá trị kinh tế và đem lại lợi nhuận/ thu nhập tương xứng cho chủ thể sáng tạo và cho xã hội...
Thực trạng nói trên có nhiều nguyên nhân khác nhau, cả khách quan và chủ quan, đó là:
- Chưa có đột phá về nhận thức và tư duy nghề nghiệp: Không ít văn nghệ sĩ vẫn còn ngần ngại khi tiếp cận và thực hành CNVH, vì cho rằng sáng tạo nghệ thuật là phi lợi nhuận, chỉ mang giá trị/ ý nghĩa tinh thần thuần túy. Bên cạnh đó, nhiều văn nghệ sĩ vẫn đang sáng tác theo “bản năng”, chủ yếu tạo ra tác phẩm theo cảm xúc tự nhiên của cá nhân, sáng tạo theo kiểu mình thích chứ chưa nghĩ đến việc sáng tạo nên những tác phẩm/ sản phẩm mà công chúng thích và cần. Một số khác muốn thử, muốn tiếp cận nhưng chưa/ không biết bắt đầu từ đâu; hoặc chưa thể tự mình giải được bài toán làm thế nào để cân bằng giữa việc vừa giữ được cái độc sáng, cái cao cả của hoạt động sáng tạo văn học, nghệ thuật, giữ được giá trị tinh thần của tác phẩm, vừa tạo ra nguồn thu chính đáng... Do vậy, nhiều văn nghệ sĩ vẫn còn dè dặt, lúng túng trong việc tìm hiểu sâu về CNVH và tham gia vào chuỗi giá trị văn hóa hay thương mại hóa sản phẩm văn học, nghệ thuật.
- Chưa tìm được “nhịp cầu” phù hợp để kết nối nghệ thuật với thị trường. Một sản phẩm văn hóa chỉ có thể tạo ra giá trị kinh tế và “sống được” khi tìm được, có được công chúng và thị trường của nó. Hơn ai hết, người sáng tạo văn học, nghệ thuật phải nhận diện được công chúng của mình là ai và dự đoán được thị trường tiềm năng cho sản phẩm của mình ở đâu và như thế nào. Hỗ trợ cho văn nghệ sĩ trong việc này, rất cần sự góp sức, dự phần, vào cuộc của các doanh nghiệp văn hóa sáng tạo, các nhà phân phối, các trung tâm bản quyền... Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều văn nghệ sĩ chưa đủ sức hoặc chưa chủ động làm việc đó; trong khi vẫn còn rất ít các đơn vị, doanh nghiệp có khả năng hỗ trợ văn nghệ sĩ đưa sản phẩm văn học, nghệ thuật ra thị trường. Và rồi, hệ quả của thực trạng này là:
Nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật chỉ được biết đến trong phạm vi những người trong giới văn nghệ và bạn bè, người thân của họ. Và tất nhiên, những sản phẩm ấy không thể trở thành hàng hóa văn hóa đúng nghĩa.
Cũng cần nói thêm là, hiện nay đa số văn nghệ sĩ vẫn còn nằm trong nhóm thu nhập thấp. Thu nhập từ hoạt động văn học, nghệ thuật của họ khá “tượng trưng”, thậm chí trong nhiều trường hợp là gần như bằng không; họ làm chủ yếu vì đam mê. Trong khi đó, thông qua các hoạt động biểu diễn, triển lãm, phát hành và đặc biệt là thực hiện những việc này bằng cách xâm phạm bản quyền, một số đơn vị, doanh nghiệp đã thu được một nguồn lợi đáng kể, trong khi chủ thể của những sản phẩm ấy - những người tạo ra giá trị cốt lõi trong chuỗi giá trị CNVH, thì lại chẳng được gì. Nếu có được những nhịp cầu vững chãi, tin cậy để văn nghệ sĩ kết nối và đưa sản phẩm của mình đến công chúng và thị trường, họ và sản phẩm của họ sẽ được bảo vệ và tạo ra giá trị đúng nghĩa, đem đến lợi nhuận đúng mức, tăng thu nhập cho đúng người, và rồi sự vận hành tổng thể của CNVH sẽ không bị ảnh hưởng.
- Hạn chế về kỹ năng số: Công nghệ số hóa đã và đang làm thay đổi căn bản phương thức sáng tạo, quảng bá và tiêu thụ sản phẩm văn học, nghệ thuật. Các nền tảng như YouTube, TikTok, hay các sàn nghệ thuật trực tuyến mở ra cơ hội lớn cho người sáng tạo. Tuy nhiên, đa số văn nghệ sĩ Việt Nam nói chung và Đà Nẵng nói riêng vẫn chưa có đủ kỹ năng, sự hiểu biết và công cụ để khai thác các nền tảng ấy. Chỉ có một số ít có khả năng và bước đầu thực hiện việc xác lập bản quyền số, marketing sản phẩm, số hóa tác phẩm, xây dựng thương hiệu/ mã nhận diện cá nhân... trên thị trường văn hóa nói chung và trên môi trường số nói riêng. Do vậy, nhiều tác phẩm rất có giá trị, có khả năng sinh lời, tạo ra giá trị kinh tế tương xứng... nhưng cuối cùng lại kết thúc trong phạm vi hẹp ở các cuộc trưng bày, triển lãm, các buổi giới thiệu nhỏ lẻ, chưa và không thể vươn ra thị trường, đến với công chúng rộng rãi hơn.
- Cơ chế, chính sách hỗ trợ chưa tương xứng và phù hợp. Cho đến lúc này, Chiến lược phát triển CNVH đã được triển khai bước đầu ở hầu hết các địa phương - trong đó có thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên, một hệ thống chính sách cụ thể, chi tiết mang tính đặc thù cho từng loại hình nghệ thuật vẫn chưa được xác lập... Từ nhiều năm trước, các cơ chế đặt hàng, hỗ trợ sáng tạo, lập quỹ đầu tư văn học, nghệ thuật dành cho văn nghệ sĩ... đã được thực hiện, song tất cả mới chỉ dừng ở việc giúp văn nghệ sĩ tạo ra sản phẩm văn học, nghệ thuật thuần túy chứ chưa hướng đến việc giúp họ tạo ra sản phẩm có khả năng đưa ra thị trường và sinh lời.
2. Để tháo gỡ các rào cản, giúp văn nghệ sĩ hội nhập đầy đủ và chủ động hơn vào tiến trình CNVH, cần thực hiện những giải pháp như sau:
Trước hết, chính quyền, các cơ quan quản lý văn hóa của thành phố, Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật cần tổ chức các chương trình tập huấn, tọa đàm, chia sẻ kiến thức về cơ chế vận hành của CNVH, về kinh tế sáng tạo. Qua đó, giúp văn nghệ sĩ hiểu rõ để họ chủ động, tự tin hơn trong việc sáng tạo nên những sản phẩm phù hợp; để họ ý thức được rằng CNVH trong văn học, nghệ thuật không phải là sự thương mại hóa mà là cách thức để văn học, nghệ thuật phát triển, lan tỏa và nuôi dưỡng được chính người sáng tạo.
Đồng thời, hỗ trợ đào tạo cho văn nghệ sĩ về kỹ năng số hóa tác phẩm, marketing, sử dụng nền tảng số để quảng bá và thương mại hóa tác phẩm; giúp họ tự chủ trong truyền thông và phân phối sản phẩm. Việc ứng dụng các công nghệ hiện đại như AI, công nghệ số hóa 3D, NFT... sẽ mở ra hướng mới cho sáng tạo nghệ thuật. Nếu văn nghệ sĩ được trang bị đầy đủ kỹ năng sử dụng các công cụ ấy, chúng ta có thể đưa tác phẩm của Đà Nẵng ra thị trường toàn cầu.
Đà Nẵng có lợi thế lớn về du lịch, sự kiện và truyền thông; là trung tâm sáng tạo và tổ chức các sự kiện văn hóa, nghệ thuật mang tầm khu vực. Vì vậy, cần có cơ chế kết nối mạnh hơn nữa với các doanh nghiệp du lịch, trung tâm văn hóa, nhà đầu tư, từng bước hình thành hệ sinh thái sáng tạo đặc thù. Trong hệ sinh thái ấy, tác phẩm văn học, nghệ thuật có cơ hội và có thể trở thành sản phẩm du lịch, quà tặng văn hóa, môi trường/ không gian trải nghiệm.
Việc xây dựng cơ chế hỗ trợ các dự án văn học, nghệ thuật có tính ứng dụng cao hoặc có khả năng góp phần phát triển thương hiệu cho thành phố là cần thiết. Mỗi tác phẩm văn học, nghệ thuật đều có thể góp phần xây dựng bản sắc thành phố Đà Nẵng trẻ trung, năng động, nhân văn, sáng tạo và đáng sống. Theo đó, nghiên cứu đưa nghệ thuật vào kiến thiết thành phố, sử dụng các tác phẩm có giá trị của văn nghệ sĩ để làm đẹp cho các không gian công cộng; biến văn học, nghệ thuật thành “công nghiệp mềm”, vừa giáo dục thẩm mỹ, vừa thúc đẩy kinh tế sáng tạo...
Gắn với đó, chú trọng công tác bảo vệ bản quyền tác phẩm, minh bạch trong việc khai thác, chuyển nhượng, phân phối lợi nhuận giữa văn nghệ sĩ và cơ quan, doanh nghiệp vận hành CNVH.
Có thể nói, phát triển CNVH là một tiến trình lâu dài và phức hợp, trong đó văn nghệ sĩ là trung tâm của sáng tạo và lan tỏa giá trị văn hóa. Nhưng để họ thực sự trở thành lực lượng tiên phong, cần một hệ sinh thái đồng bộ: chính sách cởi mở, cơ chế hỗ trợ linh hoạt, môi trường nghề nghiệp năng động và đặc biệt là một nhận thức mới - coi sáng tạo là nguồn lực phát triển bền vững. Với tiềm năng và khát vọng đổi mới, Đà Nẵng hoàn toàn có thể trở thành “thành phố sáng tạo”, nơi nghệ thuật không chỉ là biểu hiện và mang giá trị tinh thần mà còn là ngành kinh tế có sức cạnh tranh. Phát triển CNVH không chỉ là mục tiêu kinh tế, mà còn là con đường để Đà Nẵng xác lập vị trí trung tâm sáng tạo. Và trong hành trình đó, với trái tim nhạy cảm, bàn tay sáng tạo và khát vọng cống hiến, tin rằng lực lượng văn nghệ sĩ chính là linh hồn của CNVH.
P.C.A