Ba nuôi (*)

31.12.2025
Phùng Phương Quý

Ba nuôi (*)

Minh họa ĐOÀN MINH THUẦN

Đang dở công trình ngoài Nghệ An, tôi nhận được tin nhắn của o Huệ. “Ba yếu lắm rồi! Anh vô được không?”. Không kịp suy nghĩ, tôi nhắn lại. “Anh vô liền!”. Tôi không về Huế mà mua vé bay thẳng vào Đà Nẵng. Hy vọng còn kịp gặp ba nuôi lần cuối.

Tôi làm con nuôi của ba lúc đã mười sáu tuổi, cao như cây sào. Lý do run rủi tôi gặp ba nuôi cũng rất lạ. Hồi đó mới giải phóng được hơn một năm. Tôi bỏ học, theo thằng Thuận lùn lang thang khắp xứ Huế, kiếm sống. Từ Bao Vinh, Bãi Dâu lộn vô chợ Đông Ba, lên tới chợ An Cựu, những người bán hàng trong chợ nhẵn mặt hai đứa tụi tôi. Cũng có nhiều việc làm để kiếm cơm qua ngày, như đẩy xe hàng, bốc vác thuê, dọn dẹp rác ở chợ. Còn rảnh rỗi, tụi tui đi ăn trộm. Thuận lùn nói với tôi:

- Ăn trộm là sướng nhất! Mi nên tôn tau làm sư phụ đi!

Tôi ậm ừ, không tỏ rõ thái độ. Cuối tuần, hắn đến tìm tôi, rủ rê:

- Hôm ni tau dạy mi đi ăn trộm nghe?

Nghe Thuận lùn cười sằng  sặc, tôi tưởng hắn nói giỡn nên cũng cười phá theo.

- Ừa! Thì đi ăn trộm!

 Hắn bảo tôi để xe đạp ở nhà, thả bộ cho dễ chịu, chọn bộ đồ sạch sẽ một chút. Hắn cũng mặc quần áo xuềnh xoàng, còn đội thêm chiếc mũ bê rê màu xanh. Tôi theo chân hắn vào một tiệm thuốc tân dược.

- Mua thuốc bệnh chi hai cậu?

 -Ờ! Còn coi xem có rẻ không đã!

Hắn chỉ tay vào mấy hộp thuốc trên tủ quầy.

- Hộp Bê com lếch kia bao nhiêu vậy chị?

- Cậu mua loại của Pháp hay Ý?

- Dạ! Loại rẻ tiền thôi chị. Có loại của Dược Sài Gòn được rồi.

Chủ tiệm thuốc quay lại mở tủ. Hắn cũng nhanh nhẹn nhoài người vào phía trong, tay cầm chiếc mũ bê rê.

Cậu dùng loại hai ngàn ni hỉ?

- Dạ thôi! Cảm ơn chị, để khi khác tui mua.

Đi xa chừng hết dãy phố, hắn đưa chiếc mũ cho tôi:

- Cất đi! Trưa ni ăn cơm tiệm. Tôi thấy trong mũ cả nắm tiền.

- Tiền mô ra vậy mi? Hắn đấm lên vai tôi.

- Mi thấy chưa? Chỉ lanh tay, lanh mắt chút thôi mà. Lúc mụ chủ tiệm thuốc quay lưng, tau kéo nhẹ ngăn tiền đặt mũ vô, chụp một cái…

Bước qua cửa hiệu đồng hồ, hắn bỗng dừng lại, kéo tôi vô. Tháo chiếc đồng hồ trên tay, hắn đưa cho người đàn ông có tuổi đang nheo mắt sau chiếc kính lúp nhỏ.

-Chú coi giùm sao nước vô quá trời!

 Ông già tháo nắp sau đồng hồ, săm soi rồi bảo.

- Gioăng còn tốt mà! Chắc xoáy nắp chưa khít đó.

- Cảm ơn!

 Hắn thảy tờ hai đồng lên bàn rồi quay ra. Tôi cảm thấy mỏi chân.

- Lâu không đi bộ, mệt dữ hí? Nghỉ uống nước đã.

Chúng tôi sà vô hàng giải khát, kêu hai ly chanh muối. Hắn nheo mắt cười.

- Mi thấy nghề ni có dễ chịu không? Nì! Tặng mi!

Hắn đưa cho tôi chiếc đồng hồ Seiko 5 sáng choang. Tôi hỏi hắn mua khi mô? Hắn nháy mắt, cười:

- Tau lượm trong tiệm đồng hồ khi hồi đó! Được không?

Tôi bắt đầu thán phục tài trộm cắp của hắn. Thiệt là giỏi, ăn trộm giữa ban ngày, ngay trước mũi người khác mới siêu chớ! Hắn động viên tôi:

- Mi phải tập ăn trộm cho giỏi, vì đó cũng là một nghệ thuật. Nếu biểu diễn tốt, nhiều khi đắc dụng đó!

Tôi không tin mình có tài trộm cắp như hắn, tướng ngơ ngáo như ri, khéo chưa kịp trộm cắp đã bị bắt.

Cuối năm, hắn bàn với tôi:

- Ngoài ni ai cũng biết tụi mình rồi! Loạng quạng coi chừng bị bắt sống!

Chừ vô Đà Nẵng thử! Trong nớ dễ kiếm ăn hơn.

Điểm tập kết đầu tiên của hai đứa là chợ Cồn. Kinh nghiệm những ngày đi bụi, là chui vô chợ. Ở đó đông người mà lại kín đáo. Còn mấy hào bạc lẻ cuối cùng, thằng Thuận mua hai cái bắp luộc, chia cho tôi một cái. Đang ăn bắp, chợt hắn bỏ tôi một mình, lẻn vô tiệm bán bánh mì. Nghe tiếng la của đứa con gái:

- Chi lạ rứa hè? Ba ơi! Trộm! Người trong nhà chạy túa ra, ồn ào.

Thuận lùn đi vụt qua, dúi vô tay tôi chiếc mũ bê rê xanh. Người đàn ông trạc bốn mươi tuổi, mặc chiếc áo bộ đội cũ, chạy ra theo hướng cô con gái chỉ.

- Nó đó ba! Thằng bận áo đen đó!

Tôi đứng chết trân nhìn cô gái tiến về phía mình. Cô chụp tay tôi, giật mạnh. Lạnh buốt sống lưng. Cô gái nhìn thẳng vào mắt tôi, cầu khẩn:

- Đuổi thằng trộm phụ ba em đi anh! Nó đi về phía bến xe buýt kìa.

Tôi thuận đà lao đi, không kịp lau mồ hôi trên mặt. Tới gần bến xe buýt, tôi thấy Thuận lùn dang tay, phân bua chi đó với người đàn ông chủ tiệm bánh.

Hắn bỏ tôi một mình ở công viên Chiến Thắng, lẩn nhanh vô chợ. Tôi giận dỗi tính ném chiếc mũ đi, nhưng chợt thấy có vật chi cồm cộm bên trong. Trời ơi! Là một chiếc kính cận xinh xinh của con gái ông chủ tiệm mì. Mới nhỏ xíu mà đã cận rồi. Hèn chi hồi nãy tôi thấy cô bé dụi mắt liên tục, chỉ vu vơ về phía thằng Thuận. Tôi mang thử chiếc kiếng, thấy đầu óc đảo lộn, choáng váng suýt ngã. Cận chi mà cận ác ôn. Không còn cặp kiếng ni, làm răng cô bé đi học? Tôi chần chừ một thoáng, rồi quyết định quay lại chỗ tiệm bánh. Cô bé đang ngồi khóc tức tưởi, ông chủ tiệm bánh an ủi con gái:

- Nín đi cưng! Mai mốt ba đưa vô Sài Gòn làm lại cặp khác.

Tôi rụt rè đưa cả chiếc mũ bê rê cho cô bé.

- Phải cặp kiếng của em không? Cô bé mừng rỡ, hai mắt ướt nhòe:

- Ba ơi! Thấy rồi!

 Nó cẩn thận mang cặp kiếng lên, rồi nhìn tôi chằm chằm.

- Cảm ơn anh!

 Người đàn ông mừng rỡ không kém.

- Em lượm được ở mô vậy? Hên cho bác quá! Chớ không phải đi Sài Gòn mấy bữa liền!

Tôi ấp úng:

 - Dạ… con lượm ngoài kia! Mà kiếng cận bán thiếu gì bác ơi?

- Cận thị hay viễn thị, tiệm kiếng có bán. Kẹt nỗi con nhỏ ni bị loạn thị, phải đo đi đo lại, cực lắm!

Tìm lại được cặp kiếng, chắc ông vui, nên ngoắc tay nói với tôi:

- Ra đây với bác!

 Ông kéo tôi vô một quán cơm trong chợ, nói với bà chủ mập ú:

- Cho hai suất cơm đi chị Ba! Luôn cho tôi ly chè bột lọc!

 Hai dĩa cơm được mang ra, có trứng chiên, mấy lát thịt kho, dưa leo, cà chua. Thêm một dĩa cá chiên nguyên con. Người đàn ông giục tôi:

- Ăn đi em! Bác ăn ly chè này là Coi bộ em đói hung rồi!

- Con ăn một dĩa thôi! Bác kêu chi nhiều rứa?

- Hà hà! Ở đây kêu hai suất là có thêm dĩa cá! Cơm ăn bao no luôn! Ngoài Huế không có rứa hỉ.

- Dạ không! Ngoài nớ có món cơm hến1

- Biết rồi! Bác đã từng ăn cơm Cồn Hến!

Tôi mải nói chuyện, chợt mắc cỡ vì quất sạch hai suất cơm lúc nào không hay. Đỡ ly trà đá từ tay người đàn ông, tôi lí nhí cảm ơn.

- Em chắc chỉ lớn hơn con Huệ nhà bác vài tuổi! Vô đây có việc chi?

Sự tử tế của người đàn ông lạ làm tôi bối rối:

- Dạ! Con đi bụi đời!

- Đừng có giỡn mặt tui nghe! Ba mạ mô?

- Ba đi lính quân dịch, chết trận từ hồi con bảy tuổi! Mạ đi lấy chồng khác, để con lại với mệ ngoại! Con buồn quá, bỏ học theo bạn đi bụi. Cái thằng mới lấy trộm cặp kiếng của nhà bác đó!

Mặt người đàn ông đỏ tía.

 - Răng em lại đem trả?

- Dạ! Tại thấy em gái không thấy đường, làm sao học bài.

- Trời đất! Tội quá! Chừ có muốn ở lại làm việc với bác không? Chứ thiệt thà như mi, không đi bụi đời được mô!

Lòng tôi rộn lên niềm hy vọng.

 - Dạ… làm chi bác?

 - Làm bánh mì!

 Tôi vội gật đầu, như sợ ông chủ tiệm đổi ý. Ngay buổi chiều đó, tôi được dẫn về tiệm bánh mì. Cô con gái vừa học vừa trông coi cửa hàng, thấy tôi bước vô thì mỉm cười, nụ cười thân thiện. Bác chủ xếp cho tôi một chỗ nằm trong góc xưởng. Một chiếc giường nhỏ, có đủ mền chiếu, một chiếc quạt điện nhỏ xíu. So sánh với hoàn cảnh của một tên bụi đời, thì quá tốt rồi. Công việc của tôi trộn bột mì để làm bánh. Sau khi bác chủ nhà cân bột mì, trộn với men nở trong một chiếc thùng lớn, tôi sẽ dùng một khúc cây chừng một mét, khuấy đều, cho thiệt mịn. Sau đó đến công đoạn cán bột, nặn bánh rồi đem vô lò nướng. Tôi chỉ được mang từng khay bánh vô, ra lò, còn điều chỉnh nhiệt độ, căn cho bánh chín đều là việc của bác chủ. Tôi sung sướng, mải mê theo dõi những cục bột vuông trắng mịn, từ lúc được nặn thành hình cho tới lúc ra lò thành ổ bánh mì vàng ươm, thơm giòn. Cũng có vài ổ bánh bị lỗi, méo mó hay cháy sém, tôi và con gái bác chủ được toàn quyền xử lý, ăn ngay tại lò. Có lần cả mẻ bánh chỉ hư có một ổ, tôi nhịn thèm, chừa cho nhỏ Huệ. Nó không chịu, cứ bẻ cho tôi một nửa, rồi rỉ tai:

- Răng anh không làm hư nhiều nhiều chút, mình còn có bánh mà ăn!

 - Không được! Bánh hư nhiều làm răng có lời! Ba em sẽ buồn lắm!

Câu từ chối đó của tôi, sau nhỏ Huệ đem mách lại với ba. Bác chủ vỗ lên đầu tôi, khen:

- Được lắm con trai!

Một tối, bác chủ kêu tôi vô phòng, đưa cho xấp tiền.

- Đây là ba chục đồng, tiền lương của em!

Tôi giãy nảy, từ chối:

- Con không lấy tiền đâu! Bác nuôi con ăn ở vậy là được rồi!

- Thằng ni lạ hè! Làm việc thì phải có lương! Cũng phải gởi về nhà phụ mệ ngoại chớ mi?

Tôi ôm xấp tiền vô ngực, nghẹn ngào.

- Ngoại ơi!

Giờ con hết kiếp bụi đời rồi mệ. Con đã tự tay làm ra đồng tiền, có thể nuôi mệ. Mặc kệ mạ con với gia đình mới của bả, con có mệ là đủ rồi.

Tôi tính khi mô xin nghỉ ít bữa, về quê thăm nhà, rồi mang tiền cho mệ luôn thể. Nhưng công việc ở lò bánh mì lu bu không dứt ra được. Hình như từ ngày có tôi vô làm, lò bánh mì thêm nhiều khách. Từ lúc mỗi ngày làm mười bảy ký bột, giờ tăng lên hơn bốn chục ký. Tôi nhờ bác chủ tiệm mang tiền lương ra bưu điện gửi cho mệ, nhưng khi bác hỏi địa chỉ, họ tên mệ ngoại thì tôi không nhớ. Hồi nhỏ tới giờ, thấy dân làng kêu mệ là mụ Gái thôi, tôi đâu có biết mệ họ chi. Tôi cũng chỉ biết làng mình ở tên là Thủy Biều. Bác chủ lắc đầu:

- Lạy mi luôn! Như rứa biết mô mà gởi? Thôi để bữa mô ra Huế, về thăm mệ mi luôn thể.

Tôi lấy giấy báo gói tiền lại, bỏ vô túi ni-lông, cột kỹ bằng dây thun, rồi đưa cho nhỏ Huệ.

- O cất giùm! Khi mô về Huế anh xin lại!

- Chi rứa? Em không biết giữ tiền mô!

- Thì o cất đại vô chiếc gối đó! Có ai dám vô phòng o mô nờ!

- Ừa! Mất ráng chịu nghe!

 Tôi cười đắc ý. Gởi tiền chỗ con gái ông chủ là chắc ăn nhất. Lỡ nhỏ làm mất, tôi xin lại bác chủ, lo chi. Công việc đều đặn và hanh thông, cũng nhờ tiệm bánh phát triển. Tôi lao động cật lực, tích lũy được nhiều kinh nghiệm làm bánh mì. Bánh tiệm tôi làm, ổ nào vỏ cũng giòn, lõi lại đặc và dẻo, người mua rất thích, nhất là lũ học trò.

Cơn mưa lúc nửa đêm làm tôi thức giấc, không ngủ được. Cũng hên là lúc chiều tôi đã gom hết củi vô lán, chớ không sáng mai củi mô chụm lò. Tôi chùi những giọt nước mắt lăn trên má vì nhớ ngoại. Mệ ngoại giấc này lại lọ mọ cây đèn dầu, ra coi hai con heo có bị lạnh không, rồi cho ăn thêm thau cám. Buổi chiều nắng gắt, mệ có ra vun mấy vồng khoai lang ngoài vườn? Tôi sẽ ráng làm việc, ráng tiết kiệm dành tiền gởi về cho mệ nuôi thêm bầy gà, cặp heo. Từ bữa theo thằng Thuận vô Đà Nẵng, tôi chưa có tin gì về nhà, chắc mệ lo dữ lắm.

 Cạch! Cạch! Cạch!... Tiếng gõ dồn dập lên cánh cửa gỗ mỏng. Ai hè? Hay bác chủ xuống kiểm tra mấy bao bột mì, coi có bị ướt không. Cánh cửa vừa mở ra, một bóng người lách vội vô. Qua ánh đèn vàng vọt, tôi ngỡ ngàng nhận ra thằng Thuận. Trời mưa lớn, mà người hắn khô rang.

- Mi ở mô chui ra rứa Thuận!

- Vẫn vòng vòng quanh thành phố chớ mô! Tau biết mi làm ở đây, nhưng không dám tới, sợ ba con ông chủ nhận ra!

Tôi thấy tội cho thằng bạn cùng làng.

- Chừ mi tới có việc chi? Thằng Thuận gãi đầu:

- Hai tuần ni đói dài, không ăn trộm được Tau ghé mượn mi ít đồng, mua vé tàu về quê!

Còn một ổ mì cũ mềm xèo, tính để nướng lại, tôi liền đưa cho hắn. Chỉ vài lần cạp, nuốt, hắn ăn xong. Tôi thương thằng Thuận, muốn bàn với hắn bỏ nghề trộm cắp, ở đây làm bánh mì với tôi. Nếu tôi năn nỉ, bác chủ chắc đồng ý thôi. Tôi đem ý nghĩ đó, nói lại với hắn. Thằng Thuận tỏ vẻ lo lắng.

- Lỡ ông chủ nhận ra tau?

- Thì xin lỗi ổng! Bác chủ là bộ đội tập kết ra Bắc, mới về quê. Ổng tốt bụng lắm! Mi nghỉ lại đây, sáng mai tau dẫn lên gặp ổng.

Tôi dậy sớm, vừa rửa mặt vừa ư ử hát. Hy vọng bác chủ sẽ nhận thằng Thuận. Tụi tôi sẽ có cơ hội gần nhau, được sống lương thiện nơi xứ người. Khi tôi quay vô, không thấy thằng Thuận mô, chỉ còn chiếc võng dù trống không, khẽ đung đưa. Linh cảm làm tôi lo lắng, chạy tới chỗ kệ gỗ xếp bột mì. Một bao bột hai chục ký đã không cánh mà bay. Tôi la lên:

- Thuận! Mi tệ rứa!

 Phải đi kiếm nó ngay, trước khi bác chủ biết vụ mất bột. Thằng Thuận sẽ mang đi mô? Ý nghĩ lướt nhanh qua đầu tôi. Trước kia, mỗi khi chôm chỉa được thứ chi, thằng Thuận thường dẫn tôi tới bán cho chú người Hoa ở một con hẻm gần chợ. Tôi cắm đầu chạy một mạch tới đó. Chủ nhà ở trần, phơi cái bụng thùng nước lèo, ngồi uống cà phê.

- Chú! Chú ơi! Thằng Thuận có bán bao bột mì cho chú không?

- Ủa! Nó lấy tiền rồi, chưa có chia cho mi hả?

- Cho cháu xin chuộc lại! Là đồ của ông chủ…

Tôi muốn khóc vì sợ. Bột mì bây chừ, phải có tem phiếu mới mua được. Thằng Thuận chơi cú này, hại tôi hết thuốc chữa.

- Chú mua bao nhiêu tiền?

- Hai mươi đồng à! Giờ trả ngộ hai mốt đồng thôi!

Tôi dặn chú người Hoa đừng bán bao bột, rồi hấp tấp chạy về tiệm bánh. Hên nhỏ Huệ còn ở nhà.

- Đưa cho anh hai mốt đồng! Lẹ lên!

- Chi vậy? Bộ sắp ra Huế hả?

 - Không! Đi chuộc lại bao bột mì, bị trộm lấy đêm qua!

Nhỏ Huệ ngạc nhiên, kêu ba nó tới. Bác chủ càng ngạc nhiên hơn, khi nghe tôi khai báo nội vụ câu chuyện. Bác lấy xe honda chở tôi tới con hẻm.

- Chú Lín à! Mua đồ ăn trộm, tui báo công an là khổ lắm đó!

Chú người Hoa nghe nói tới công an thì líu cả lưỡi.

- Ây da! Là ngộ không piết mà! Mang về li! Trả ngộ mười lăm lồng lược dồi!

Sau vụ mất bột, hình như bác chủ thương tôi hơn. Một buổi đang nướng bánh, bác bảo tôi:

- Nì! Bác nhận mi làm con nuôi được không?

- Dạ… còn em Huệ?

 - Thì nó vẫn con tao chứ chi! Nói thiệt, bác đi tập kết hai mươi năm về, đã thấy có nó ở nhà rồi. Bà vợ bác kiếm nó ở mô, ai biết! Chừ bác thương nó còn hơn con đẻ nữa!

Số tôi hên, được nhận làm con nuôi một người tử tế. Ba nuôi bắt tôi đi học lại. Ngày đi học, chiều về phụ ba làm bánh. Ba tận tình hướng dẫn tôi kỹ thuật làm một lò bánh mì thủ công, cách ủ men nở, canh nhiệt độ sao cho bánh mì giòn lâu. Hồi tôi về Huế lo đám tang cho mệ ngoại, rồi cưới vợ, ba nuôi đầu tư xây cho tôi một lò bánh mì ngay thị trấn. Vợ chồng tôi vẫn đi lại thăm hỏi, chăm sóc ba nuôi tận tình. O Huệ lãnh phần ở với ba, có khi mô ba mệt mỏi, đau ốm là điện thoại kêu tôi về. Mấy tháng ni, tôi hợp đồng xây dựng lò bánh mì thủ công cho khách ngoài miền Bắc. Nay có điện báo của o Huệ, chắc ba nuôi đau nặng. Tôi tạm gác hết mọi việc để vào Đà Nẵng. Ba ơi! Ráng chờ con nghe ba!...

P.P.Q

(*) Giải B Cuộc vận động sáng tác văn học, nghệ thuật Đà Nẵng năm 2025

Bài viết khác cùng số

Từ một nghị quyết của Đảng về giáo dục nghệ thuật trong trường họcVăn hóa - “hệ điều tiết” phát triển đất nướcTổng kết, trao giải Cuộc thi ảnh nghệ thuật “Người Đà Nẵng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” và triển lãm nghệ thuật “Đất và người Đà Nẵng”Liên hoan tranh thiếu nhi “Tự hào Đà Nẵng quê hương” - năm 2025Tặng thưởng Tạp chí Đất Quảng Năm 2025Mỹ thuật Đà Nẵng với công nghiệp văn hóaPhát triển công nghiệp văn hóa gắn với xây dựng con người và bản sắc văn hóa Việt Nam - nhìn từ thực tiễn Đà NẵngChuyển trọng tâm tư duy để văn học, nghệ thuật bước vào công nghiệp văn hóaVăn học, nghệ thuật Đà Nẵng với công nghiệp văn hóaVăn học, nghệ thuật Đà Nẵng với công nghiệp văn hóa: Những rào cản và đề xuấtHiền hậu Cần Thơ...Món nướng ngày mưaTriều cường và emChiếc khăn dongMùa xuân hoa nở (*)Ba nuôi (*)TrôiThơ Bùi Công MinhThơ Đỗ Tấn ThảoThơ Hồ XoaThơ Hoàng Văn SừThơ Phan Bùi Bảo ThyThơ Nguyễn Hàn ChungThơ Thảo NguyênKý ức miền TâyMùa nước nổiThơ Trần Thị Thùy VyThơ Phạm Thế ChấtThơ Ngô Liên HươngKhi ký ức đánh thức tình yêu và thi caRượu và người khách tha hương Đynh Trầm CaNguyễn Mạnh Tuấn - một chân dung khácCái tộ tai bèoDấu ấn tín ngưỡng sông nước xứ QuảngMặt nạ Tuồng - sự bí ẩn với khán giả hôm nayTổng kết, trao giải Cuộc thi ảnh nghệ thuật “Người Đà Nẵng - Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” và Triển lãm nghệ thuật “Đất và Người Đà Nẵng”Một số tác phẩm đoạt giải Cuộc thi vẽ tranh thiếu nhi "Tự hào Đà Nẵng quê hương"Về Cần Thơ