Mùa xuân hoa nở (*)

31.12.2025
Thảo Nguyên

Mùa xuân hoa nở (*)

Minh họa NGUYỄN TRỌNG DŨNG

1. Hồi sáng, đang hì hụi kéo bao tro rơm rải luống, thím Bảy thả phịch xuống bờ đất, ngước mặt lên như chợt nhớ ra chuyện hệ trọng. Rồi thím gọi với qua chỗ Nhự, biểu chở má lên bệnh viện chuyến coi, chớ tình hình căng lắm nghe: “Tới cái nước mà chỉ không vô Nam là biết rồi”. Nhự tính phân trần, không dính dấp chi vụ chân cẳng mô thím, mà kịp khựng lại. Nhự biết, hai khớp gối rã rời không phải là lý do má thôi quáng quàng đón chuyến xe khách đường dài vô Nam mỗi ba tháng một lần đều đặn. Chỉ là má quyết định chờ.

Năm nớ bão lớn, báo đài ra rả: “Cơn bão tàn khốc nhất một thập kỷ qua”. Nhự nghe bụng dạ nóng ran, họ làm như trên đời có cơn bão nào là không tàn khốc. Khi cuối cùng gió cũng thôi quần thảo và nước chịu rút, bỏ lại làng quê xơ xác, má con Nhự bọc người trong nhùi áo mưa mỏng dính, đi giữa dòng nón lá lúp xúp. Thêm một mùa nữa thê lương, khi cúi xuống đám bùn nhão nhoẹt, quơ quào kéo lên từng bụi hành, từng bụm rau răm úa vàng trơn nhẫy; đám húng lủi nát bươm, và tụi diếp cá thường ngày kiêu hãnh, giỏi chịu nước, cũng đã thúi um. Giữa buổi chiều nhớp nháp kiệt sức, Nhự thở dài: “Con đi Nam nghe má”. Anh Hai làm thợ xây trong đó, chắc rồi sẽ có việc cho Nhự. Xin vô xí nghiệp may cũng được, chớ như ri miết, sống không nổi.

Cuộc đi của Nhự có vài ba đoạn sáng sủa, như những tháng lương đầu bạc triệu. Nhự nhẩm tính, chừng ba bốn năm tằn tiện sẽ đủ dựng lại nhà cho má. Bà chủ khu trọ chỗ Nhự thuê phòng nói năng bốp chát, ngày hai buổi quét mắt coi phòng nào xả rác bừa phứa, phòng nào nhậu nhẹt hát hò um sùm là chửi tắt bếp, không nể nang ai. Vậy mà, giả dụ chị Phúc xất bất chạy chợ một mình nuôi con trai do lỡ dại, vợ chồng anh Thiện cắm mặt dưới lòng cống tanh nồng gom góp tiền chữa bệnh máu trắng cho đứa con gái chưa kịp thấy đời rộng mở đã phải lấy bệnh viện làm nhà, họ nợ tiền trọ mấy tháng tới cả năm, bà vẫn xuề xòa: “Thôi kệ đi, tụi hắn khó quá, tau đâu nỡ đòi”.

Cũng trong Nam, Nhự gặp anh chàng xứ Nẫu cục mịch mà thiệt thà hết sức. Đợt anh về ra mắt, má không hỏi lương tháng bao nhiêu, bên nhà có đất đai chi không, chỉ rẽ đường qua những bụi mua tím,  dẫn  thẳng lên nghĩa địa làng, biểu thưa ba một tiếng. Ba Nhự nằm lại đây năm ba chín tuổi, trong một mùa bão hung hãn như bao mùa con nước và gió dữ tợn đã quét qua làng. Người đàn ông mới đi được hơn nửa đời, ngày qua ngày cần mẫn cuốc đất trồng rau, bờ vai gồ lên vì những đôi thùng thiếc ăm ắp nước tưới cho mầm xanh mát mắt; người đã cùng vợ vững chãi chèo sắp con chơi vơi trên đỉnh lũ qua tháng rộng năm dài, vậy rồi ra đi giữa dòng nước xiết khi ráng cứu mấy đứa nhỏ không biết trôi dạt từ đâu tới.

Nhiều năm sau, hễ thấy tụi nó lấp ló chỗ hàng rào dâm bụt trước ngõ là Nhự nổi khùng, thu nắm đấm xô té chúi nhủi, đuổi: “Cút đi!”. Má Nhự thì không. Bà hay ngoắt tay kêu tụi nó vô, thắp lên bàn thờ ba mấy cây hương, xong ngồi ăn chén xu xoa mát ruột. Có khi, má lật đật chạy ra vườn, cầm sào cắt bắp chuối, biểu mấy đứa đem về để ba má xắt rau sống ăn mỳ. Những ngày cuối tháng Chạp se sắt, má bưng mấy chậu bông ràng lên xe tụi nó, nói chỗ cô lủ khủ, đừng lo tiền bạc chi hết, có mớ đây cho nhà ấm.

2.  Đường  anh  Hai  đi  nhiều  đoạn trúc trắc. Anh nhảy xe vô Nam cùng nhóm trai làng tuổi đôi mươi, hề hà: “Chừng giàu bao la con dề”. Cười giòn mà ngoảnh mặt bước dài, chắc sợ thấy má chàng ràng trong bếp, bắt trã cát rang bắp, giấu nấc nghẹn sau những tiếng nổ tanh tách  giòn tan, bâng quơ: “Làm hộp lớn cho bây đem theo, ăn đỡ nhớ nhà”. Phụ hồ hơn năm, anh Hai chỉ nhận được sáu tháng lương. Ông cai thầu mê bài bạc đã ôm tiền của chủ trốn đâu mất biệt. Thêm ngần ấy ngày nữa, Nhự nhớ đó là bữa mưa dầm từ khuya tới sáng, anh em sống chung lán gọi ra báo anh Hai té giàn giáo, đang cấp cứu. Đầu đội nón cời, chân bọc đôi ủng nhựa nứt toác gót, má chệnh choạng biểu Nhự mau mau kiếm xe.

Mấy tháng anh Hai ăn qua đường ống mở thông dạ dày, má không có ngày nào ngủ quá hai tiếng đồng hồ. Người má rạc đi. Nhự rất muốn giành lấy phần chăm sóc anh, mà khó quá, bởi Nhự là con gái, có những việc chỉ má con, vợ chồng mới chu toàn cho nhau được. Mỗi lần ngó theo bóng má liêu xiêu, Nhự lại bặm môi, không biết lúc đó má đang nghĩ gì. Đỏ hỏn đã mồ côi giữa năm lụt Giáp Thìn sáu tư, sống với người dì cả đời quắt queo u uất vì nhớ tiếc người thân. Có gia đình, tưởng đã được ít nhiều bù đắp, thì chồng mất sớm; tới lượt con trai nằm đó, vách ngăn sống chết chỉ còn là sợi chỉ mong manh.

Ngày anh Hai bừng tỉnh, cả phòng hồi sức ồ lên. Kỳ tích. Má sụp lạy tạ ơn bác sĩ, khiến những dáng áo trắng dài bối rối, chênh chao cúi xuống theo. Má biểu thôi, không thành phố chi nữa, trở lại làng trồng rau, gieo bông tết, cả nhà bên nhau. Anh Hai lắc đầu: “Qua nạn ni rồi, má đừng lo”, giọng chắc nịch. Cực chẳng đã, má con Nhự đành quầy quả ngược đường, để anh Hai ở lại tiếp tục giấc mơ thị thành. Rồi chính Nhự cũng đi, còn mình má khắc khoải. Nhự hay giật mình dậy lúc nửa đêm về sáng, bởi chiêm bao thấy nước trùm lên chan lút chái nhà quê.

Nhự lấy chồng, má là người mừng hơn hết thảy. Nhưng niềm vui của má chỉ tròn vẹn hai năm. Ngày anh Hai bị bắt, Nhự đang ở thăm quê chồng, tháng Bảy, mùa gió nam cồ lộng lộng. Bụng mang dạ chửa, cái tin khiến người Nhự rã ra, ngơ ngác. Nhự không hình dung được khoảnh khắc bước lên chuyến xe đi Nam đó, má ra sao. Má có kịp xỏ đôi dép lành lặn cất dưới đáy tủ, hay bươn bả với đôi dép lào đứt quai. Một lần nữa, trên chuyến xe thăm thẳm đời người, má có khóc không?

Gặp anh Hai trong trại tạm giam, má một hai dặn dò đừng tuyệt vọng, nhớ thiệt thà khai báo: “Có răng nói rứa con hỉ, ngoài ni để má lo”. Nhự nhận ra không cách chi xoay chuyển, rằng cuộc đời má đã tự mặc định một chữ “lo” rồi. Bấm bụng đi qua những lời xúc xiểm kiểu: “Thiệt, cái thứ bạc, người ta dẫn theo dạy từ thẳng phụ hồ làng nhàng thành thợ chính, rồi đâm họ một phát chỉ vì đàn bà”, má ngược xuôi, muối mặt vay mượn thuê luật sư, lui tới bệnh viện, cúi đầu thật thấp, im thin thít nghe sa sả chửi thề từ kẻ nạn nhân.

Tòa xử anh Hai đúng ngày cuối tháng Chạp, sau một lần gia hạn tạm giam. Chủ tọa hỏi có hối hận không, anh Hai dõng dạc: “Thưa tòa, bị cáo biết hành vi của mình là sai, nhưng không hối hận”. Dưới hàng ghế dự khán, thím Bảy đấm ngực kêu trời: “Cái thằng không biết tính đường lùi, rứa mới chết”. Thím Bảy hay nói, làm chi cũng phải tính đường  lùi.  Như lần cán bộ về làng vận động hiến đất mở đường, biến những lầy lội thành bê tông phẳng phiu, rộng thênh thang cho hai xe bò khỏi mất công né nhau, thím kêu trời: “Mấy chú, mấy  anh hỏi chi khó rứa, mai mốt đất lên giá cái tiếc đứt ruột, ai đền cho tụi tôi”. Nhưng thím cũng nghĩ, lỡ người làng đều hiến đất mà mình dạt ra thì coi đâu được. Má Nhự, thiệt lòng, cũng có băn khoăn. Nhà nghèo quá, mấy đời cầm cuốc chưa khá nổi, có khúc đất ni thôi, cắt xén rồi còn bao nhiêu. Mà tính tới lui, thấy đường sá rộng rãi thì thuận tiện, mình đi ra, người làng ni làng tê qua lại cũng dễ, bán buôn may mắn hơn; chớ nắng gió thì bụi đất tung mù mịt, mưa xuống phải xắn quần lội bùn tới ngang đầu gối, mình thương Trà An mình còn mệt đừ, nữa là người ta. Rốt cuộc, chú thím Bảy cũng xuôi lòng, cắt dài miếng đất tiếp nối đất nhà Nhự cho chính quyền làm đường, sau bữa đêm nghe má rút ruột.

Bảy năm tù là phán quyết của tòa, mức này đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ bởi sự xuất hiện của người làm chứng mới. Nhự nhớ ánh mắt anh Hai lúc đó, đôi đồng tử giãn hết cỡ, sững sờ và run rẩy trong mấy giây ngoái đầu về phía cánh cửa phòng xử án, nơi chị đặt chân qua: “Tới đây chi. Về đi”. Kẻ nạn nhân thì nhấp nhổm trên xe lăn, mắt láo liên không ngớt. Chị phớt lờ mọi ánh mắt, từ chối quyền cho lời khai trong phòng kín, thêm rằng sẽ không sống cuộc đời yếu đuối nữa. Da chị xanh tái, mỏi mệt; tóc ngắn nham nhở, chắc đã tự cầm kéo phang ngang. Khi chị bước qua hàng ghế đầu, Nhự để ý cổ tay trái có ba vết rạch ngang đỏ bầm.

Thu nắm tay, hít một hơi sâu, chị trừng mắt nhìn thẳng kẻ nạn nhân: “Thưa tòa, tên tôi là Thắm, làm phụ hồ. Tay thầu đó hiếp dâm tôi. Anh Dân vì bảo vệ tôi mới đánh cái thứ đó. Không có chuyện yêu đương chi giữa tôi với hắn hết, nên càng không có vụ ghen tuông”. Chị còn nói nhiều nữa. Tai Nhự lùng bùng, câu được câu mất. Từ phiên tòa xử anh, chị bước vào một phiên tòa khác của chính mình. Má Nhự luôn bên cạnh chị, nhẫn nại và ân cần. Nhủ lòng không yếu đuối nữa, vậy mà chị vẫn có những lúc ngồi hàng tiếng đồng hồ xối nước chà xát cơ thể tới rách bươm trong vô thức. Vẫn thấy mặt “cái thứ đó” lúc băng cầu bộ hành tới chợ, khi đang lụi cụi lột vỏ tỏi. Vẫn toát mồ hôi giữa chiêm bao và vùng dậy với cảm giác căm thù nhức nhối.

3. Má con Nhự chở bánh dầu về từ Hà Phước. Nắng mai chùng chình khắp ruộng. Mây líu ríu nài bóp chân  cho  bà  ngoại,  còn  đành  hanh đòi bưng bánh dầu đem ngâm ít bữa bỏ chậu nuôi bông. Nhà đã bớt quạnh quẽ từ ngày Nhự đưa con trở về. Nhự không nhớ bằng cách nào mình qua được mấy năm dịch dã vừa rồi. Chồng Nhự đã vĩnh viễn dừng chân ở tuổi ba mươi. Chất mình lên chiếc xe máy cũ mèm dưới nắng trời nóng ngộp mà Nhự nghe lạnh xuyên thấu tim gan. Bé Mây ôm rịt sau lưng rấm rứt. “Cô dít xấu, cô dít bắt mất ba con rồi”. Trước ngực là ba lô có hũ tro cốt màu xanh lá mạ, mắt Nhự nhòa lẫn bụi mỗi khi lời cuối của chồng từ phòng bệnh dã chiến chạy rần rần qua đầu: “Anh có lỗi với má quá, Nhự ơi”. Phải rồi, chính Nhự, và anh Hai của Nhự nữa, những đứa con đã rời đi dứt khoát vì làng mình nghèo, vì chái tranh của má tả tơi quá, rốt cuộc trở lại trong hình hài nhếch nhác.  Không  tiền  bạc,  không  việc làm, không luôn bạn đồng hành, chỉ có đầy đắng cay. Không càm ràm quở trách, không so bì con mình với con nhà người ta, sau mấy giây sảng hồn, má Nhự đứng giữa ruộng rau ngoắt tay bao dung: “Vô tắm táp cho khoẻ đi con, để má làm bữa cơm cúng thằng Bình nhà mình”.

Đã cực lòng vì anh Hai, mỗi ba tháng xấp xải thăm nuôi trong trại giam rồi làm thêm chuyến nữa gặp chị, tới đó má còn phải canh chừng Nhự những cơn nóng sốt, những hoàng hôn thắm đỏ loạng choạng tìm ra bến sông thẫn thờ. Ruộng rau một thời lem luốc khiến Nhự bỏ chạy bỗng thành vị cứu tinh kéo giật cô quay về sự sống. Và, may phước, Nhự thường lầm rầm, “Còn má ở đây chờ mình”. Má kéo Nhự ra cuốc đất, ngâm bánh dầu, gánh nước tưới. Ngày thường má trồng rau, tới cuối năm chuyển qua bông vạn thọ. Thím Bảy kể chuyện những chậu bông hãy còn làm má Nhự day dứt nhiều. Má nói với thím: “Biết rứa hồi nớ để ảnh trồng. Chị can miết, tại đường sá trồi sụt, mình đã có mối bỏ rau, khi không trồng mớ đây biết bán buôn lời lãi răng, trắng tay là mấy đứa đói”. Mỗi mùa bông tết, má Nhự trồng chục ngàn chậu vạn thọ, không nhiều cũng không ít. Đã có mùa mất trắng vì bão lũ cuối đông, cũng có mùa suôn sẻ kiếm được đôi ba đồng.

Lâu rồi, như từ ngàn năm, Nhự mới lại được thấy má nheo mắt cười sáng bừng. Từ gương mặt lấm lem tro rơm lẫn bụi đất, có tiếng nói ấm và trong như reo, “Coi kìa bây, hắn sống rồi”. Trà An vừa qua những ngày chìm lút trong bão lũ. Dù má con Nhự đóng giàn tre kê cao tụi vạn thọ mới nhú vẫn bị nước xô đẩy trôi dạt. Lội trong vùng trắng xóa quá thắt lưng, Nhự nghe làng buồn, nước nôi như ri, người còn trôi, huống chi rau với bông, lại mất trắng rồi bà con. Má con Nhự ngụp lặn vớt vát từng chậu đem lên thay đất, dặm lại cây con ai ngờ chúng vẫn vươn xanh. “Rứa là có thêm kinh nghiệm lận lưng. Hết mùa bông ni mình làm nhà mới, má hỉ”, Nhự phấn khởi gợi chuyện. Dưới ánh mặt trời thiệt lành, má Nhự gật cười đưa tay xoa đầu bé Mây, kể: “Ba bây từng nói loại bông ni tượng trưng cho sự sống dù có bị dập tơi tả tới đâu, rứa nên ổng rất ưng”.

*        *

Trước cánh cổng trại giam Z, người quản giáo già bần thần xoay lưng nhìn lại lần cuối nơi mình gắn bó hơn nửa đời người. Lòng ông bời bời khó tả. Hưu rồi về nghỉ ngơi thôi, ý nghĩ là vậy mà sao vấn vít nỗi niềm. Ông nhớ hai người phụ nữ đó, một già, một trẻ và cậu phạm nhân có nghề thợ xây rất khéo, rất chăm chỉ. Mà khoan, bây giờ hãy gọi cậu ấy là cậu Dân, một công dân bình thường như bao người thiện lương khác mới phải. Mỗi lần nhìn người mẹ, ông lại hình dung ra đoạn đường hun hút bụi mù đơn độc. Cô gái trẻ kia nữa, cứ lặn lội đường xa mà gặp chỉ cúi mặt thinh lặng giăng đầy ánh mắt. Đâu như ba năm trước, cô tới, mang theo một mẩu thông tin, “cái thứ đó” đi tù rồi, và hẹn mai sau còn duyên sẽ gặp lại. Khi cuối cùng cậu được đặc xá hồi Tết Độc lập này, anh em quản giáo đều mừng, thống nhất trích quỹ hòa nhập hỗ trợ. Dân xứng đáng được nhận sau những ngày lao động miệt mài. Vậy mà cậu chỉ lấy vài đồng xe cộ, nói phần còn lại nhờ cán bộ bổ sung vào bữa ăn cho anh em phạm nhân. Lừng khừng trước cổng trại hồi lâu, cậu rụt rè nhờ ông chuyển lời: “Má đừng lo chi hết. Mùa xuân con về”.

Người mẹ nghe thuật lại thì tần ngần như cần có đủ thời gian hiểu ra, rồi bà nhoẻn cười cảm ơn, mà sao dáng bước lầm lũi quá. Ông đã làm cái việc xưa nay chưa từng là chạy theo người đàn bà chân chất, góp mấy câu thiệt lòng: “Chị à, con của chị là một đứa rất được. Tôi tin cậu ấy sẽ sớm về nhà”.

Kéo khóa áo khoác lên kín cổ tránh cái lạnh ngày chớm xuân, người quản giáo già lặng lẽ bước. Ông băn khoăn tự hỏi không biết bây giờ ba người họ đã gặp lại nhau chưa?

T.N

(*) Giải C Cuộc vận động sáng tác văn học, nghệ thuật Đà Nẵng năm 2025

Bài viết khác cùng số

Từ một nghị quyết của Đảng về giáo dục nghệ thuật trong trường họcVăn hóa - “hệ điều tiết” phát triển đất nướcTổng kết, trao giải Cuộc thi ảnh nghệ thuật “Người Đà Nẵng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” và triển lãm nghệ thuật “Đất và người Đà Nẵng”Liên hoan tranh thiếu nhi “Tự hào Đà Nẵng quê hương” - năm 2025Tặng thưởng Tạp chí Đất Quảng Năm 2025Mỹ thuật Đà Nẵng với công nghiệp văn hóaPhát triển công nghiệp văn hóa gắn với xây dựng con người và bản sắc văn hóa Việt Nam - nhìn từ thực tiễn Đà NẵngChuyển trọng tâm tư duy để văn học, nghệ thuật bước vào công nghiệp văn hóaVăn học, nghệ thuật Đà Nẵng với công nghiệp văn hóaVăn học, nghệ thuật Đà Nẵng với công nghiệp văn hóa: Những rào cản và đề xuấtHiền hậu Cần Thơ...Món nướng ngày mưaTriều cường và emChiếc khăn dongMùa xuân hoa nở (*)Ba nuôi (*)TrôiThơ Bùi Công MinhThơ Đỗ Tấn ThảoThơ Hồ XoaThơ Hoàng Văn SừThơ Phan Bùi Bảo ThyThơ Nguyễn Hàn ChungThơ Thảo NguyênKý ức miền TâyMùa nước nổiThơ Trần Thị Thùy VyThơ Phạm Thế ChấtThơ Ngô Liên HươngKhi ký ức đánh thức tình yêu và thi caRượu và người khách tha hương Đynh Trầm CaNguyễn Mạnh Tuấn - một chân dung khácCái tộ tai bèoDấu ấn tín ngưỡng sông nước xứ QuảngMặt nạ Tuồng - sự bí ẩn với khán giả hôm nayTổng kết, trao giải Cuộc thi ảnh nghệ thuật “Người Đà Nẵng - Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” và Triển lãm nghệ thuật “Đất và Người Đà Nẵng”Một số tác phẩm đoạt giải Cuộc thi vẽ tranh thiếu nhi "Tự hào Đà Nẵng quê hương"Về Cần Thơ