Truyện ngắn trên Tạp chí Đất Quảng: Bản sắc và đổi mới

03.11.2026
Hoàng Sĩ Nguyên

Truyện ngắn trên Tạp chí Đất Quảng: Bản sắc và đổi mới

Một số truyện ngắn in trên Tạp chí Đất Quảng (bộ mới) 10 số đầu

Bên cạnh việc tiếp nối truyền thống văn học Quảng Nam và Đà Nẵng giàu tính nhân văn - ý thức cộng đồng, truyện ngắn Đà Nẵng sau sáp nhập còn cho thấy những nỗ lực tiếp cận các vấn đề của đời sống đương đại bằng nhiều cách nhìn và phương thức biểu đạt. Trong bối cảnh ấy, Tạp chí Đất Quảng (bộ mới) trở thành một diễn đàn sáng tác đáng chú ý. Từ số 01 (9/2025) đến số 10 (6/2026), tạp chí đã công bố 35 truyện ngắn của 25 tác giả. Đây là một nguồn tư liệu có ý nghĩa để nhận diện tương đối rõ những khuynh hướng đang vận động trong truyện ngắn Đà Nẵng hiện nay: sự tham gia của nhiều thế hệ cầm bút, sự đa dạng về cảm hứng sáng tác, đồng thời là những tìm tòi bước đầu trong nghệ thuật tự sự.

Dưới đây là danh mục 35 truyện ngắn đã đăng trên 10 số đầu của Tạp chí Đất Quảng (bộ mới):

STT

SỐ/ TÊN TRUYỆN

TÁC GIẢ

SỐ TRANG

Số 01/9.2025

1

Sóng trong lòng sóng

Nguyễn Phương Dung

37 - 43

2

Thủ lĩnh hoa hồng

Lệ Hằng

46 - 55

3

Những vạt nắng lấp lánh

Nguyễn Thiên Phước

65 - 74

Số 02/10.2025

4

Quê hương tuổi thơ

Lê Hoành Phò

26 - 33

5

Chiếc vòng bạc lấp lánh

Vũ Ngọc Giao

49 - 55

6

Sau hoàng hôn

Hồ Loan

56 - 61

7

Bám biển

Đỗ Hoàng Bảo Thy

67 - 74

Số 03/11.2025

8

Bữa cơm chiều

Phùng Phương Quý

23 - 27

9

Một ngàn dặm

Lê Nhung

28 - 34

10

Dưới vòm hoa vu vơ

Nguyễn Bá Hòa

35 - 40

11

Mẹ dấu yêu

Thiên Tâm

48 - 55

Số 04/12.2025

12

Chuyến tàu đêm

Mỹ Liên

15 - 22

13

Hồn đá

Phan Thị Ngân Châu

38 - 47

14

Như thật như đùa

Nguyễn Tấn Ái

57 - 61

Số 05/01.2026

15

Ba nuôi

Phùng Phương Quý

18 - 25

16

Mùa xuân hoa nở

Thảo Nguyên

26 - 32

17

Chiếc khăn dong

Trác Diễm

33 - 38

Số 06/02.2026

18

Nhịp chiêng xuân

Nguyễn Bá Hòa

16 - 21

19

Chuyện cây mai làng Yên

Nguyễn Phương Dung

38 - 44

20

Xóm cũ

Trương Điện Thắng

45 - 49

21

Góc vườn gọi xuân

Hồ Loan

58 - 64

22

Nàng, tôi và Vic…

Quế Hương

65 - 69

23

Rubic tết

Lệ Hằng

72 - 78

24

Mưa xuân trên đỉnh bình yên

Vũ Ngọc Giao

79 - 86

Số 07/03.2026

25

Tiệm ký ức

Châu Ngọc Quốc

10 - 21

26

Cây đào phai bên bờ rào đá

Trác Diễm

39 - 45

Số 08/04.2026

27

Con thiên nga đen trong đàn cánh trắng

Nguyễn Quang Vũ

16 - 25

28

Nơi giấc mơ nở hoa

Vũ Thảo

45 - 49

29

Vị của hồi ức

Lê Nhung

50 - 54

Số 09/05.2026

30

Phù sa tím

Tiêu Đình

60 - 68

31

Đi về phía giấc mơ

Hồ Loan

71 - 75

32

Thuyền bát nhã

Vũ Thị Huyền Trang

76 - 80

Số 10/06.2026

33

Ngã rẽ cuộc đời

Nguyễn Tam Mỹ

3 -11

34

Người nơi cuối hẻm

Lệ Hằng

15 - 21

35

Cái chén thứ năm

Nguyễn Văn Nhật Thành

47 - 52

Trên cơ sở hệ thống tác phẩm này, bài viết không đi sâu phân tích từng tác phẩm riêng lẻ mà tập trung nhận diện những đặc điểm nổi bật về đề tài, cảm hứng nghệ thuật, bản sắc và đổi mới nhằm hướng tới nhận diện những khuynh hướng chung của truyện ngắn Đà Nẵng đương đại.

1. Những biểu hiện của bản sắc và đổi mới

Bản sắc không gian văn hóa

Một trong những biểu hiện nổi bật nhất của truyện ngắn đăng trên 10 số đầu của Tạp chí Đất Quảng (bộ mới) là nỗ lực kiến tạo một không gian văn hóa mang đậm căn tính địa phương. Không gian ở đây không chỉ là bối cảnh diễn ra câu chuyện mà còn là nơi lịch sử, ký ức, phong tục, môi trường sinh thái và lối sống cộng đồng cùng hội tụ, tạo nên ý nghĩa của truyện ngắn.

Trước hết, không gian làng quê xứ Quảng hiện lên như chiếc nôi lưu giữ ký ức cộng đồng và căn tính văn hóa. Trong Quê hương tuổi thơ (Lê Hoành Phò), quê hương được nhìn từ ký ức tuổi thơ với dòng sông, lũy tre, mái nhà và những con người bình dị đã nuôi dưỡng nhân cách con người: “Tuổi thơ. Quê nhà. Thời gian. Vụng dại. Kỷ niệm. Nhìn lên trời sao li ti, tôi nhủ lòng rằng... Dòng sông quê hương nhỏ nhắn ấy cứ lấp loáng mãi trong lòng tôi - chan chứa yêu thương, hân hoan và thương nhớ” (số 02, tr.33). Còn Xóm cũ (Trương Điện Thắng) là mạch nguồn tâm thức hồn quê luôn thao thức lắng đọng trong mỗi một người con của đất mẹ “ - Mày có bao giờ nhớ lại cái xóm cũ của bọn mình không? - Trời, trong mơ có lúc tao còn nhớ nữa là…” (số 6, tr.47).

Cùng mạch cảm hứng, Chuyện cây mai làng Yên (Nguyễn Phương Dung) lấy hình tượng cây mai như một biểu tượng của cội nguồn, nơi thiên nhiên trở thành chứng nhân của thời gian và truyền thống: “Tất cả mọi việc xảy ra trong cuộc đời mỗi người trong căn nhà ngói ba gian cũ kỹ ấy chỉ có mỗi cây mai chứng kiến” (số 6, tr.44). Còn Mùa xuân hoa nở (Thảo Nguyên) khắc họa nhịp tuần hoàn tiếp nối bền bỉ của đời sống khi lòng tin như hương xuân sẽ xóa nhòa “qua nạn ni rồi…” thì một bông hoa cũng là ẩn dụ tuyệt vời của sự sống “... loại bông ni tượng trưng cho sự sống dù có bị dập tơi tả tới đâu,…” (số 5, tr.31). Trong những tác phẩm này, làng quê, nơi sinh sống, nghĩa tình,… không chỉ là nơi chốn cư trú mà còn là không gian lưu giữ ký ức và hệ giá trị văn hóa của cộng đồng.

Không gian văn hóa ấy tiếp tục được mở rộng đến những miền sinh thái đặc trưng của xứ Quảng, nơi thiên nhiên không chỉ là bối cảnh mà còn trở thành một chủ thể văn hóa của tự sự. Trong Phù sa tím (Tiêu Đình), dòng sông là chứng nhân của lịch sử và nguồn mạch bồi đắp căn tính cộng đồng. Bám biển (Đỗ Hoàng Bảo Thy) nhìn biển cả không chỉ như môi trường mưu sinh mà còn là biểu tượng của ý chí, bản lĩnh và khát vọng nối dài truyền thống cha ông, “giữ hồn cốt làng chài giữa mênh mông sóng gió” (số 02, tr.74).

Với Hồn đá (Phan Thị Ngân Châu), đá, Non Nước, Quán Thế Âm, Mộc Sơn… hiện lên trong sắc thái huyền thoại, gợi mở mối quan hệ cộng sinh giữa con người với thiên nhiên và nghề đá - một nét văn hóa riêng của vùng đất Ngũ Hành Sơn. Cây đào phai bên bờ rào đá (Trác Diễm) lại đưa người đọc đến không gian miền núi biên viễn, nơi cây đào trở thành biểu tượng của sức sống và sự bền bỉ của con người. Trong Mưa xuân trên đỉnh bình yên (Vũ Ngọc Giao), thiên nhiên trở thành không gian chữa lành: “tôi ngửa mặt đón những hạt nước tinh khiết khẽ chạm vào da, nghe lòng bình yên đến lạ, khi sự sống vẫn từng ngày tái sinh, dịu dàng và bất tận” (số 06, tr.86). Thiên nhiên vì thế không còn được cảm nhận thuần túy bằng thị giác mà đã được nội tâm hóa thành một giá trị văn hóa.

Một sắc thái khác của bản sắc không gian văn hóa được thể hiện qua lễ hội, tín ngưỡng và đời sống cộng đồng. Nhịp chiêng xuân (Nguyễn Bá Hòa) tái hiện không gian cồng chiêng, lễ hội mùa xuân và phong tục của đồng bào miền núi như những biểu tượng của sự cố kết cộng đồng: “Những đôi chân theo nhịp chiêng xuân hăm hở bước, núi rừng đã xuân, lòng người đã xuân” (số 06, tr.21).

Điểm đáng chú ý là các nhà văn không nhìn không gian địa phương như một thực thể tĩnh tại. Làng quê, biển cả, núi rừng hay lễ hội đều được đặt trong trạng thái vận động trước những biến đổi của đời sống. Ký ức đối thoại với hiện tại; truyền thống không đối lập với hiện đại mà trở thành nền tảng để con người nhận diện bản thân trong quá trình đổi thay. Qua những tác phẩm trên, có thể nhận thấy bản sắc của truyện ngắn in trên Tạp chí Đất Quảng trước hết được kiến tạo từ không gian văn hóa. Không gian ấy vừa lưu giữ ký ức cộng đồng, vừa hình thành căn tính địa phương, đồng thời trở thành điểm tựa để văn học đối thoại với những vấn đề của con người đương đại.

Bản sắc hệ giá trị văn hóa

Nếu không gian văn hóa tạo nên diện mạo thì hệ giá trị văn hóa chính là nền tảng tinh thần chi phối thế giới nghệ thuật của nhiều tác phẩm. Các nhà văn không tiếp cận văn hóa như một hệ chuẩn mực mang tính giáo huấn mà như một dòng chảy âm thầm thấm vào đời sống. Gia đình, nếp nhà, ký ức cội nguồn, nghĩa tình cộng đồng, lòng nhân ái và niềm tin vào những giá trị thiện lương được biểu hiện qua những tình huống đời thường, qua cách ứng xử và những biểu tượng gần gũi.

Nổi bật trước hết là giá trị gia đình và đạo hiếu. Trong Mẹ dấu yêu (Thiên Tâm), người mẹ - đồng thời là cô giáo làng - trở thành biểu tượng của sự hy sinh, lòng bao dung và tình yêu vô điều kiện. Ba nuôi, Bữa cơm chiều (Phùng Phương Quý) mở rộng khái niệm gia đình từ quan hệ huyết thống sang những mối quan hệ được kiến tạo bằng nghĩa tình, trách nhiệm và sự sẻ chia. Góc vườn gọi xuân (Hồ Loan) khắc họa khu vườn như một ký hiệu văn hóa của nếp nhà, nơi lưu giữ ký ức gia đình và những giá trị được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Gia đình trong các tác phẩm vì thế không chỉ là thiết chế xã hội mà còn là không gian gìn giữ căn tính văn hóa và nuôi dưỡng ý thức hướng về cội nguồn.

Các giá trị ấy còn được kết tinh qua những vật dụng bình dị của đời sống. Trong Chiếc khăn dong (Trác Diễm), chiếc khăn trở thành kỷ vật kết nối ký ức nhiều thế hệ, gợi nhắc sự chở che và lòng biết ơn đối với cội nguồn. Cái chén thứ năm (Nguyễn Văn Nhật Thành) biến một vật dụng quen thuộc trên mâm cơm thành biểu tượng của sự đoàn viên và khoảng trống dành cho người thân: “đôi khi, chỉ cần còn một bữa cơm để quay về… thì hành trình vẫn chưa thật sự khép lại” (số 10, tr.52). Rubic Tết (Lệ Hằng) đặt phong tục ngày Tết trong sự va đập với nhịp sống hiện đại, qua đó khẳng định sức sống của tình người và truyền thống. Sóng trong lòng sóng (Nguyễn Phương Dung) lại tái hiện không gian gia đình với bàn thờ mẹ, món ăn xứ Nẫu, lời ăn tiếng nói mộc mạc và tình người bình dị. Văn hóa vì thế không hiện diện bằng những diễn ngôn trực tiếp mà thẩm thấu vào từng hành vi, lựa chọn và cung bậc cảm xúc của nhân vật.

Đáng chú ý, một số tác giả còn mở rộng hệ giá trị văn hóa sang chiều kích nhân văn và tâm linh. Thuyền bát nhã (Vũ Thị Huyền Trang) khẳng định tình người qua sự cưu mang giữa những con người không cùng huyết thống, đồng thời đưa yếu tố Phật giáo vào cấu trúc biểu tượng qua hình ảnh con thuyền Bát Nhã. Cái chết vì thế không chỉ là một kết thúc bi thương mà còn trở thành hành trình trở về cõi an nhiên: “Bà đang ngồi trên con thuyền ấy, lặng lẽ trôi qua dòng Nại Hà để đi về một cõi bình yên khác” (số 09, tr.80).

Có thể thấy, hệ giá trị văn hóa là nền tảng bền vững làm nên bản sắc truyện ngắn trên Tạp chí Đất Quảng. Từ những câu chuyện đời thường, các tác giả đã chuyển hóa đạo hiếu, nghĩa tình, nếp nhà, phong tục và tinh thần từ bi thành những giá trị nghệ thuật giàu sức khái quát.

Đổi mới phạm vi phản ánh hiện thực

Hiện thực trong các truyện ngắn không còn giới hạn ở những mô hình quen thuộc như chiến tranh, ký ức hay nông thôn truyền thống mà đang dịch chuyển về những vấn đề của đời sống đương đại: đô thị hóa, biến đổi quan hệ xã hội, tác động của công nghệ, khủng hoảng tinh thần, khát vọng khẳng định bản thân và hành trình tìm kiếm ý nghĩa sống.

Trong Thủ lĩnh hoa hồng, Người nơi cuối hẻm (Lệ Hằng), hiện thực được nhìn từ những hiện tượng rất gần với đời sống hôm nay như mạng xã hội, kinh doanh đa cấp, khát vọng thành công, sự cô đơn và những đứt gãy trong các mối quan hệ. Đặc biệt, Nàng, tôi và Vic… (Quế Hương) là một minh chứng cho xu hướng mở rộng phạm vi phản ánh hiện thực khi lấy bối cảnh đô thị với dòng xe đông đúc, những con hẻm và nhịp sống hiện đại để đặt ra vấn đề về sự vô cảm của con người trước những sinh linh bé nhỏ. Quan niệm “Chúng đều là cư dân của hành tinh này” (số 06, tr.67) cho thấy sự dịch chuyển của truyện ngắn từ những đề tài quen thuộc sang các vấn đề đạo đức, lối sống và ý thức bảo vệ sự sống.

Bên cạnh đó là những lựa chọn hiện sinh và hành trình tự nhận thức của cá nhân. Ngã rẽ cuộc đời (Nguyễn Tam Mỹ) đặt nhân vật trước những quyết định mang tính bước ngoặt, phản ánh xung đột giữa khát vọng cá nhân và trách nhiệm cộng đồng. Con thiên nga đen trong đàn cánh trắng (Nguyễn Quang Vũ) đi sâu vào mặc cảm, định kiến và nhu cầu được thừa nhận. Nơi giấc mơ nở hoa (Vũ Thảo) khẳng định sức mạnh của ý chí và niềm tin trong hành trình vượt qua nghịch cảnh.

Một biểu hiện khác của sự đổi mới là việc đưa trải nghiệm cá nhân và đời sống cảm xúc trở thành đối tượng thẩm mỹ. Những vạt nắng lấp lánh (Nguyễn Thiên Phước), Chiếc vòng bạc lấp lánh (Vũ Ngọc Giao), Dưới vòm hoa vu vơ (Nguyễn Bá Hòa) đều tìm kiếm vẻ đẹp từ những lát cắt nhỏ của đời sống, từ sự sẻ chia, tình thân, ký ức, tình yêu và nỗi cô đơn. Hiện thực trong các tác phẩm vì thế không còn được nhận diện chủ yếu qua những biến cố lớn mà qua những chuyển động tinh vi của cảm xúc, nơi con người đối diện với chính mình trong dòng chảy không ngừng của đời sống.

Đáng chú ý, sự mở rộng phạm vi phản ánh không chỉ thể hiện ở việc bổ sung đề tài mới mà còn ở sự thay đổi trong quan niệm về hiện thực. Nếu trước đây hiện thực thường được tiếp cận như một chỉnh thể khách quan thì nhiều tác giả đã nhìn hiện thực như một quá trình trải nghiệm, đối thoại và tự nhận thức. Con người không còn là chủ thể mang những chuẩn mực có sẵn mà là cá thể luôn vận động giữa truyền thống và hiện đại, giữa không gian địa phương và thế giới số, giữa những ràng buộc cộng đồng và khát vọng cá nhân. Chính sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật ấy đã làm cho hiện thực trong truyện ngắn trên Tạp chí Đất Quảng trở nên đa chiều, phản ánh đồng thời những biến động của xã hội và những dịch chuyển sâu kín của đời sống tinh thần.

Có thể thấy, truyện ngắn trên Tạp chí Đất Quảng 10 số đầu đang từng bước mở rộng biên độ phản ánh từ không gian truyền thống đến những hiện thực mới của đời sống đô thị, công nghệ và toàn cầu hóa; từ hiện thực xã hội đến hiện thực tinh thần của cá nhân. Sự đổi mới ấy không làm phai nhạt bản sắc văn hóa địa phương mà trái lại, đặt con người trong cuộc đối thoại với những vấn đề phổ quát của thời đại, qua đó góp phần làm phong phú diện mạo truyện ngắn Đà Nẵng đương đại.

Đổi mới tư duy và thi pháp tự sự

Nếu mở rộng phạm vi hiện thực cho thấy sự đổi mới về nội dung thì những tìm tòi trong thi pháp phản ánh sự chuyển biến trong quan niệm nghệ thuật. Ở nhiều truyện ngắn, các tác giả không lựa chọn những thử nghiệm hình thức cực đoan mà đổi mới từ bên trong cấu trúc tự sự. Truyện không chỉ kể một câu chuyện mà ngày càng coi trọng việc kiến tạo ý nghĩa thông qua ký ức, điểm nhìn, biểu tượng và chiều sâu ý thức nhân vật.

Một biểu hiện nổi bật là tổ chức thời gian nghệ thuật theo logic ký ức. Trong Tiệm ký ức (Châu Ngọc Quốc), ký ức trở thành nguyên tắc kết cấu, để quá khứ và hiện tại liên tục đối thoại. Vị của hồi ức (Lê Nhung) được kiến tạo bằng những lớp hồi tưởng đan xen. Chuyến tàu đêm (Mỹ Liên) sử dụng hình tượng chuyến tàu như một trục kết nối các lát cắt thời gian và hành trình nội tâm.

Bên cạnh sự đổi mới về thời gian là sự linh hoạt trong điểm nhìn và cách kiến tạo hiện thực tự sự. Một ngàn dặm (Lê Nhung) không phát triển cốt truyện theo chuỗi sự kiện mà tập trung vào hành trình nhận thức của nhân vật, nơi mỗi chặng đường đồng 

thời là một chặng trưởng thành về tinh thần. Trong Sau hoàng hôn và Đi về phía giấc mơ (Hồ Loan), điểm nhìn được đặt gần với thế giới nội tâm, làm nổi bật những chuyển động tâm lý tinh vi hơn là các xung đột bên ngoài. Hiện thực vì thế không còn là cái có sẵn để phản ánh mà được kiến tạo từ trải nghiệm, cảm xúc và những suy tư hiện sinh của nhân vật.

Đáng chú ý hơn là xu hướng mở rộng biên giới tự sự thông qua trò chơi nghệ thuật và tính đa nghĩa của văn bản. Như thật như đùa (Nguyễn Tấn Ái) làm mờ ranh giới giữa thực và ảo, giữa cái đang diễn ra và cái được cảm nhận, tạo nên một trò chơi tự sự buộc người đọc tham gia kiến tạo ý nghĩa của văn bản. Trong Nhịp chiêng xuân (Nguyễn Bá Hòa), nhịp điệu lễ hội, âm thanh cồng chiêng và không khí mùa xuân không chỉ là chất liệu văn hóa mà còn trở thành nhịp điệu của trần thuật, làm cho câu chuyện mang sắc thái vừa hiện thực vừa giàu tính biểu tượng. Những tìm tòi này cho thấy, truyện ngắn trên Tạp chí Đất Quảng đang từng bước mở rộng khả năng biểu đạt của thể loại bằng việc kết hợp giữa tự sự, trữ tình và biểu tượng văn hóa.

Nhìn từ thi pháp học và tự sự học, những đổi mới trên chưa tạo thành một cuộc cách tân mạnh mẽ nhưng đã phản ánh sự thay đổi trong tư duy nghệ thuật của các cây bút truyện ngắn. Tự sự không còn đơn thuần là tái hiện hiện thực theo trình tự tuyến tính mà trở thành quá trình tổ chức ký ức, trải nghiệm và ý thức.

Như vậy, sự đổi mới thi pháp này không biểu hiện ở những thử nghiệm hình thức cực đoan mà ở sự đổi mới tư duy tự sự. Ký ức, dòng thời gian phi tuyến, điểm nhìn chủ thể, trò chơi tự sự và biểu tượng văn hóa đã trở thành những phương thức quan trọng để mở rộng chiều sâu nhân văn và khả năng biểu đạt của truyện ngắn, đồng thời khẳng định nỗ lực hiện đại hóa trên nền tảng bản sắc văn hóa địa phương.

2. Những vấn đề đặt ra từ truyện ngắn trên Tạp chí Đất Quảng

Sự phát triển của văn học địa phương luôn gắn liền với khả năng phản ánh đời sống xã hội và kiến tạo bản sắc văn hóa của từng vùng đất. Trong bối cảnh Đà Nẵng bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều biến đổi về không gian hành chính, kinh tế, văn hóa và đời sống xã hội; truyện ngắn không chỉ thực hiện chức năng phản ánh hiện thực mà còn tham gia lưu giữ ký ức cộng đồng, bảo tồn bản sắc địa phương và kiến tạo những diễn ngôn mới về con người đương đại. Khảo sát 35 truyện ngắn của 25 tác giả đăng trên 10 số đầu của Tạp chí Đất Quảng (bộ mới) cho thấy ba vấn đề nổi bật cần được nhận diện từ cả phương diện lý luận và thực tiễn.

Từ đời sống thường nhật đến ký ức văn hóa

Hiện thực được phản ánh trong truyện ngắn trên Tạp chí Đất Quảng 10 số đầu không hướng nhiều đến những biến cố lịch sử hay các xung đột xã hội quy mô lớn mà chủ yếu tập trung vào đời sống thường nhật của con người. Gia đình, quê hương, ký ức tuổi thơ, tình làng nghĩa xóm, những biến đổi trong quan hệ giữa con người với thiên nhiên và cộng đồng trở thành những miền hiện thực được nhiều tác giả lựa chọn. Điều đó phản ánh xu hướng trở về với những giá trị bền vững của đời sống tinh thần trong bối cảnh hiện đại hóa và toàn cầu hóa.

Sự lựa chọn này cho thấy ký ức không còn đơn thuần là chất liệu của tự sự mà đã trở thành phương thức lưu giữ bản sắc văn hóa. Những trải nghiệm cá nhân thường được đặt trong mối liên hệ với ký ức cộng đồng, qua đó góp phần tái hiện diện mạo văn hóa của vùng đất. Tuy nhiên, việc tập trung khá đậm vào các đề tài truyền thống cũng cho thấy phạm vi phản ánh vẫn còn tương đối “an toàn”; những vấn đề mới của xã hội đương đại như đô thị hóa, chuyển đổi số, di cư, biến đổi môi trường, áp lực nghề nghiệp hay những thay đổi trong cấu trúc gia đình hiện đại vẫn chưa trở thành mạch cảm hứng nổi bật.

Sự vận động của quan niệm nghệ thuật về con người

Cùng với sự chuyển dịch trong lựa chọn hiện thực, quan niệm nghệ thuật về con người cũng có nhiều thay đổi theo hướng hiện đại. Nếu trước đây nhân vật thường được nhìn như đại diện cho những giá trị cộng đồng thì ở nhiều truyện ngắn gần đây, con người được tiếp cận như một chủ thể mang đời sống nội tâm phong phú, có ký ức, khát vọng, những lựa chọn và cả những mâu thuẫn khó hóa giải. Truyện ngắn vì thế chuyển dần từ việc kể lại sự kiện sang khám phá những trải nghiệm tinh thần và chiều sâu tâm lý của nhân vật.

Sự thay đổi này phản ánh ảnh hưởng của tư duy tự sự hiện đại, trong đó con người không còn được nhìn nhận theo những khuôn mẫu đạo đức cố định mà hiện lên trong tính đa diện và phức hợp của đời sống cá nhân. Dẫu vậy, kiểu nhân vật mang tính phản biện xã hội, nhân vật đối diện với những khủng hoảng của đời sống đô thị hay những vấn đề do quá trình hội nhập tạo ra vẫn còn xuất hiện khá ít. Điều này đặt ra yêu cầu tiếp tục mở rộng phạm vi khám phá con người để truyện ngắn địa phương phản ánh đầy đủ hơn những chuyển động của xã hội đương đại.

Bản sắc địa phương trong yêu cầu hội nhập văn học

Một đặc điểm nổi bật của truyện ngắn trên Tạp chí Đất Quảng 10 số đầu là sự hiện diện rõ nét của bản sắc văn hóa địa phương. Không gian văn hóa, ký ức quê hương, phong tục, lối sống và hệ giá trị truyền thống trở thành những yếu tố quan trọng trong việc xây dựng thế giới nghệ thuật của nhiều tác phẩm. Đây chính là nền tảng tạo nên sắc thái riêng của truyện ngắn Đà Nẵng nói chung và của truyện ngắn trên Tạp chí Đất Quảng nói riêng trong bức tranh văn học Việt Nam đương đại.

Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập và giao lưu văn hóa ngày càng mạnh mẽ, bản sắc địa phương không chỉ được thể hiện bằng việc tái hiện cảnh quan hay phong tục mà còn cần được chuyển hóa thành những vấn đề mang ý nghĩa phổ quát. Văn học địa phương chỉ thực sự khẳng định được vị thế khi từ những trải nghiệm của một vùng đất có thể đối thoại với những vấn đề chung của con người, như căn tính văn hóa, sự dịch chuyển của ký ức, những biến đổi trong hệ giá trị và khát vọng tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống. Vì vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là tiếp tục gìn giữ bản sắc mà còn phải mở rộng biên độ phản ánh, tăng cường đối thoại với đời sống đương đại và tiếp thu những thành tựu của nghệ thuật tự sự hiện đại.

3. Kết luận

Khảo sát 35 truyện ngắn của 25 tác giả đăng trên 10 số đầu Tạp chí Đất Quảng (bộ mới) cho thấy phần nào sự định hình diện mạo riêng trên nền tảng kế thừa truyền thống văn hóa và mở rộng phản ánh những vấn đề của đời sống đương đại. Không gian văn hóa địa phương, ký ức cộng đồng và đời sống tinh thần con người trở thành những mạch cảm hứng nổi bật, đồng thời nhiều tác giả đã bước đầu có những tìm tòi về kết cấu, điểm nhìn và tổ chức tự sự. Từ kết quả khảo sát, có thể nhận thấy truyện ngắn ở đây có sự chuyển dịch từ mô hình tự sự thiên về phản ánh hiện thực sang kiểu tự sự coi trọng ký ức văn hóa, bản sắc địa phương và trải nghiệm cá nhân. Dù mức độ đổi mới thi pháp còn thận trọng, xu hướng này cho thấy khả năng hình thành một diện mạo truyện ngắn mang bản sắc riêng.

10 số tạp chí, 35 truyện ngắn của 25 tác giả - những con số ấy cho thấy Tạp chí Đất Quảng đã dành một sự quan tâm đáng kể cho thể loại truyện ngắn, đồng thời chú trọng mở rộng đội ngũ sáng tác và tạo cơ hội cho những cây bút trẻ. Qua đó, góp phần làm nên một không gian văn chương giàu bản sắc và nhiều sinh khí của Đà Nẵng hôm nay.

H.S.N

 Hoàng Sĩ Nguyên: PGS.TS., Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.     HeGhen (Phan Ngọc giới thiệu và dịch, 2005), Mỹ học, Nxb Văn học.

2.    Tạp chí Đất Quảng (bộ mới), các số 01 - 10.

3.     Nguyễn Đăng Điệp (chủ biên) (2016), Văn học Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế (2 tập), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

4.    Trần Đình Sử (chủ biên) (2008), Tự sự học - Một số vấn đề lý luận và lịch sử, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.

5.     Lộc Phương Thủy (chủ biên, 2007), Lý luận - Phê bình văn học thế giới thế kỷ XX, Nxb Giáo dục.