Những lớp phù sa văn hóa

30.10.2026
Phùng Tấn Đông

Những lớp phù sa văn hóa

Những lớp phù sa văn hóa phong phú đã góp phần làm nên diện mạo xứ Quảng - Đà Nẵng vừa thống nhất, vừa đa dạng. Trong ảnh: Làng bích họa Tam Thanh (phường Quảng Phú) nhìn từ trên cao. Ảnh: HUỲNH VĂN TRUYỀN

Lớp người không còn trẻ như thế hệ chúng tôi, mỗi khi gặp lại nhau ở đâu đó ngoài xứ Quảng, trong những câu chuyện về quê hương thường hay nhắc đến những câu thơ trong bài Hai miền thương của nhà thơ quá cố Tường Linh, người Quế Sơn, Trung Phước xưa: “Quê tôi bên ni đèo Ải/ Nhấp nhô bóng thuyền Cửa Đại/ Già nua nếp phố Hội An/ Ngũ Hành Sơn năm cụm ngắm sông Hàn/ Chùa Non Nước trầm tư hương khói quyện…”.

Ngược về cội nguồn văn hóa

Một anh bạn già mê môn địa lý từ mấy chục năm trước còn khoe rằng, anh từng mon men lên tận đầu nguồn sông Thu Bồn để yêu quê cho “đã nư”. Anh bảo, dù khi về đến biển, dòng sông đã đi qua bao nhiêu ghềnh thác, bao dặm dài bờ bãi, thì khởi nguyên từ nguồn cội vẫn chỉ là những giọt nước từ một dòng suối nhỏ trong một lũng sâu. Dòng suối ấy có cái tên mà tộc người Xơ Đăng vùng núi cao Ngọc Linh bản địa gọi là “Măng-Lùng”, dịch ra tiếng người Kinh là “Sương mù”.

Những khúc hát ru đầu tiên từ khi thơ bé của những người con xứ sở không chỉ nói về công cha nghĩa mẹ mà còn là nói về “hồn cốt” quê hương: “Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm/ Rượu hồng đào chưa nhấm đà say”; là câu hát ly hương của công chúa Huyền Trân: “Nước non ngàn dặm ra đi/ Cái tình chi - mượn màu son phấn đền nợ Ô, Ri…” (Bài ca Nam Bình).

Từ trước năm 1975, nhà sử học Võ Văn Dật, khi nói về sự kiện “đám cưới Huyền Trân”, từng viết: “khi nói đến sự hình thành của tỉnh Thừa Thiên, người ta nhớ ngay đến sự hy sinh của một người con gái lá ngọc cành vàng - Công chúa Huyền Trân nhưng ít ai nhớ rằng “những giọt nước mắt vu quy bất đắc dĩ ngày xưa của Huyền Trân cũng đã cống hiến cho Tổ quốc một vùng đất mà non sáu thế kỷ sau đã trở thành một thành phố hải cảng quan trọng đứng vào hàng thứ hai của miền Nam và trong tương lai không xa, sẽ vươn lên đóng một vai trò đáng kể ở kích thước quốc tế”1.

Từ bước chân Nam tiến đến một vùng văn hóa

Từ thuở Nam tiến, trong số những người tùy tùng theo chân công chúa Huyền Trân vào đất Champa, có lớp cư dân người Việt vùng Thanh - Nghệ đã ở lại khai khẩn vùng đất Ô Châu. Vùng đất này, theo nhà văn Nguyễn Văn Xuân, khi Chế Mân nhường Ô, Lý thì “nhà vua chỉ mất khoảng đất bị bao phủ bởi cây rừng”2. Năm 1985 tại thôn Pà Roòng, xã Tabhing (Nam Giang) các nhà khảo cổ thuộc Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Bảo tàng Quảng Nam - Đà Nẵng đã “khai quật một ngôi mộ cổ được xây bằng gạch vồ, có niên đại cuối thời Trần, căn cứ vào đồ tùy táng, các nhà khảo cổ cho rằng đây là ngôi mộ có địa vị xã hội khá cao ở vùng đất này. Tại Thạnh Mỹ (Nam Giang) cũng đã tìm thấy dấu vết của một phế tích mộ gạch tương tự như mộ Pà Roòng. Theo những cứ liệu đó “thì người Việt đã có mối quan hệ khá sớm đối với cư dân miền núi xứ Quảng trong đó vùng Nam Giang, Hiên là địa bàn cư trú lâu đời của dân tộc Cơ-Tu”3...

Năm 1471, sau chiến thắng Đồ Bàn, vua Lê Thánh Tông lập Quảng Nam Thừa tuyên, chia làm 3 phủ Thăng Hoa (Quảng Nam), Tư Nghĩa (Quảng Ngãi) và Hoài Nhơn. Công cuộc Nam tiến khởi đầu bằng cuộc di dân người Việt từ Bắc vào cùng với người Chăm khai khẩn những vùng đất còn hoang hóa. Năm 1602, Chúa Nguyễn Hoàng vào lập Dinh trấn tại Quảng Nam - Dinh Chiêm (Quảng Nam dinh). Người Việt di cư vào vùng đất mới ngày càng đông, bổ sung nguồn nhân lực cho công cuộc khai phá. Dọc dòng sông Cái - sông Thu Bồn, sông Vu Gia (sông Con), phù sa bồi đắp nên những đồng bằng rộng lớn. Phủ Biên Tạp Lục ghi nhận “Trong hai phủ Thăng Hoa và Điện Bàn, ba xứ là Phường Tây, Thu Bồn và Thành Rắn đều có ruộng đồng mênh mông…”4.

Đất tốt, lúa gạo dồi dào, nhân khang vật thịnh, xứ Quảng dần hình thành nhiều làng nghề thủ công: trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải; đúc đồng, mộc nề, làm gốm… Theo Lê Quý Đôn, dân ở phủ Thăng Hoa và phủ Điện Bàn có nhiều người giỏi nghề dệt vải, lụa, làm các loại hàng hóa “vừa tinh xảo, vừa đẹp mắt”, không thua kém hàng hóa của Quảng Đông.

Khởi đầu của cuộc Nam tiến cũng là khởi đầu của những cuộc giao lưu kinh tế, văn hóa giữa người Việt với cư dân bản địa Chăm. Đó là sự giao thoa trong nghề trồng lúa nước, cách lấy nước mội/ muội để tưới tiêu những thửa ruộng chân núi, giống lúa Chiêm; nghề dệt của người Chăm; nghề đóng ghe bầu, khai thác trầm hương, kỳ nam, yến sào; nghề đánh bắt và làm mắm cá biển…

Trong quá trình Nam tiến, quan hệ Việt - Chăm không chỉ có chiến tranh, xung đột mà còn có những mối quan hệ cộng cư và giao lưu văn hóa. Qua tộc phả và mộ cổ, nhiều cuộc hôn nhân Việt - Chăm được phát hiện; nhiều dòng họ Việt gốc Chăm như Ông, Ma, Trà, Chế vẫn còn dấu tích; thậm chí đến nay vẫn tồn tại những “ốc đảo” người Việt gốc Chăm như Đồng Dương (Đà Nẵng)2. Nhiều lăng mộ thờ các vị thần Chăm, các vị tiền hiền người Việt được cộng đồng gìn giữ, đặc biệt là các lăng Bà như Thiên Y A Na Ngọc Diễn Phi, Bà Thu Bồn, Bà Pô Bô, Bà Phường Chào - tương truyền có gốc Chăm. Chính những lớp cư dân, những cuộc giao lưu và cộng cư ấy đã góp phần tạo nên diện mạo văn hóa đặc sắc của vùng đất.

Sự giao lưu văn hóa Việt - Chăm - Hoa - Nhật và với các nước phương Tây đã từng bước biến vùng đất được gọi là “Ô châu ác địa” thành nơi đất lành chim đậu. Cảng thị quốc tế Hội An - Đà Nẵng trở thành vùng đất kinh tế phát triển phồn thịnh của xứ Đàng Trong (Nam Hà) trong các thế kỷ XVII - XVIII. Các giáo sĩ, nhà du hành phương Tây từng gọi xứ Đàng Trong là “Nước Quảng Nam” (“Quảng Nam quốc”), một phần nhờ chính sách ngoại thương thoáng mở, thực sự cầu thị, giàu tính ích dụng và thích ứng với thị trường của các Chúa Nguyễn lúc bấy giờ.

Những lớp phù sa văn hóa…

Xứ Quảng có một mạng lưới sông ngòi chằng chịt. Từ vùng núi phía Tây, các dòng A Vương, sông Côn, sông Cái, sông Thanh chảy qua vùng đất người Cơ Tu sinh sống bao đời, rồi hợp lưu tại Đại Lộc tạo thành nguồn Vu Gia.

Ở  vùng  núi  Ngọc  Linh,  cao Vân Thê (Huế), Nam Ô, Túy Loan, 2.598m, giáp giới Trà My và Kon Tum cũ, những con suối đầu nguồn hợp thành dòng Đăk Di. Từ đó, dòng sông kéo dài, hợp lưu với nhiều sông suối rộng dài hơn, qua mỗi vùng đất lại mang một tên gọi khác nhau như Nậm Nim, sông Tranh - vùng đất trù phú của người Ca Dong - một nhánh của tộc người Xơ Đăng. Một nhánh khác gọi là sông Tiên, phát nguyên từ vùng Trà Nú, chảy qua mỏ vàng Bồng Miêu rồi ngược về phía Tây Bắc đến Tiên Phước, nên xứ này có câu “sông Tiên nước chảy ngược dòng”. Sông Tiên đến bến Hiệp Đức hợp dòng với sông Tranh thành nguồn Thu Bồn. Tại vùng Nông Sơn - Trung Phước, dòng sông chảy dưới chân Hòn Kẽm - Đá Dừng mang câu ca hoài nhớ “Ngó lên Hòn Kẽm Đá Dừng/ Thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi”.

Thu Bồn chảy về Giao Thủy thì hợp lưu với dòng Vu Gia. Cách Giao Thủy một đoạn, sông tách thành hai nhánh bao bọc Gò Nổi - vùng đất địa linh, nơi sinh ra nhiều “nhân tài kiệt hiệt” như Hoàng Diệu, Phạm Phú Thứ, Trần Cao Vân, Phan Thành Tài, Phan Khôi… Gò Nổi cũng nổi tiếng với nghề làm đường, mật, ươm tơ, dệt lụa. Qua Gò Nổi, sông mang tên sông Sài, hay sông Chợ Củi, chảy qua đô thị cổ Hội An rồi về Cửa Đại, hợp lưu với sông Trường Giang từ phía Nam ra, cùng dòng Đế Võng - Cổ Cò từ Đà Nẵng vào.

Nhìn từ những dòng sông ấy, có thể thấy một vùng đất được bồi đắp không chỉ bằng phù sa tự nhiên mà còn bằng những lớp phù sa văn hóa. Mỗi dòng sông mang theo một phần ký ức, một lớp cư dân, một câu chuyện, một nghề nghiệp, một câu ca. Và khi những dòng sông gặp nhau, những lớp văn hóa cũng gặp nhau, bồi đắp nên một diện mạo xứ Quảng vừa thống nhất vừa đa dạng.

Lịch sử gần 555 năm của vùng văn hóa xứ Quảng cũng là lịch sử cư trú của nhiều lớp cư dân, tạo nên những vỉa tầng văn hóa khảo cổ học phong phú. Di tích khảo cổ Cồn Sò điệp Bàu Dũ (Tam Xuân, Núi Thành cũ) thuộc sơ kỳ thời đại Đá mới, cách ngày nay khoảng 6.000 năm, là di tích khảo cổ học sớm nhất được biết đến ở Quảng Nam - Đà Nẵng. Tiếp đó là các di tích thuộc giai đoạn tiền Sa Huỳnh như Bàu Trám (Tam Anh, Núi Thành cũ), gồm di chỉ cư trú trên gò Bà Tham và khu mộ chum trên trảng Đồng Dù; di chỉ cư trú và khu mộ táng ở Bãi Ông - Cù Lao Chàm. Quảng Nam xưa còn có nhiều di tích thuộc văn hóa Sa Huỳnh, nổi tiếng ở giai đoạn sơ kỳ thời đại đồ sắt. Theo nhà nghiên cứu Hồ Xuân Tịnh, từ năm 1986 đến 2011, hơn 30 địa điểm đã được phát hiện, đào thám sát và khai quật, phần lớn là các khu mộ chum và một số khu cư trú cổ, phân bố từ vùng ven biển lên đến núi cao. Di vật trong các khu mộ chum Sa Huỳnh ở Quảng Nam phong phú về số lượng và loại hình, gồm đồ gốm gia dụng, công cụ lao động, vũ khí bằng đồng thau, sắt; đồ trang sức như khuyên tai hai đầu thú, khuyên tai ba mấu bằng đá quý, hạt chuỗi bằng thủy tinh, mã não5... 

Đất Quảng xưa nằm trong vùng Amaravati của Vương quốc Champa, vì vậy nơi đây có nhiều khu đền tháp nổi tiếng như Mỹ Sơn, Đồng Dương, Trà Kiệu, Chiên Đàn, Khương Mỹ, An Mỹ, Phong Lệ… Nhiều đền tháp đã bị thời gian bào mòn, chỉ còn lại phế tích; một số di tích đang được đặt vấn đề phục dựng, như Đồng Dương. Hai di sản đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới: Đô thị cổ Hội An và Khu đền tháp Mỹ Sơn.

Thành phố nơi đầu sóng…

Đà Nẵng xưa được biết đến với Cửa Hàn, Hiện Cảng, Tourane - những địa danh gắn với lịch sử hình thành và những cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ của dân tộc trong hơn một thế kỷ.

Trong thời kỳ Nam tiến, Đà Nẵng thuộc phủ Điện Bàn. Từ năm 1888 đến 1945, nơi đây là đất “nhượng địa” của Pháp, theo đạo dụ năm Mậu Tý 1888. Nhưng từ nhiều thế kỷ trước đó, vịnh Hàn, sông Hàn, sông Cổ Cò cùng với Cửa Đại đã là những cửa ngõ để tàu thuyền nước ngoài vào thương cảng Hội An. Theo các bậc cao niên, ngày xưa người Quảng thường nói “ra Hàn xuống Phố” để chỉ Đà Nẵng, Hội An. Hai địa danh tưởng như cách biệt nhưng thực ra được kết nối bởi những dòng sông, những con đường giao thương và những mối quan hệ văn hóa lâu đời. Đà Nẵng cũng ghi dấu ấn là cửa ngõ du nhập đạo Công giáo vào Việt Nam, đồng thời là một trong những “cửa ngõ” để các giáo sĩ góp phần vào quá trình hình thành chữ Quốc ngữ sau này.

Sau thời gian chia tách từ năm 1997, tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng nay lại hợp nhất, cùng mang tên thành phố Đà Nẵng. Sự hợp nhất ấy làm cho thành phố giàu thêm về giá trị văn hóa, với hai di sản văn hóa thế giới, đồng thời mở rộng một không gian địa lý giàu tiềm năng phát triển. Đó là một không gian văn hóa xứ Quảng trải dài từ tiền sơ sử đến đương đại; một vùng đất có “núi, sông, đồng, biển”, với vô số danh lam, thắng cảnh và những di tích văn hóa, kiến trúc có giá trị. Đà Nẵng hôm nay cũng kế thừa tính cách năng động của người Quảng, một nguồn lực con người luôn thích ứng với sự năng động, sáng tạo và đổi mới trong bối cảnh phát triển mới của thời công nghệ.

Tháng 9/2026, Nhà xuất bản sách hướng dẫn du lịch Lonely Planet công bố danh sách Top 50 điểm đến truyền cảm hứng cho khách quốc tế năm 2027. Đà Nẵng là đại diện duy nhất của Việt Nam có tên trong danh sách. Lonely Planet ghi nhận Đà Nẵng là thành phố “có núi, có bãi biển dài ngay trong thành phố, không khí thư thái và ẩm thực đặc sắc”. Bán đảo Sơn Trà mang đến không gian yên tĩnh cùng tầm nhìn ra biển. Từ Đà Nẵng, du khách thuận tiện thực hiện những chuyến đi đến ba địa danh được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới: Quần thể di tích Cố đô Huế, Khu đền tháp Mỹ Sơn và Phố cổ Hội An. Ngoài ra còn có Cầu Vàng, Khu Bảo tồn thiên nhiên Bà Nà - những điểm đến đã trở thành những biểu tượng của Đà Nẵng.

Một báo cáo về du lịch cũng ghi nhận, trong 6 tháng đầu năm 2026, Đà Nẵng đón 14,2 triệu lượt khách; khách lưu trú tăng gần 25% so với cùng kỳ, khách quốc tế đạt gần 7 triệu lượt, tăng 26%, góp phần đưa doanh thu lưu trú và ăn uống đạt gần 47.000 tỷ đồng. Những con số ấy cho thấy sức hút của một thành phố đang chuyển động mạnh mẽ. Nhưng phía sau những con số của du lịch, phía sau những đô thị mới, những cây cầu và những tuyến đường, vẫn là một không gian văn hóa được bồi đắp qua nhiều thế kỷ.

Đà Nẵng - thành phố thực sự là nơi những dòng sông gặp biển. Và trong một thời kỳ mới, những dòng sông ấy không chỉ mang theo phù sa của đất đai mà còn mang theo những lớp phù sa văn hóa, ký ức và sức sống của cả một vùng đất. Có lẽ đó cũng chính là dòng chảy bền bỉ nhất làm nên hồn cốt xứ Quảng hôm nay.

P.T.Đ

Phùng Tấn Đông: Thạc sĩ, nguyên ủy viên Ban Chấp hành Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh Quảng Nam

Chú thích:

1. Võ Văn Dật, Lịch sử Đà Nẵng, NXB Trẻ, 2006 tr.48.

2. Nguyễn Văn Xuân, “Một số địa danh hành chính quan hệ với giao thương văn hóa ở Quảng Nam”, Tạp chí Văn hóa Quảng Nam. số 10/ 2001.

3 Hồ Xuân Tịnh, “Hội nhập văn hóa ở vùng đất Quảng Nam trên bước đường Nam tiến”, Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Quảng Nam, Trung tâm Quản lý Di tích và Danh thắng Quảng Nam, tr.9.

4. Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, NXB Khoa học xã hội, 1997.

5. Trần Quốc Vượng, Vị thế địa-lịch sử và bản sắc địa - văn hóa của Hội An - Đô thị cổ Hội An, NXB Khoa học xã hội, H.1991 tr. 51-61.

6. Hồ Xuân Tịnh. “Một số vấn đề về bảo tồn các di tích khảo cổ học ở Quảng Nam”. Sđd. Trung tâm QLBTDT&DT QN xb 2011 tr79.