Mạch nguồn văn hóa đất Quảng trong không gian đô thị mới

30.10.2026
Hồ Xuân Tịnh

Mạch nguồn văn hóa đất Quảng trong không gian đô thị mới

Các không gian cư trú, tín ngưỡng, phong tục, tri thức bản địa và thiết chế cộng đồng khác nhau góp phần làm nên bức tranh văn hóa đa tầng cho thành phố Đà Nẵng. Trong ảnh: Một góc làng truyền thống Cơ Tu ở xã Tây Giang. Ảnh: Đ.T.T

Năm 1997, Quảng Nam và Đà Nẵng được chia tách thành hai đơn vị hành chính, nhưng không gian địa - văn hóa vốn gắn kết qua nhiều thế kỷ vẫn liền mạch. Mỗi địa phương trong thời gian đó vừa phát huy thế mạnh riêng, vừa tạo động lực bổ trợ cho quá trình phát triển chung. Việc hợp nhất tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng lần này mở ra  cơ hội tái kết nối một không gian lịch sử - văn hóa vốn có tính liên tục. Đây là điều kiện để kế thừa, phát huy và nâng tầm các nguồn lực văn hóa của đất Quảng. Văn hóa vì thế không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn trở thành nguồn lực quan trọng để Đà Nẵng có thêm cơ sở hướng tới một đô thị phát triển bền vững, hiện đại nhưng giàu bản sắc.

1. Bức tranh văn hóa đa tầng

Văn hóa Đà Nẵng được hình thành qua quá trình tương tác lâu dài giữa con người và các vùng sinh thái đa dạng, từ miền núi phía tây, qua trung du và những đồng bằng ven sông đến dải duyên hải hướng ra Biển Đông. Mỗi không gian cư trú, với những điều kiện khác nhau, đã góp phần tạo nên các hình thức mưu sinh, tín ngưỡng, phong tục, tri thức bản địa và thiết chế cộng đồng riêng. Sự đan xen giữa các vùng vừa tạo nên tính đa dạng, vừa kết nối thành một chỉnh thể văn hóa có tính liên kết, phản ánh quá trình thích ứng và sáng tạo của các cộng đồng cư dân trên đất Quảng qua nhiều thế hệ.

Đại ngàn và di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số

Vùng đại ngàn phía tây đất Quảng trải rộng từ Hiên (Đông Giang và Tây Giang), Giằng (Nam Giang), Trà My, Phước Sơn đến vùng đồi núi Hòa Vang, là một không gian sinh thái - văn hóa có lịch sử cư trú lâu đời của nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số Cơ Tu, Cor, Ca Dong (Xơ Đăng), Gié - Triêng. Địa hình núi cao, rừng tự nhiên, hệ thống sông suối và những thung lũng xen kẽ đã tạo nên môi trường sinh sống đặc thù, trong đó các cộng đồng cư dân hình thành những phương thức mưu sinh thích ứng với điều kiện tự nhiên và hệ thống tri thức bản địa phong phú.

Đối với người Cơ Tu, gươl là một biểu tượng tiêu biểu của thiết chế cộng đồng truyền thống. Gươl là không gian hội họp, tổ chức nghi lễ, tiếp khách và thực hành các hoạt động văn hóa của làng. Trong cấu trúc xã hội truyền thống, gươl góp phần duy trì sự cố kết cộng đồng, luật tục cũng như các giá trị văn hóa giữa các thế hệ. Trong các lễ hội Cơ Tu luôn có diễn tấu trống - chiêng và điệu múa Tâng tung da dá. Sự kết hợp giữa nhịp điệu trống chiêng, động tác múa và không gian nghi lễ thể hiện quan niệm của cư dân về mối quan hệ giữa con người, cộng đồng và thế giới tự nhiên.

Nghệ thuật trang trí cây nêu và bộ gu của dân tộc Cor gắn với những nghi lễ quan trọng, phản ánh thế giới quan và quan niệm tâm linh của cộng đồng. Đó là hiện vật mang tính nghi lễ và là phương tiện biểu đạt bằng hình thức tạo hình những quan niệm về quan hệ giữa con người với thần linh. Bên cạnh đó, nghệ thuật đấu chiêng là một hình thức sinh hoạt văn hóa đặc sắc, thể hiện kỹ năng trình diễn âm nhạc đồng thời tạo nên không gian giao lưu, thi tài và cố kết cộng đồng.

Đối với người Ca Dong (thuộc nhóm Xơ Đăng), đàn nước là một biểu hiện độc đáo của tri thức dân gian, từ dụng cụ đuổi thú rừng trở thành một nhạc cụ. Tượng cổng làng và tục cúng máng nước lại gắn với quan niệm về không gian cư trú, nguồn nước và các lực lượng siêu nhiên bảo trợ cộng đồng.

Người Gié - Triêng cũng lưu giữ những đặc trưng riêng trong kiến trúc nhà ở truyền thống. Nhà sàn dài thường được dựng bằng gỗ, mái lợp tranh và có kết cấu phù hợp với điều kiện khí hậu, địa hình miền núi. Mặt bằng nhà sàn dài được tổ chức theo lối phân chia không gian tương đối rõ: một hành lang hoặc lối đi chạy ở giữa, hai bên là không gian sinh hoạt của các hộ gia đình. Cấu trúc này phản ánh mô hình cư trú cộng đồng và quan hệ liên kết giữa các gia đình trong một đơn vị cư trú truyền thống.

Bên cạnh kiến trúc và nghệ thuật trình diễn, nghề dệt thổ cẩm, kỹ thuật đan lát bằng tre, nứa, mây và các phương thức chế biến, bảo quản thực phẩm phản ánh sự hiểu biết sâu sắc của cư dân đối với nguồn tài nguyên rừng và điều kiện tự nhiên địa phương. Những món ăn như cơm lam, các loại thịt rừng, cá suối và thức uống truyền thống không chỉ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng mà còn gắn với nghi lễ, lễ hội và sinh hoạt cộng đồng.

Vùng trung du, đồng bằng sông nước và ký ức của các làng cổ

Vùng trung du và đồng bằng là địa bàn cư trú lâu đời của cư dân Việt trong tiến trình khai phá đất Quảng. Sự chuyển tiếp từ miền núi xuống trung du, đồng bằng và cửa sông tạo nên một không gian sinh thái đa dạng, nơi con người từng bước thích nghi với địa hình, khai thác đất đai, nguồn nước và hình thành những phương thức tổ chức đời sống xã hội phù hợp. Những làng cổ, nhà vườn, đình làng, miếu xóm, nhà thờ tộc… là những dấu tích vật chất lưu giữ ký ức về quá trình cư trú, khai phá và định hình bản sắc văn hóa xứ Quảng.

Ở vùng trung du, Tiên Phước là một không gian văn hóa có cảnh quan và sinh thái đặc thù. Địa hình đồi thấp xen thung lũng, cùng hệ thống sông suối, tạo nên môi trường cư trú khác biệt với đồng bằng ven biển. Hình ảnh “sông Tiên nước chảy ngược dòng” trở thành một dấu ấn trong ký ức địa phương, gắn với sự độc đáo của địa hình và cảnh quan. Trên nền sinh thái ấy hình thành những khu dân cư và nhà vườn lâu đời, tiêu biểu là làng cổ Lộc Yên. Nhà cổ, ngõ đá cùng những khu vườn trồng các loại cây quế, tiêu, lòn bon, mít, chuối… tạo thành một chỉnh thể cảnh quan văn hóa đặc trưng, phản ánh sự thích ứng của cư dân với môi trường trung du.

Từ trung du xuống đồng bằng, các hệ thống Vu Gia, Thu Bồn, Tam Kỳ, Trường Giang và Cu Đê tạo nên mạng lưới cư trú gắn bó mật thiết với nguồn nước. Sông ngòi cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, đồng thời còn là tuyến giao thông vận chuyển sản vật và kết nối các cộng đồng. Quá trình bồi tụ phù sa qua nhiều thế hệ góp phần hình thành những vùng đồng bằng phì nhiêu, tạo cơ sở cho nghề trồng lúa, hoa màu và các hoạt động kinh tế nông nghiệp. Trên nền tảng đó, nhiều làng xã được hình thành, lưu giữ những lớp ký ức về quá trình khai phá và định cư của cư dân Việt trong lịch sử Nam tiến.

Các làng cổ như Phong Nam, Túy Loan, Trà Kiệu, Chiên Đàn… là những địa điểm tiêu biểu cho cấu trúc làng xã truyền thống ở vùng đồng bằng. Mỗi làng có lịch sử và đặc điểm riêng, thường bao gồm hệ thống đường làng, nhà ở, đình, miếu, nhà thờ tộc, giếng nước, bến sông và không gian sản xuất nông nghiệp. Các thành tố này tạo thành một chỉnh thể thống nhất, trong đó không gian cư trú, sản xuất và tín ngưỡng có mối quan hệ mật thiết.

Trong cấu trúc ấy, đình làng giữ vị trí đặc biệt. Đình vừa là nơi thờ Thành hoàng, Tiền hiền, Hậu hiền, vừa là trung tâm sinh hoạt cộng đồng, nơi diễn ra hội họp, tế lễ... Miếu xóm, nhà thờ tộc và các không gian thờ tự khác bổ sung những tầng ý nghĩa của đời sống tín ngưỡng, phản ánh mối quan hệ giữa làng xã, dòng họ và gia đình. Hệ thống thiết chế tín ngưỡng trở thành một mạng lưới xã hội - tâm linh góp phần cố kết cộng đồng.

Lễ hội truyền thống là một không gian quan trọng để ký ức cộng đồng được tái hiện, lưu giữ và truyền nối qua các thế hệ. Thông qua các nghi lễ tế tự, rước thần, diễn xướng và sinh hoạt văn nghệ dân gian, lịch sử hình thành của làng, truyền thuyết về thành hoàng, công lao của tiền nhân cùng những chuẩn mực đạo lý và giá trị văn hóa được nhắc lại, củng cố và trao truyền trong đời sống cộng đồng. Trong hệ thống diễn xướng lễ hội, hát bội từng giữ vị trí quan trọng ở nhiều địa phương, vừa đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, vừa phục vụ nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của cộng đồng. Bài chòi cũng là một hình thức diễn xướng đặc trưng của vùng Trung Bộ, kết hợp hài hòa giữa âm nhạc, lời ca, trò chơi và giao tiếp cộng đồng, qua đó không chỉ tạo không khí vui hội mà còn góp phần duy trì ngôn ngữ, lối ứng xử và những giá trị văn hóa dân gian.

Bên cạnh đó, ẩm thực và nghề thủ công góp phần tạo nên ký ức của các làng đồng bằng. Các sản phẩm từ lúa gạo, nghề làm bánh, chế biến thực phẩm, đan lát và những nghề thủ công gia đình phản ánh khả năng thích ứng của cư dân với môi trường nông nghiệp. Kinh nghiệm canh tác, chế biến, bảo quản thực phẩm và tổ chức sản xuất được truyền qua nhiều thế hệ, trở thành một bộ phận của tri thức bản địa và di sản văn hóa phi vật thể.

Có thể nói, các làng cổ không chỉ thuộc về quá khứ mà vẫn là thành tố sống của đời sống hiện tại. Việc nhận diện, bảo tồn và phát huy các giá trị của không gian trung du, đồng bằng sẽ góp phần duy trì tính liên tục của văn hóa xứ Quảng, đồng thời tạo chiều sâu lịch sử, bản sắc cộng đồng và nền tảng văn hóa cho không gian phát triển mới của thành phố Đà Nẵng.

Vùng duyên hải ven biển và bản sắc văn hóa biển

Không gian duyên hải từ vịnh Nam Chơn qua Hội An đến Chu Lai tạo thành một dải văn hóa biển có lịch sử lâu dài, nơi đời sống của các cộng đồng cư dân ven biển, làng chài và bến cảng gắn bó mật thiết với Biển Đông. Biển vừa là không gian mưu sinh, vừa là môi trường giao lưu rộng mở với các vùng miền trong nước và bên ngoài. Từ sự thích ứng với điều kiện tự nhiên nhiều biến động, cư dân duyên hải từng bước tích lũy một hệ thống sinh kế, tri thức hàng hải, tín ngưỡng và tập quán xã hội đặc trưng.

Các nghề đánh bắt hải sản, làm nước mắm, chế biến và bảo quản thủy sản, đóng sửa thuyền, đan lưới cùng nhiều hoạt động dịch vụ gắn với biển được duy trì và truyền nghề qua nhiều thế hệ. Những kinh nghiệm về con nước, mùa gió, luồng cá, thời tiết và kỹ thuật đi biển trở thành bộ phận quan trọng của tri thức bản địa, giúp con người thích ứng với môi trường biển và giảm thiểu những rủi ro trong đời sống. Đồng thời, trước những bất trắc từ bão tố và biển động, cư dân duyên hải xây dựng một hệ thống tín ngưỡng và nghi lễ cầu an, qua đó gửi gắm ước vọng về bình yên, mùa biển thuận lợi và củng cố sự gắn kết cộng đồng.

Trong hệ thống tín ngưỡng ấy, tục thờ Cá Ông giữ vị trí đặc biệt. Cá Ông được cư dân ven biển xem như vị thần cứu hộ, gắn với những câu chuyện về việc cứu giúp ngư dân gặp nạn trên biển. Khi Cá Ông “lụy” vào bờ, cộng đồng tổ chức tang lễ trang trọng, sau đó lưu giữ bộ xương tại lăng Ông để thờ phụng. Tín ngưỡng này thể hiện sự tri ân đối với biển cả, đồng thời phản ánh mối quan hệ đặc biệt giữa con người với môi trường biển và những lực lượng tự nhiên mà họ vừa khai thác vừa kính sợ.

Lễ hội Cầu Ngư là hình thức thực hành tiêu biểu của tín ngưỡng biển. Lễ hội thường được tổ chức tại các làng ven biển nhằm tưởng niệm Cá Ông, cầu mong biển yên, gió thuận, ngư dân ra khơi an toàn và đánh bắt thuận lợi. Các nghi thức tế lễ, hát bả trạo cùng những hình thức sinh hoạt cộng đồng tạo nên một không gian văn hóa tổng hợp. Vì vậy, lễ hội không chỉ có chức năng tín ngưỡng mà còn góp phần củng cố quan hệ cộng đồng và trao truyền ký ức nghề nghiệp.

Bên cạnh văn hóa làng chài, duyên hải đất Quảng còn hình thành những trung tâm giao thương biển có tầm vóc khu vực và quốc tế. Hội An giữ vị trí đặc biệt trong lịch sử hàng hải Đàng Trong. Từ thế kỷ XVI đến XVIII, thương cảng này trở thành đầu mối giao thương quan trọng, thu hút thương nhân từ nhiều khu vực châu Á và phương Tây. Dấu ấn giao lưu ấy được thể hiện trong cấu trúc đô thị, kiến trúc, tín ngưỡng, nghề thủ công và đời sống văn hóa của cư dân Hội An.

Trong khi đó, vịnh Đà Nẵng tạo điều kiện hình thành và phát triển một đô thị cảng có vai trò quan trọng bậc nhất ở miền Trung. Vị trí địa lý thuận lợi, vùng nước tương đối kín và khả năng kết nối với mạng lưới giao thông nội địa giúp Đà Nẵng trở thành một đầu mối hàng hải. Từ thời kỳ Tourane dưới chế độ thuộc địa, cảng Đà Nẵng từng bước được đầu tư và mở rộng, thúc đẩy đô thị hóa và gia tăng giao lưu kinh tế, văn hóa với bên ngoài. Quá trình ấy góp phần hình thành diện mạo của một đô thị hướng biển, đồng thời tạo điều kiện tiếp nhận những yếu tố mới về kỹ thuật, kiến trúc và phương thức tổ chức đô thị.

Văn hóa biển đất Quảng có thể được nhận diện trên nhiều tầng: văn hóa làng chài và nghề biển, tín ngưỡng - lễ hội, tri thức hàng hải, thương mại đường biển và văn hóa đô thị cảng. Các tầng văn hóa này không tồn tại biệt lập mà bổ sung cho nhau, tạo nên một không gian duyên hải vừa mang tính cộng đồng địa phương, vừa có khả năng mở rộng giao lưu khu vực và quốc tế. Chính sự tiếp xúc thường xuyên với biển và các luồng giao thương góp phần hình thành tính cởi mở, khả năng tiếp nhận cái mới và tinh thần năng động của cư dân vùng đất này.

Trong quá trình hiện đại hóa, văn hóa biển tiếp tục là thành tố quan trọng của bản sắc Đà Nẵng. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa ven biển, phát triển du lịch và hạ tầng cảng biển cũng đặt ra yêu cầu bảo vệ cảnh quan, không gian sinh kế và các thiết chế văn hóa truyền thống của cộng đồng. Bảo tồn văn hóa biển trước hết là gìn giữ không gian làng chài, phong tục, tín ngưỡng, lễ hội, tri thức dân gian về nghề biển và những quan hệ xã hội được hình thành qua nhiều thế hệ.

Bảo tồn, phát huy và khai thác hợp lý các giá trị văn hóa góp phần tạo thêm nguồn lực để phát triển đô thị. Ảnh: NGUYỄN THANH HIỆP

Nhìn tổng thể, đại ngàn - trung du, đồng bằng - duyên hải - biển cả đã tạo thành một chỉnh thể có quan hệ tương hỗ. Núi cung cấp nguồn nước và tài nguyên; sông kết nối các vùng cư trú; đồng bằng tạo nền tảng sản xuất nông nghiệp; biển mở ra sinh kế, giao thương và giao lưu văn hóa. Trên nền tảng ấy hình thành một hệ thống di sản sống phong phú, từ kiến trúc, tín ngưỡng, lễ hội, nghề truyền thống đến nghệ thuật trình diễn, ẩm thực và tri thức bản địa. Chính sự liên kết giữa các vùng sinh thái đã tạo nên chiều sâu và tính đa dạng của bản sắc đất Quảng, đồng thời cung cấp nền tảng văn hóa cho quá trình hình thành một đô thị hiện đại, năng động và hướng biển.

2. Văn hóa là nguồn lực phát triển đô thị

Không gian phát triển được mở rộng tạo điều kiện để Đà Nẵng kết nối các thành tố văn hóa của đất Quảng trong một chỉnh thể thống nhất. Hệ thống di sản, cảnh quan, làng nghề, không gian cộng đồng và các trung tâm đô thị không chỉ tạo nên chiều sâu lịch sử mà còn có thể trở thành những nguồn lực nội sinh quan trọng. Khai thác hợp lý các nguồn lực này sẽ góp phần nâng cao chất lượng sống, củng cố đặc trưng văn hóa, gia tăng sức hấp dẫn và năng lực cạnh tranh của thành phố.

Hoàn thiện thể chế và bảo đảm nguồn lực cho văn hóa

Cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách và tăng cường đầu tư cho lĩnh vực văn hóa phù hợp với định hướng phát triển của thành phố. Đầu tư cho văn hóa không chỉ hướng đến gìn giữ di sản mà còn góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện môi trường sống và tạo nền tảng cho năng lực cạnh tranh lâu dài.

Bên cạnh ngân sách nhà nước, cần huy động đa dạng các nguồn lực thông qua hợp tác công - tư, xã hội hóa, các quỹ hỗ trợ và những hình thức tài trợ phù hợp, đúng pháp luật. Nguồn vốn nên được tập trung cho tu bổ di tích, bảo vệ cảnh quan văn hóa, tư liệu hóa, nghiên cứu khoa học và hỗ trợ những chủ thể trực tiếp thực hành, truyền dạy văn hóa. Cách tiếp cận này giúp di sản tiếp tục gắn với đời sống xã hội, thay vì chỉ tồn tại như đối tượng trưng bày hoặc sản phẩm phục vụ du lịch.

Bảo tồn di sản dựa vào cộng đồng

Cộng đồng cần được xác định là chủ thể quan trọng trong việc gìn giữ và tiếp nối di sản. Việc thực hành văn hóa chỉ có thể duy trì lâu dài khi người dân thật sự tham gia, có quyền quyết định phù hợp và được hưởng lợi chính đáng từ các hoạt động khai thác, quảng bá. Do đó, cần hỗ trợ cư dân về không gian sản xuất, truyền nghề, xây dựng hình ảnh sản phẩm, bảo hộ sở hữu trí tuệ và tổ chức các mô hình du lịch trải nghiệm phù hợp với điều kiện địa phương. Đối với các dân tộc thiểu số, cần đặc biệt tôn trọng quyền chủ thể văn hóa, tạo điều kiện để phong tục, nghi lễ, tri thức dân gian và nghề truyền thống tiếp tục được thực hành trong môi trường xã hội vốn có. Việc khai thác phục vụ du lịch cần tránh giản lược các thực hành văn hóa thành những màn trình diễn tách khỏi bối cảnh sinh hoạt của cộng đồng.

Phát triển công nghiệp văn hóa và sáng tạo

Không gian đô thị mở rộng tạo thêm điều kiện liên kết di sản với các ngành công nghiệp văn hóa và lĩnh vực sáng tạo. Mạng lưới này có thể kết nối Phong Lệ, Ngũ Hành Sơn, Hội An, Mỹ Sơn với hệ thống làng cổ, làng nghề, di tích lịch sử và các không gian văn hóa trải dài từ miền núi, trung du đến đồng bằng, duyên hải. Trên nền tảng đó, Đà Nẵng có thể phát huy lợi thế về hạ tầng, công nghệ, giáo dục và nhân lực để thúc đẩy các lĩnh vực như thiết kế, điện ảnh, âm nhạc, truyền thông, xuất bản và các ngành sáng tạo mới.

Cùng với đó, số hóa tư liệu, xây dựng cơ sở dữ liệu di sản, bảo tàng số và các nền tảng trải nghiệm ứng dụng công nghệ sẽ mở rộng khả năng nghiên cứu, giáo dục, tiếp cận và quảng bá di sản. Mối quan hệ giữa di sản và công nghiệp sáng tạo cần được tổ chức theo hướng tương hỗ: di sản cung cấp chất liệu và chiều sâu lịch sử cho hoạt động sáng tạo; ngược lại, công nghệ và các ngành sáng tạo đem đến phương thức mới để lưu giữ, diễn giải và lan tỏa những thành tố văn hóa đến công chúng.

Xây dựng hình ảnh đô thị có chiều sâu văn hóa

Đà Nẵng có điều kiện thuận lợi để kết hợp di sản, cảnh quan, nghệ thuật và năng lực sáng tạo, từ đó hình thành một hệ sinh thái văn hóa mang dấu ấn riêng. Các lễ hội, chương trình nghệ thuật, âm nhạc, điện ảnh và thiết kế có thể góp phần nâng cao sức hấp dẫn và khả năng nhận diện của thành phố. Tuy nhiên, định vị hình ảnh đô thị không nên chỉ dựa vào số lượng sự kiện hay lượng khách du lịch, mà cần được xây dựng trên nền tảng lịch sử, cảnh quan và đời sống văn hóa lâu dài của vùng đất.

Vì thế, cần tạo dựng hình ảnh Đà Nẵng từ sự kết hợp hài hòa giữa thiên nhiên, lịch sử, di sản, đời sống cộng đồng và sức sáng tạo đương đại. Trong tiến trình ấy, người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn là chủ thể tham gia kiến tạo, gìn giữ và truyền tải những đặc trưng văn hóa của thành phố. Khi văn hóa được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với đời sống đô thị, kinh tế và sáng tạo, Đà Nẵng có thể hình thành một diện mạo hiện đại nhưng vẫn giữ được chiều sâu lịch sử và sự tiếp nối của không gian văn hóa đất Quảng.

Đưa văn hóa trở thành nguồn lực phát triển đô thị không đồng nghĩa với thương mại hóa di sản, mà trước hết là ban hành những cơ chế phù hợp để các thành tố văn hóa được gìn giữ, thích ứng và tiếp tục sống trong đời sống đương đại. Khi chính sách về di sản, công nghiệp văn hóa và xây dựng hình ảnh đô thị được triển khai đồng bộ, những nguồn lực tích lũy qua lịch sử có thể được chuyển thành động lực kinh tế - xã hội, đồng thời nâng cao sức hấp dẫn và năng lực cạnh tranh của thành phố. Đó là cơ sở để Đà Nẵng hướng tới một đô thị hiện đại, năng động và sáng tạo, đồng thời giữ được mạch liên tục của lịch sử, văn hóa và bản sắc đất Quảng.

H.X.T