Thành tố “bàu” trong tên làng xã Quảng Nam xưa

03.11.2026
Vân Trình

Thành tố “bàu” trong tên làng xã Quảng Nam xưa

Làng Thanh Đơn (thuộc xã Vu Gia) vốn có tên là Bàu Đơn.

Từ xa xưa, “bàu” đã là thành tố quan trọng làm nên xã/thôn/ ấp hiệu của nhiều làng xã xứ Quảng, không chỉ thể hiện đặc trưng của làng mà còn là dấu ấn của một quá trình khai khẩn lập làng đầy gian lao nhưng rất đỗi tự hào của lưu dân Việt...

Khi “bàu” trở thành tên làng

Theo sách Công cuộc khai khẩn và phát triển làng xã ở Bắc Quảng Nam - Đà Nẵng từ giữa thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVIII của cố TS. Huỳnh Công Bá, ở Quảng Nam xưa, bàu được hình thành do quá trình bị bồi lấp của các dòng sông nhánh. Chẳng hạn trên đồng bằng Ô Gia - Thu Bồn, quá trình này tạo thành các bàu, hói như: bàu Mặn, bàu Tròn, bàu Tôm…

Hệ thống bàu từ xa xưa là nơi dự trữ nước ngọt, cung cấp nước tưới chủ yếu cho hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân địa phương. Vốn là một từ chỉ địa hình tự nhiên (danh từ chung, không viết hoa), “bàu” trở thành một thành tố của tên làng (danh từ riêng, viết hoa) khi gắn liền với quá trình khai phá gian khổ, cải tạo bền bỉ của lưu dân Việt, biến nhiều bàu nước hoang vu trở thành “bờ xôi, ruộng mật”.

Làng Thanh Đơn thuộc tổng Quảng Hòa, phủ Duy Xuyên (nay thuộc xã Vu Gia) vốn có tên là Bàu Đơn, là một làng thuộc dạng này. Đây vốn là một bàu nước, có tên là bàu Đơn, đang trong quá trình bồi tụ. Do đất trũng thấp, suốt cả mùa mưa, làng bị chìm trong vũng nước tù. Giữa vũng nước đó nhô lên vài chỗ cao là khu vực cư trú của dân làng, liên tục được bồi đắp, sửa sang để làm nhà ở. Việc đi lại trong mùa mưa phải sử dụng ghe đò. Ruộng ở đây chỉ làm được một mùa (mùa nắng) và chủ yếu trồng khoai. Đối với những chỗ sâu, người ta trồng sen hoặc thả rau muống. Khó khăn lớn nhất của người dân là mùa tháng Năm hay bị mất vì lũ tiểu mãn, và mùa tháng Mười lũ chính làm mất lúa gieo.

Theo công trình Nghiên cứu Địa bạ triều Nguyễn (đời Gia Long) của nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, “bàu” là một trong số 26 chữ phổ biến nhất liên quan đến tên đầu của 674 làng trong tổng số 1.046 làng của dinh Quảng Nam.

Qua thống kê thì thấy có cả thảy 28 làng bắt đầu bằng chữ “Bàu”: Bàu Nảy, Bàu Bàng Tây, Bàu Cau, Bàu Tre, Bàu Rơi… thuộc 2 phủ Điện Bàn và Thăng Hoa, phân bố ở 4 huyện: Diên Khánh (9 làng), Hòa Vang (8 làng), Duy Xuyên (8 làng), Lễ Dương (3 làng). Phần lớn tên gọi các làng bắt đầu bằng chữ “bàu” được ghi chép trong Địa bạ Gia Long có cấu tạo 2 âm tiết (17 làng) và 3 âm tiết (9 làng), chỉ có 2 làng cấu tạo 4 âm tiết (Bàu Nhân tứ chánh, Bàu Ao tứ chánh).

Làm đẹp tên làng

Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng, trước khi được đặt tên chữ Hán Việt, nhiều làng xã ở Quảng Nam xưa, trong đó có những làng mang thành tố “bàu”, được đặt tên Nôm dân dã, mang tính trực quan cao, xuất phát từ đặc thù về cảnh quan, môi trường sinh thái trong quá trình khai khẩn lập làng. Ví như ở làng Trước Bàu hay Trúc Bàu (nay thuộc xã Bà Nà), tương truyền ngày trước có hai vị tiền hiền họ Lưu và họ Ngô đến khai cơ lập nghiệp, quy dân lập ấp quanh một vùng đất ba mặt giáp núi, riêng phía Đông Nam giáp một bàu nước dài khoảng 20 sải tay được che chắn vững chãi bởi hai lũy tre lớn. Vì thế, người xưa đặt tên nơi này là Bàu Tre 1. Còn xã Bàu Bèo, thuộc tổng Phú Mỹ Trung, huyện Lễ Dương trước kia, được đặt do làng này có bàu nước với rất nhiều bèo...

Tên làng Bàu Tròn (xã Đại Lộc) vẫn được bảo tồn cho đến nay.

Sự kiện đáng chú ý là, cách đây gần tròn 2 thế kỷ, một số tên làng mang thành tố “bàu” đã được mang tên chữ Hán Việt có nghĩa tương ứng, có âm gần gũi hoặc đổi dùng các mỹ tự thay thế. Về việc này, Đại Nam thực lục chính biên chép rằng, năm Minh Mệnh thứ 5 (1824), mùa xuân, tháng 2 nhà vua “lại sai bộ Hộ xét danh hiệu các tổng xã thôn phường ở các địa phương, những tên Nôm và mặt chữ không nhã, thì bàn định đổi đi”.

Theo nhà nghiên cứu Lê Thị Mai, đợt này dinh Quảng Nam có 99 địa danh thay đổi, trong đó có 19 địa danh có thành tố “bàu”, thuộc 5 huyện: Duy Xuyên (2 địa danh), Lễ Dương (2 địa danh), Diên Phước (4 địa danh), Phú Châu (1 địa danh), Hòa Vang (6 địa danh) và 2 “thuộc”1: Hội Nguyên Sơn (1 địa danh), Hoa Châu (3 địa danh). Có thể nhận thấy, thành tố “bàu” đã biến mất hoàn toàn khỏi tên làng. Nhiều địa danh mới được bộ Hộ đặt rất sát hợp với tên làng cũ, bảo lưu được ở đó phần nào ý nghĩa ban đầu của tên làng như Trúc Bào, Thạch Khê, An Trạch, Hoa Đán, Bào Dư... Song, cũng có một số địa danh mới tuy “nhã” hơn nhưng trở nên xa lạ với dân làng: Hoa Cao, Hoa Tú, An Nghĩa...

Điều ngạc nhiên là mặc dù triều Nguyễn thời Minh Mạng quy định rất nghiêm ngặt về việc đổi tên làng, ấy thế mà chỉ mấy chục năm sau đó, theo Đồng Khánh địa dư chí, chữ “bàu” vẫn đường hoàng tồn tại trong tên một số làng xã như Bàu Bàng Tây, Bàu Bàng Tân (tổng Đại An Thượng); Bàu Luân, Bàu Luân Tây, Bàu Nghi Tây, Bàu Nghi Đông (tổng Mỹ Hòa Trung) của huyện Diên Phước2. Phải chăng “phép vua thua lệ làng” hay đây là bằng chứng sinh động về sức sống khá mãnh liệt của tên Nôm từng một thời gắn bó thân thiết với làng xã?

Đến nay, đáng trân trọng là trải qua bao biến thiên của lịch sử, qua nhiều lần phải “thay tên đổi họ”, một số làng ở xứ Quảng vẫn giữ lại được tên Nôm dân dã, thân thương như Bàu Tròn, Bàu Ấu, Bàu Bính, Trước Bàu... Âu đó cũng là một cách thiết thực và giản dị để gợi nhớ quá khứ, gìn giữ hồn quê và cũng là chỉ dấu về văn hóa truyền thống, biểu đạt niềm tự hào chính đáng của mỗi thành viên trong cộng đồng làng xã đương đại. Bởi, tên làng không đơn thuần là tên gọi hành chính, mà ẩn chứa trong đó nhiều trầm tích văn hóa, lịch sử cùng những biến thiên của thời cuộc.

V.T

1. Văn Thành Lê, “Chuyện xưa Trước Bàu”, https://baodanang.vn/chuyen-xua-truoc-bau-3233231. html.

2. Thuộc là đơn vị hành chính đặc biệt trong hệ thống đơn vị hành chính các cấp ở Đàng Trong thời Chúa Nguyễn, tiếp tục tồn tại thời Tây Sơn cho đến đầu triều Nguyễn.

3. Lê Thị Mai, “Lần thay đổi địa danh làng xã năm Minh Mệnh thứ 5 (1824) - Trường hợp dinh Quảng Nam”, Tạp chí Khoa học và công nghệ Đại học Đà Nẵng, số 3 (112)- 2017- Quyển 2, tr.62 - 63.