Người Đà Nẵng với những con đường mang tên các danh nhân tuổi Ngọ

Danh nhân văn hoá Lê Quý Đôn được Đà Nẵng đặt tên cho các đường phố ở phường Hải Châu, phường Hội An, phường Bàn Thạch… và nhiều trường học, trong đó có Trường Trung học phổ thông chuyên Lê Quý Đôn.
Trước hết là danh nhân văn hoá Lê Quý Đôn sinh năm Bính Ngọ 1726, quê huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, nay thuộc xã Lê Quý Đôn tỉnh Hưng Yên, uyên bác đến mức được người đương thời ca tụng: “Thiên hạ vô tri vấn Bảng Đôn” - nghĩa là mọi người trong thiên hạ ai không hiểu việc gì, muốn hỏi thì gặp Bảng nhãn Lê Quý Đôn. Nhà sử học Phan Huy Chú đánh giá Lê Quý Đôn: “Ông có tư chất khác đời, thông minh hơn người mà (vẫn) giữ tính nết thuần hậu, lại chăm học không biết mỏi. Tuy đỗ đạt vinh hiển, tay vẫn không rời quyển sách. Bình sinh (ông) làm sách rất nhiều. Bàn về kinh sử thì sâu sắc, rộng rãi, mà nói về điển cố thì đầy đủ rõ ràng. Cái sở trường của ông vượt hơn cả, nổi tiếng trên đời”. Giáo sư Tiến sĩ Shimizu Masaaki - Đại học Osaka Nhật Bản từng so sánh Bảng nhãn Lê Quý Đôn với nhà ngôn ngữ nổi tiếng Nhật Bản - nhà Quốc học Motoori Norinaga (1730-1801): “Lê Quý Đôn là người Việt Nam đầu tiên coi ngôn ngữ, văn tự là đối tượng để suy nghĩ, nhận thức. Ông là người đề xuất phương pháp nghiên cứu tiếng Việt đầu tiên trong lịch sử khoa học Việt Nam”.
Đóng góp lớn nhất của Bảng nhãn Lê Quý Đôn đối với thành phố Đà Nẵng là đã dày công biên soạn bộ sách Phủ biên tạp lục gồm 6 quyển, hoàn thành vào năm Bính Thân 1776 khi ông đang thực thi công vụ ở Thuận Hoá, ghi chép về tình hình xã hội Đàng Trong từ thế kỷ XVIII trở về trước. Ngày 31 tháng 10 năm 2025, kỳ họp lần thứ 43 Đại hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) tổ chức tại thành phố Samarkand (Cộng hòa Uzbekistan) đã thông qua Nghị quyết vinh danh và cùng tham gia kỷ niệm 300 năm ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (1726-2026). Người Đà Nẵng đã vinh danh Lê Quý Đôn không chỉ qua việc đặt tên ông cho các đường phố ở phường Hải Châu, phường Hội An, phường Bàn Thạch… mà còn đặt tên ông cho nhiều trường học, trong đó có Trường Trung học phổ thông chuyên Lê Quý Đôn.
Danh nhân tiếp theo sinh năm Bính Ngọ 1726 là nhà sử học Ngô Thì Sĩ, quê huyện Thanh Trì, nay thuộc phường Thanh Liệt thành phố Hà Nội, là thân phụ của Ngô Thì Nhậm (đã được đặt tên đường trên địa bàn Đà Nẵng), Ngô Thì Chí, Ngô Thì Trí (đã được đặt tên đường trên địa bàn Đà Nẵng) và Ngô Thì Hương; là nhạc phụ của Phan Huy Ích (đã được đặt tên đường trên địa bàn Đà Nẵng) và là ông ngoại của nhà sử học Phan Huy Chú (đã được đặt tên đường trên địa bàn Đà Nẵng). Trong các trước tác của Hoàng giáp Ngô Thì Sĩ, đáng chú ý hơn cả là tác phẩm phê bình lịch sử Việt sử tiêu án, hoàn thành năm Ất Mùi 1775, đề cập lịch sử Việt Nam từ thời thượng cổ Hồng Bàng đến giai đoạn ngoại thuộc nhà Minh. Người Đà Nẵng đã vinh danh Ngô Thì Sĩ qua việc đặt tên ông cho một đường phố ở phường Ngũ Hành Sơn.
Danh nhân sinh năm Bính Ngọ 1906 là nhà cách mạng Hoàng Văn Thụ, người dân tộc Tày, quê huyện Văn Lãng, nay thuộc xã Hoàng Văn Thụ tỉnh Lạng Sơn, Uỷ viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, Bí thư Xứ uỷ Bắc Kỳ, hy sinh năm Giáp Thân 1944, là chồng chưa cưới của Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân Hoàng Ngân hy sinh năm 1949 (đã được đặt tên đường trên địa bàn Đà Nẵng). Năm 1926, khi đang học Trường Tiểu học Pháp-Việt Lạng Sơn, Hoàng Văn Thụ đã tham gia lễ truy điệu cụ Phan Châu Trinh. Người Đà Nẵng đã vinh danh Hoàng Văn Thụ không chỉ qua việc đặt tên ông cho các đường phố ở phường Hải Châu mà còn đặt tên ông cho nhiều trường học. Danh nhân tiếp theo sinh năm Bính Ngọ 1906 là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Bình, quê xã Nguyễn Văn Linh tỉnh Hưng Yên, được phong quân hàm Trung tướng từ năm 1948, hy sinh năm Tân Mão 1951. Người Đà Nẵng đã vinh danh Nguyễn Bình qua việc đặt tên ông cho một đường phố ở phường Hoà Cường. Một danh nhân nữa cũng sinh năm Bính Ngọ 1906 là nhà cách mạng Phạm Văn Đồng, quê xã Mộ Đức tỉnh Quảng Ngãi. Trong kháng chiến chống Pháp, nhà cách mạng Phạm Văn Đồng được cử làm Đặc phái viên của Trung ương Đảng và Chính phủ tại Nam Trung Bộ. Liên tục từ tháng 9 năm 1955 đến năm 1987, nhà cách mạng Phạm Văn Đồng được giao giữ chức Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và chức Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Người Đà Nẵng đã vinh danh Phạm Văn Đồng qua việc đặt tên ông cho các đường phố ở phường Sơn Trà, phường Hội An Tây, xã Núi Thành…
Tiếp nữa là các danh nhân sinh năm Mậu Ngọ: Thứ nhất là nhà yêu nước Hoàng Hoa Thám sinh năm Mậu Ngọ 1858, quê xã Hoàng Hoa Thám tỉnh Hưng Yên, thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa Yên Thế chống thực dân Pháp - cuộc khởi nghĩa nông dân oanh liệt và kéo dài nhất trong lịch sử Việt Nam lúc bấy giờ, hy sinh năm Quý Sửu 1913. Năm 1905, Phan Châu Trinh và Ông Ích Đường đã lên tận Phồn Xương để đàm đạo về chính sự với “Hùm thiêng Yên Thế” Hoàng Hoa Thám. Người Đà Nẵng đã vinh danh Hoàng Hoa Thám không chỉ qua việc đặt tên ông cho các đường phố ở phường An Hải, mà còn đặt tên ông cho nhiều trường học. Thứ hai là nhà thư tịch học Trần Văn Giáp sinh năm Mậu Ngọ 1898, quê xã Hải Hưng thành phố Hải Phòng. Công trình thư tịch học xuất sắc nhất của Trần Văn Giáp là Tìm hiểu kho sách Hán Nôm - Tập I được Thư viện Quốc gia xuất bản năm 1971, Tập II được Nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản vào năm 1990, và đến năm 2000 Tìm hiểu kho sách Hán Nôm của Trần Văn Giáp được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học xã hội. Người Đà Nẵng đã vinh danh Trần Văn Giáp qua việc đặt tên ông cho một đường phố ở phường Hoà Cường.
Thứ ba là nhà thơ Nguyễn Bính sinh năm Mậu Ngọ 1918 (và qua đời vào năm Bính Ngọ 1966), quê xã Minh Tân tỉnh Ninh Bình. Nguyễn Bính được xem là thi sĩ của đồng quê - nhưng khác với nhà thơ Đoàn Văn Cừ đi sâu vào cảnh quê, Nguyễn Bính chủ yếu tập trung vào người quê. Năm 2000, Nguyễn Bính được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật với các tập thơ Gửi người vợ miền Nam, Đêm sao sáng, Nước giếng thơi và Lỡ bước sang ngang. Người Đà Nẵng đã vinh danh Nguyễn Bính qua việc đặt tên ông cho một đường phố ở trên địa bàn hai phường An Khê và Hoà Khánh. Thứ tư là Nhà giáo Nhân dân Lê Trí Viễn sinh năm Mậu Ngọ 1918, quê xã Điện Bàn Tây thành phố Đà Nẵng. Năm 2012, Giáo sư Lê Trí Viễn được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học Xã hội với cụm công trình Nghiên cứu, phê bình văn học trung đại Việt Nam và ngữ văn Hán Nôm. Người Đà Nẵng đã vinh danh Lê Trí Viễn qua việc đặt tên ông cho các đường phố ở phường Ngũ Hành Sơn, phường Hương Trà, phường Điện Bàn Đông…
Tiếp nữa là các danh nhân sinh năm Canh Ngọ. Đầu tiên phải kể tới Danh y Tuệ Tĩnh sinh năm Canh Ngọ 1330, quê xã Cẩm Vũ huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương, nay thuộc xã Tuệ Tĩnh thành phố Hải Phòng, nổi tiếng với quan điểm y học Nam dược trị Nam nhân và là tác giả bộ sách y học cổ truyền nhan đề Nam dược thần hiệu được khắc in năm Đinh Dậu 1717. Danh y Tuệ Tĩnh cũng là một trường hợp “chảy chất xám” của nước ta: Năm Ất Sửu 1385, nhà Minh sai sứ nước ta sang đòi cống nạp 20 tăng nhân Đại Việt, trong đó chỉ định đích danh Tuệ Tĩnh - do thời điểm này y thuật và tài năng của Tuệ Tĩnh đã vang danh bốn cõi, và suốt 15 năm đất khách quê người sau đó, Tuệ Tĩnh buộc phải làm việc trong viện Thái Y của nhà Minh, được vua nhà Minh phong Đại Y Thiền sư. Năm Canh Thìn 1400, Tuệ Tĩnh qua đời ở tỉnh Giang Nam Trung Quốc, trên bia mộ còn ghi dòng chữ “Ai về nước Nam, cho tôi về với”. Người Đà Nẵng đã vinh danh Tuệ Tĩnh qua việc đặt tên ông cho các đường phố ở phường Hải Châu, phường Hội An Tây, phường Tam Kỳ…
Danh nhân thứ hai là nhà sử học Vũ Quỳnh sinh năm Canh Ngọ 1450, quê xã Tân Hồng huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương, nay thuộc xã Đường An thành phố Hải Phòng - người có công nhuận đính sách Lĩnh Nam chích quái vào năm Nhâm Tý 1492 và biên soạn bộ sử Đại Việt thông giám thông khảo vào năm Tân Mùi 1511. Người Đà Nẵng đã vinh danh Vũ Quỳnh qua việc đặt tên ông cho một đường phố ở phường Thanh Khê. Danh nhân thứ ba là nhà thơ Phan Huy Ích sinh cuối năm Canh Ngọ - đầu năm 1751 (và qua đời vào năm Nhâm Ngọ 1822), quê gốc xã Thạch Châu huyện Lộc Hà, nay thuộc xã Mai Phụ tỉnh Hà Tĩnh, là thân sinh của Phan Huy Thực và Phan Huy Chú (đều được đặt tên đường trên địa bàn Đà Nẵng). Phan Huy Ích là người đã dịch tác phẩm chữ Hán Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn ra chữ Nôm với nhan đề Chinh phụ ngâm diễn âm tân khúc do Chính Trực đường xuất bản năm Ất Hợi 1815. Người Đà Nẵng đã vinh danh Phan Huy Ích qua việc đặt tên ông cho các đường phố ở phường An Hải, phường Hương Trà…
Danh nhân thứ tư là nhà thơ trào phúng Trần Tế Xương sinh năm Canh Ngọ 1870, quê phường Nam Định tỉnh Ninh Bình, đỗ tú tài khoa thi năm Giáp Ngọ 1894 nên thường được gọi là Tú Xương. Khi Tú Xương qua đời vào cuối năm Bính Ngọ - đầu năm 1907, nhà thơ Nguyễn Khuyến có viếng câu đối, được người đời sau chép lại và cho khắc lên mặt sau tấm bia ở mộ ông: “Kìa ai chín suối xương không nát/ Có lẽ nghìn thu tiếng vẫn còn”. Trong không gian ngoài trời ở Bảo tàng Văn học Việt Nam ngoài Hà Nội, có trưng bày bức tượng toàn thân của Tú Xương tay cầm sách, chân gác lên phiến đá bên đường, do nhà điêu khắc Trần Văn Thức sáng tác. Người Đà Nẵng đã vinh danh Tú Xương qua việc đặt tên ông cho các đường phố ở phường Hải Châu, phường Hội An Đông…
Danh nhân thứ năm là nhà yêu nước Trần Quý Cáp sinh năm Canh Ngọ 1870, quê xã Điện Bàn Tây thành phố Đà Nẵng, là một trong ba thủ lĩnh của Phong trào Duy Tân đất Quảng đầu thế kỷ XX (cùng với Phan Châu Trinh và Huỳnh Thúc Kháng). Hoạt động khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh của Trần Quý Cáp với tư cách Giáo thụ phủ Thăng Bình đã khiến thực dân Pháp và Nam triều đương thời không thể không điệu hổ ly sơn, không thể không chuyển Trần Quý Cáp ra khỏi điểm nóng Quảng Nam, không thể không điều động ông giáo thụ phủ Thăng Bình vào làm giáo thụ phủ Ninh Hòa nước non ngàn dặm; và chỉ mấy tháng sau, sự kiện Trung Kỳ dân biến năm Mậu Thân 1908 là “giọt nước tràn ly” để thực dân Pháp và Nam triều kết án tử hình Trần Quý Cáp. Nhà yêu nước Trần Quý Cáp có nhiều gắn bó với thành phố Đà Nẵng, từng về làng Cẩm Nê (nay thuộc xã Hoà Tiến) để trực tiếp xây dựng nông hội và chính thành công của Nông hội Cẩm Nê đã gợi hứng cho ông sáng tác bài ca trù Khuyến nông nổi tiếng. Và cũng có lần Trần Quý Cáp từ Nông hội Cẩm Nê vượt sông Yên sang thăm trường tân học Cẩm Toại (nay thuộc xã Hoà Vang) và đã mời thầy giáo - học trò Lâm Nhĩ của trường Cẩm Toại đến giảng chuyên đề về dân tộc Chăm tại trường tân học Diên Phong bên Phong Thử (nay thuộc xã Điện Bàn Tây).
Khi nghe tin Trần Quý Cáp thụ án trảm yêu hậu/ chém ngang lưng, đang bị giam tại Nhà lao Hội An, Huỳnh Thúc Kháng đã khóc người đồng chí, đồng hương thân thiết của mình bằng một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật, trong đó hai câu kết nhắc lại khoảnh khắc hai thủ lĩnh của Phong trào Duy Tân đất Quảng chia tay nhau ở bến cảng Đà Nẵng bên tả ngạn sông Hàn: Khả liên nhất biệt thành thiên cổ/ Đà Nẵng phân khâm tửu thượng ôn - Chia tay chén rượu còn đương nóng/ Đà Nẵng đưa nhau lúc xuống thuyền… Bến cảng này cũng là nơi Trần Quý Cáp sáng tác bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật Đà Nẵng cảm hoài với khát vọng Bạch Đằng giang đánh tan quân xâm lược: An năng tái khởi Trần Hưng Đạo/ Cộng vãn Đằng giang vĩ đại công - Khương Hữu Dụng dịch: Ước chi sống lại Trần Hưng Đạo/ Cùng lập Đằng giang trận thứ hai. Người Đà Nẵng đã vinh danh Trần Quý Cáp không chỉ qua việc đặt tên ông cho các đường phố ở phường Hải Châu, phường Hội An, phường Bàn Thạch… mà còn đặt tên ông cho nhiều trường học, trong đó nổi tiếng nhất là Trường Trung học phổ thông Trần Quý Cáp ở phường Hội An…
Danh nhân thứ sáu là nhà thơ Lưu Trùng Dương sinh năm Canh Ngọ 1930, quê ở phường Hoà Cường thành phố Đà Nẵng, em ruột nhà viết kịch Lưu Quang Thuận, chú ruột nhà viết kịch Lưu Quang Vũ (đều được đặt tên đường trên địa bàn Đà Nẵng)… Thơ Lưu Trùng Dương từng được đưa vào giảng dạy trong các trường học thời kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, như bài thơ Thương nhất anh nuôi được đưa vào giảng dạy ở bậc Trung học từ những năm 1950 (trong sách giáo khoa do nhà giáo Huỳnh Lý biên soạn, Sở Giáo dục Nam Trung bộ ấn hành); hay như bài thơ Ngày về được giảng dạy ở Trường Trung học Lê Khiết ở Quảng Ngãi thời chống Pháp; hay như bài thơ Đáng sống bao nhiêu một ngày vì cách mạng được đưa vào sách giáo khoa lớp 7 và bài thơ Chào mừng kế hoạch 3 năm được đưa vào sách giáo khoa lớp 9 hệ 10 năm ở miền Bắc thời chống Mỹ; hay như bài thơ Giữa quê hương Bác được đưa vào giáo trình của Trường Đại học Vinh... Lưu Trùng Dương còn sáng tác rất nhiều thơ văn về quê hương Đà Nẵng như truyện thơ Như hòn Non Nước (1972), tập thơ Trên đỉnh Núi Thành ta hát (1983), tập thơ Bài ca người Đà Nẵng (2000)… Hai câu thơ về Đà Nẵng của Lưu Trung Dương: Hỡi Ngũ Hành Sơn đang cùng ta tiến bước/ Hỡi sông Hàn đang cuộn sóng Bạch Đằng Giang dường như vang vọng khí phách Trần Quý Cáp năm nào: An năng tái khởi Trần Hưng Đạo/ Cộng vãn Đằng giang vĩ đại công. Lưu Trùng Dương từng giữ chức Bí thư Đảng đoàn, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng; được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật vào năm 2012. Người Đà Nẵng đã vinh danh Lưu Trùng Dương qua việc đặt tên ông cho một đường phố ở phường Ngũ Hành Sơn.
Danh nhân thứ bảy là nhà văn Phan Tứ sinh năm Canh Ngọ 1930, quê xã Quế Sơn thành phố Đà Nẵng, là cháu ngoại nhà yêu nước Phan Châu Trinh và là con trai nhà giáo Lê Ấm (đều được đặt tên đường trên địa bàn Đà Nẵng). Phan Tứ từng ký bút danh bằng tên thật là Lê Khâm và từ cuối thập niên 1950, khi còn là sinh viên Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, nhà văn Lê Khâm đã nổi tiếng với hai tác phẩm xuất sắc lần đầu tiên viết về tình hữu nghị Việt-Lào: Tiểu thuyết Trước giờ nổ súng (xuất bản năm 1958) và tiểu thuyết Bên kia biên giới (xuất bản năm 1960). Vào chiến trường miền Nam, ký bút danh Phan Tứ, ông tiếp tục thành danh với các tiểu thuyết Gia đình má Bảy (xuất bản năm 1968), Mẫn và tôi (xuất bản năm 1972)… Trước khi qua đời, Phan Tứ còn đang viết dở dang tập 4 trong bộ tiểu thuyết nhiều tập Người cùng quê… Nhà văn Phan Tứ từng giữ chức Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng; được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật vào năm 2000. Người Đà Nẵng đã vinh danh Phan Tứ qua việc đặt tên ông cho một đường phố ở phường Ngũ Hành Sơn và Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Đà Nẵng có một quỹ khuyến học mang tên Phan Tứ dành cho các sinh viên ưu tú của các khoa Ngữ văn-Truyền thông, Sử-Địa-Chính trị, Giáo dục Nghệ thuật-Thể chất.
Tiếp nữa là các danh nhân sinh năm Nhâm Ngọ. Đầu tiên là danh nhân văn hoá Nguyễn Đình Chiểu sinh năm Nhâm Ngọ 1822, quê gốc ở phường Phong Thái thành phố Huế nhưng sinh ra ở Thành phố Hồ Chí Minh và cuối đời lại gắn bó với xã Ba Tri tỉnh Vĩnh Long, là thân sinh của nhà báo Sương Nguyệt Anh (đã được đặt tên đường trên địa bàn Đà Nẵng). Nguyễn Đình Chiểu ra Huế học để chờ ứng thí khoa thi Ất Dậu 1849 nhưng chưa kịp dự thi thì được tin mẹ mất, ông phải bỏ thi để trở về chịu tang mẹ, sau đó lâm bệnh nặng đến mù hai mắt. Nguyễn Đình Chiểu nổi tiếng với các truyện thơ Lục Vân Tiên, Dương Từ-Hà Mậu, Ngư Tiều vấn đáp y thuật và bài Văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc… Ngày 23 tháng 11 năm 2021, kỳ họp lần thứ 41 Đại hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) tổ chức tại thành phố Paris (Cộng hòa Pháp) đã thông qua Nghị quyết vinh danh và cùng tham gia kỷ niệm 200 năm ngày sinh Danh nhân văn hóa Nguyễn Đình Chiểu (1822-2022). Người Đà Nẵng đã vinh danh Nguyễn Đình Chiểu không chỉ qua việc đặt tên ông cho các đường phố ở phường Ngũ Hành Sơn, phường Hội An Tây, phường Tam Kỳ… mà còn đặt tên ông cho nhiều trường học, trong đó đáng chú ý là Trường Phổ thông Chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Đà Nẵng với đối tượng nuôi dạy không chỉ là trẻ em khiếm thị mà còn được mở rộng đến trẻ em khuyết tật nói chung.
Danh nhân thứ hai là nhà yêu nước Thái Phiên sinh năm Nhâm Ngọ 1822, quê phường An Khê thành phố Đà Nẵng, là chú ruột của nhà yêu nước Thái Thị Bôi (đã được đặt tên đường trên địa bàn Đà Nẵng). Thái Phiên cùng với người đồng hương Trần Cao Vân (đã được đặt tên đường trên địa bàn Đà Nẵng) là người khởi xướng cuộc vận động khởi nghĩa của Việt Nam Quang Phục hội Trung Kỳ mang tên vua Duy Tân vào năm Bính Thìn 1916. Cuộc vận động khởi nghĩa không thành công, Thái Phiên và Trần Cao Vân bị thực dân Pháp tử hình ở Huế. Người Đà Nẵng đã vinh danh Thái Phiên không chỉ qua việc đặt tên ông cho các đường phố ở phường Ngũ Hành Sơn, phường Hội An Tây, phường Tam Kỳ… mà còn đặt tên ông cho nhiều trường học, trong đó đáng chú ý là Trường Trung học phổ thông Thái Phiên ở phường Thanh Khê. Đáng chú ý là trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thành phố Đà Nẵng được mang tên Thái Phiên, tỉnh Quảng Nam được mang tên Trần Cao Vân. Hiện nay một câu lạc bộ cán bộ hưu trí ở Đà Nẵng cũng đang mang tên Câu lạc bộ Thái Phiên.
Cuối cùng là các danh nhân sinh năm Giáp Ngọ. Trước tiên là nhà văn Ngô Thì Hương sinh năm Giáp Ngọ 1774, quê phường Thanh Liệt thành phố Hà Nội, là con trai út của Ngô Thì Sĩ và là em trai của Ngô Thì Nhậm và Ngô Thì Trí (đều được đặt tên đường trên địa bàn Đà Nẵng). Mai dịch thú dư/Cỗ xe sứ trạm là tập ký sự bằng thơ chữ Hán Ngô Thì Hương ghi chép lại cuộc đi sứ Trung Quốc vào năm Kỷ Tỵ 1809. Người Đà Nẵng đã vinh danh Ngô Thì Hương qua việc đặt tên ông cho một đường phố ở phường Sơn Trà. Danh nhân thứ hai là nhà văn Ngô Tất Tố sinh năm Giáp Ngọ 1894 (và qua đời vào năm Giáp Ngọ 1954), quê xã Đông Anh thành phố Hà Nội, tác giả của tiểu thuyết Tắt đèn - “một tiểu thuyết có luận đề xã hội hoàn toàn phụng sự dân quê, một áng văn có thể gọi là kiệt tác, tùng lai chưa từng thấy” như đánh giá của nhà văn Vũ Trọng Phụng. Tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ I tổ chức vào năm 1948 tại chiến khu Việt Bắc, Ngô Tất Tố được bầu giữ chức Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Văn nghệ Việt Nam khoá I. Ngô Tất Tố được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật vào năm 1996.
*
Trong 20 danh nhân tuổi Ngọ được vinh danh trên các đường phố Đà Nẵng, có hai danh nhân văn hoá được UNESCO vinh danh là Lê Quý Đôn và Nguyễn Đình Chiểu; có một nhà văn được trao tặng Giải thưởng Nhà nước là Lưu Trùng Dương; có ba nhà thơ, nhà văn được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật là Nguyễn Bính, Ngô Tất Tố, Phan Tứ và hai nhà nghiên cứu được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học xã hội là Trần Văn Giáp, Lê Trí Viễn; có bốn người đều sinh ra và qua đời vào năm Ngọ là Phan Huy Ích, Nguyễn Bính, Trần Tế Xương và Ngô Tất Tố./.
B.V.T