Giao lưu văn hoá ở Quảng Nam thời các chúa Nguyễn

24.10.2026
Bùi Văn Tiếng
Theo nhiều nhà nghiên cứu thì thời các chúa Nguyễn trong mối quan hệ với Quảng Nam khởi đầu từ năm Mậu Ngọ 1558 khi con trai Nguyễn Kim là Nguyễn Hoàng xin được cử vào Nam giữ chức Trấn thủ Thuận Hoá.

Giao lưu văn hoá ở Quảng Nam thời các chúa Nguyễn

NNC Bùi Văn Tiếng - Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử thành phố Đà Nẵng phát biểu tham luận tại Hội thảo khoa học “Đô thị thương cảng Hội An và xứ Quảng trong hành trình 555 năm Danh xưng Quảng Nam (1471-2026)”.

Thực ra vào thời điểm này, Bùi Tá Hán (1496-1568) - người được xem là tiền hiền của trấn Quảng Nam, người có nhiều sáng tạo trong tổ chức giao lưu văn hoá Đại Việt-Champa - vẫn đương giữ chức Trấn thủ Quảng Nam; sau khi Bùi Tá Hán qua đời vào năm Mậu Thìn 1568, chức Trấn thủ Quảng Nam lại được giao cho Nguyễn Bá Quýnh người Nghệ An (1525-1613). Do vậy thời các chúa Nguyễn trong mối quan hệ với Quảng Nam chỉ nên tính từ năm Canh Ngọ 1570 khi Trấn thủ Thuận Hoá Nguyễn Hoàng được giao kiêm chức Trấn thủ Quảng Nam thay Trấn thủ Quảng Nam Nguyễn Bá Quýnh vừa được điều động ra giữ chức Trấn thủ Nghệ An, cho đến năm Đinh Dậu 1777 khi Định vương Nguyễn Phước Thuần bị Tây Sơn hành quyết.

Trong hơn hai trăm năm “hùng cứ một phương” này, các chúa Nguyễn với ý thức “Hoành Sơn nhất đới” đã kiến tạo xứ Đàng Trong thành một vùng đất phát triển với nhiều thành tựu về quảng-nam-mở-cõi không chỉ vào tận cực nam Nam Bộ mà còn ra tận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông; với nhiều thành tựu về ngoại thương - tiêu biểu là mô hình cảng thị Hội An; cùng với nhiều thành tựu về giao lưu văn hoá, đưa Quảng Nam - bao gồm ba phủ Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn - thành nơi khai sinh chữ Quốc ngữ, đưa Hội An thành trung tâm dung hợp văn hoá với phố Tàu và phố Nhật - cầu Nhật Bản từng được Quốc chúa Nguyễn Phước Chu đặt tên là Lai Viễn kiều (thể hiện trong bức hoành phi hiện được treo trên ngưỡng cửa vào miếu Bắc Đế Trấn Võ nằm về phía bắc Chùa Cầu) cực tả tinh thần khoan dung văn hoá của xứ Quảng. Bài viết này đi sâu nghiên cứu về vấn đề giao lưu văn hoá ở Quảng Nam thời các chúa Nguyễn.

*

Trước hết là giao lưu về tôn giáo. Thời các chúa Nguyễn, Ngũ Uẩn Sơn (năm thành tố cấu thành thanh tâm của con người theo quan niệm Phật giáo: Sắc Uẩn, Thọ Uẩn, Tưởng Uẩn, Hành Uẩn và Thức Uẩn)/Ngũ Chỉ Sơn (tức năm ngón tay của Đức Phật) đã trở thành một trong các trung tâm Phật giáo nổi tiếng ở Đàng Trong-chỉ sau trung tâm ở Thuận Hoá. Xin nói thêm, các tên gọi sáu ngọn núi Non Nước thời các chúa Nguyễn như Ngũ Uẩn Sơn/Ngũ Chỉ Sơn mang đậm bản sắc Phật giáo, khác với tên gọi sáu ngọn núi Non Nước thời các vua Nguyễn sau này là Ngũ Hành Sơn mang đậm dấu ấn Nho giáo.

Đáng chú ý là vào năm Ất Hợi 1695, Thiền sư Hưng Liên - Quả Hoằng người Trung Quốc thuộc thiền phái Tào Động - được chúa Nguyễn Phước Chu phong Quốc sư và đương trụ trì chùa Tam Thai ở Ngũ Uẩn Sơn/Ngũ Chỉ Sơn - đã trở về Quảng Đông Trung Quốc để chuyển thư của chúa Nguyễn Phước Chu cung thỉnh sư phụ mình là Hoà thượng Thạch Liêm/Thích Đại Sán đến Thuận Hoá và Quảng Nam. Với sự hỗ trợ của Thiền sư Hưng Liên, Hoà thượng Thích Đại Sán hoằng dương Phật pháp ở Thuận-Quảng từ mùa xuân năm Ất Hợi 1695 đến mùa hạ năm Bính Tý 1696 - trong thời gian này Thích Đại Sán đã viết sách Hải ngoại kỷ sự với lời đề tựa của chúa Nguyễn Phước Chu, trong đó có nhiều đoạn ghi chép về cảng thị cổ Hội An, về Tiêm Bích La/Cù Lao Chàm, về trung tâm Phật giáo Ngũ Uẩn Sơn/Ngũ Chỉ Sơn và về hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đương thời thuộc quyền quản lý trực tiếp của phủ Tư Nghĩa dinh Quảng Nam.

Đối với Công giáo, mặc dầu nhiều lần phải điều chỉnh chính sách nhằm đảm bảo yêu cầu an dân nhưng nhìn chung các chúa Nguyễn vẫn tích cực tạo điều kiện để Công giáo phát triển ở Đàng Trong, đặc biệt đã tạo điều kiện đưa dinh Quảng Nam trở thành nơi khai sinh chữ Quốc ngữ - một thứ chữ viết dùng bảng chữ cái Latin ghi âm tiếng Việt với mục đích ban đầu (xin nhấn mạnh - “mục đích ban đầu”) là làm công cụ giao tiếp nhằm dễ bề truyền đạo cho người bản xứ.

Đáng chú ý là với Từ điển Việt-Bồ-La/ Dictionarivm Annamiticvm-Lvsitanvm et Latinvm (trong đó có 8.000 từ tiếng Việt trung đại được dịch ra tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Latin - được xem là tập đại thành kết quả sáng chế chữ quốc ngữ của cả một tập thể giáo sĩ Công giáo phương Tây và giáo dân Công giáo người Quảng, mà công đầu thuộc về các giáo sĩ Francisco de Pina, Gaspar do Amaral và Antonio Barbosa người Bồ Đào Nha) của Alexandre de Rhodes/ A Lịch Sơn Đắc Lộ (1593-1660) xuất bản tại Roma vào năm 1651, lần đầu tiên văn hóa Việt Nam được quảng bá một cách hệ thống ra thế giới phương Tây.

Vào thời các chúa Nguyễn, còn có Từ điển Việt-La Tinh/ Nam Việt-Dương Hiệp Tự vị/ Dictionarium Anamitico-Latinum - từ điển song ngữ có chú thích bằng chữ Latin, chữ Quốc ngữ, chữ Nôm và chữ Nho - của Pigneau de Béhaine/ Bá Đa Lộc (1741-1799) được biên soạn từ năm 1773 nhưng đến năm 1838 mới được xuất bản tại Serampore Ấn Độ. Xin nói thêm, Nhật Bản phải mất 80 năm (1868-1946) giằng co giữa phương án Latin hoá hay cải cách chữ Kana truyền thống, và cuối cùng chữ Kana cải cách thắng thế chứ không phải chữ Latin hóa!

Ngoài ra tín ngưỡng thờ Quan Công/Quan Thánh Đế Quân cũng được du nhập vào Quảng Nam thời các chúa Nguyễn thông qua các lưu dân người Hoa làng Minh Hương - được xem là trung tâm tín ngưỡng của người Hoa ở Hội An [Nhà nghiên cứu Nguyễn Anh Huy từng tham luận về chủ đề Chúa Nguyễn với tín ngưỡng Quan Thánh tại Hội thảo quốc tế Giao lưu văn hóa tại các thương cảng quốc tế thời trung đại ở Việt Nam và Đông Nam Á tổ chức hồi tháng 7 năm 2019 tại Hội An]. 

Tiếp theo là giao lưu về nghệ thuật. Ngoài Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán, một số tác phẩm nghệ thuật ngôn từ của các tác giả phương Tây cũng góp phần quảng bá hình ảnh Quảng Nam/Đàng Trong ra thế giới, tiêu biểu như cuốn Tường trình về khu truyền giáo Đàng Trong 1631/Relatione della Nuova Missione delli PP. della Compagnia di Giesù nel Regno della Cocincina của nhà truyền giáo người Ý Cristophoro Borri (1583-1632) - tác phẩm đầu tiên của một tác giả châu Âu viết về xứ Đàng Trong và được dịch sang tiếng Pháp, Latin, Hà Lan, Đức, Anh vào những năm 1631-1633; hay như cuốn Miêu tả lịch sử xứ Đàng Trong của giáo sĩ người Tiệp Khắc Jean Koffler (bản dịch tiếng Pháp nhan đề Description Historique de la Cochinchine) - tác phẩm đầu tiên miêu tả khá đầy đủ các sinh hoạt cung đình chúa Nguyễn thời Võ vương Nguyễn Phước Khoát; hay như cuốn Ký ức về Đàng Trong/Mémoire sur La Cochinchine của giáo sĩ người Pháp Pierre Poivre (1719-1786) xuất bản ở Paris năm 1744, trong đó có đề cập về dinh lỵ Thanh Chiêm và về việc thực thi chủ quyền của dinh Quảng Nam tại quần đảo Hoàng Sa…

Quan hệ giao lưu Nhật-Việt nói chung và quan hệ giao lưu văn hoá Nhật-Việt nói riêng được thể hiện qua tranh cuộn Chaya Shinroku Kochi toko zukan/Trà Ốc Tân Lục Giao Chỉ độ hàng đồ quyển hiện đang tàng trữ tại chùa Jomyo ở Gen Chozan Nichiren Shu phố Tsutsui thành phố Nagoya tỉnh Aichi và qua tranh cuộn Shuin-sen Kochi toko zukan/Châu ấn thuyền Giao Chỉ độ hàng đồ quyển hiện đang tàng trữ tại Bảo tàng Quốc gia Kyushu ở tỉnh Fukuoka. Chùa Jomyo thành phố Nagoya cũng đang tàng trữ bức tranh Thác kiến Quan Thế Âm do chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên thỉnh từ chùa Tam Thai trên Ngũ Hành Sơn để tặng thương nhân Nhật Bản Araki Sotaro (năm 2010, các nhà sư chùa Jomyo đã làm một phiên bản Thác kiến Quan Thế Âm để trao tặng lại cho chùa Tam Thai). Về nội bộ Đại Việt, nghệ thuật tuồng/hát bội được Đào Duy Từ (1572-1634) mang từ Đàng Ngoài vào Đàng Trong, nhờ vậy đã đưa phủ Quy Nhơn dinh Quảng Nam trở thành một trong những chiếc nôi hàng đầu của nghệ thuật sân khấu truyền thống này [vào thời các vua Nguyễn, một hậu duệ của Đào Duy Từ là Đào Tấn (1845-1907) cũng có nhiều cống hiến lớn lao cho sự phát triển của nghệ thuật tuồng nước ta nói chung và nghệ thuật tuồng Bình Định nói riêng].

Tiếp nữa là giao lưu về văn hoá ẩm thực. Lưu dân Đại Việt vào định cư ở vùng đất mới Quảng Nam vốn xuất thân từ “văn hoá nước tương” - sản phẩm của văn hoá nông nghiệp - đã dần thích nghi với “văn hoá nước mắm” - sản phẩm của văn hoá ngư nghiệp - của người bản địa Champa, thậm chí như Nhà nghiên cứu Hồ Trung Tú từng nhận xét: “Người Quảng ai cũng biết làm mắm nhưng không ai biết làm xì dầu, còn gọi là nước tương, bằng cách ủ đậu nành lên men cho thành tương; và công đoạn lắng tương lấy nước có màu cánh gián thật trong là một bí quyết không phải ai cũng làm được, trong khi người Hoa thì ai cũng làm xì dầu được”[1]. Bên cạnh đó cao lầu đậm hương vị Trung Hoa - nói “đậm hương vị Trung Hoa” bởi có người cho rằng cao lầu không có xuất xứ từ Trung Hoa, cũng chẳng phải của Nhật Bản mà là món ăn được tổng hợp từ khẩu vị ẩm thực của nhiều dân tộc, trừ cái tên lạ tai “cao lầu” có lẽ bắt nguồn từ tiếng Hoa chỉ những món cao lương mỹ vị - cũng đã trở thành món ăn đặc sản được người Việt ở Hội An nói riêng, ở đất Quảng nói chung xem như một loại “mỳ Quảng” thứ hai.

Những thành tựu về giao lưu văn hoá ở Quảng Nam thời các chúa Nguyễn được người Quảng trân trọng kế thừa và phát triển từ đầu thế kỷ XIX cho đến ngày nay, trong đó đáng kể nhất là đã tiếp nhận và nâng chữ Quốc ngữ lên một tầm cao mới gần như chiếm vị trí độc tôn trong việc truyền bá tri thức. Phong trào Duy Tân đất Quảng đầu thế kỷ XX do “bộ ba Quảng Nam” Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng khởi xướng đã nhiệt tình cổ vũ chữ Quốc ngữ, đưa vào giảng dạy trong các nghĩa thục, làm cho Quảng Nam từ một chiếc nôi khai sinh chữ Quốc ngữ tiếp tục trở thành một nơi đi đầu quảng bá chữ Quốc ngữ. Trần Quý Cáp từng lên tiếng kêu gọi trong bài thơ Khuyên học chữ Quốc ngữ (sáng tác năm 1906): Chữ Quốc ngữ là hồn trong nước/ Phải đem ra tính trước dân ta/ Sách Âu Mỹ sách China/ Chữ kia chữ nọ dịch ra tinh tường (…) Một người học muôn người đều biết/ Trí ta khôn trăm việc phải hay/ Lợi quyền đã nắm trong tay/ Có cơ tiến hoá có ngày văn minh”. Nhà văn Huỳnh Thị Bảo Hoà của Đà Nẵng là nữ văn sĩ đầu tiên trong cả nước có tác phẩm viết bằng chữ Quốc ngữ được in thành sách (tiểu thuyết Tây phương mỹ nhơn, hai tập, Nhà in Bảo Tồn, Sài Gòn, 1927)…

Là một trong bốn địa phương cấp tỉnh khởi sự sớm nhất cả nước hồi Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Quảng Nam tiếp tục đẩy mạnh phong trào bình dân học vụ/xoá nạn mù chữ - ở đây là mù chữ Quốc ngữ - xem chữ Quốc ngữ là vũ khí quan trọng để chống “giặc dốt”…

Giao lưu văn hoá Việt-Nhật phát triển mạnh ngay từ cuối thập niên 1900. Những cuộc điều tra về các phố Nhật Bản ở Đông Nam Á được các nhà nghiên cứu Nhật Bản tiến hành từ năm 1909, khi Kojima Masanori bắt đầu nghiên cứu Chùa Cầu Nhật Bản  [chùa mới được người Hoa Minh Hương Hội An dựng thêm trên cầu vào năm Quý Tỵ 1653, không để thờ Phật mà để thờ Thần Bắc Đế Trấn Võ, tức hơn một thập niên sau khi cộng đồng người Nhật ở Hội An buộc phải hồi hương/“con cá lui về biển Bắc” theo chính sách toả quốc/sakoku của Mạc phủ Tokugawa - từ đó mới có tên gọi Chùa Cầu] và những ngôi mộ người Nhật ở Hội An - Chùa Cầu từng trở thành hình ảnh mang tính biểu tượng của thành phố Hội An từ sau năm 2000; đến năm 1928, Kuroita Katsumi và Iwao Seiichi đến Hội An để nghiên cứu về những di tích có liên quan tới phố Nhật Bản còn lại ở Đông Nam Á. Đặc biệt thông qua một số sinh hoạt học thuật như Hội nghị khoa học về Khu phố cổ Hội An do Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng tổ chức tại Hội An ngày 23 - 24 tháng 7 năm 1985, hay như Hội nghị các học giả nghiên cứu Việt Nam tại Nhật Bản: Việt Nam và con đường tơ lụa trên biển tổ chức tại Tokyo năm 1993…, các học giả Nhật Bản đã có đóng góp quan trọng trong quá trình đô thị cổ Hội An được UNESCO đưa vào danh mục Di sản văn hoá thế giới  từ cuối năm 1999… Từ năm 2003 đến nay, sự kiện Những ngày văn hóa Nhật Bản tại Quảng Nam và Giao lưu văn hóa Hội An-Nhật Bản được tổ chức thường niên, trong đó có hai lần được diễn ra tại thành phố Sakai tỉnh Osaka Nhật Bản. Và từ năm 2014 đến nay, Lễ hội văn hoá Việt Nam-Nhật Bản thành phố Đà Nẵng cũng đã được tổ chức liên tục...

Các nghiên cứu về khoa học lịch sử những năm gần đây cho thấy các lưu dân Trung Hoa phản Thanh phục Minh đầu tiên đến Quảng Nam đã cư trú ở phía hữu ngạn Đại Chiêm hải khẩu - trong đó có cảng thị cổ Trung Phường - trước khi chuyển sang cộng cư lâu dài tại làng Minh Hương Hội An và lập nên phố Tàu/ Đường Nhơn phố.  Có thể nói người Hoa Minh Hương Hội An đã hội nhập sâu rộng và góp phần đưa Hội An thành một cảng thị quốc tế/ một đặc khu kinh tế nổi tiếng. Cùng với tín ngưỡng thờ Quan Công cũng như tín ngưỡng thờ Bắc Đế Trấn Võ, người Hoa Minh Hương Hội An cũng đã bảo tồn và phát huy một số tập tục/lễ hội dân gian mang màu sắc Trung Hoa. Năm 2023, Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quyết định đưa hai lễ hội mang tính giao lưu văn hoá Việt-Hoa-Nhật thời các chúa Nguyễn nhưng rất đậm nét văn hoá Trung Hoa là Tết Trung thu/Rằm tháng tám và Tết Nguyên tiêu/Rằm tháng giêng vào danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia. 

*

Có nhiều người hiểu danh xưng Hội An là Hội những cái An - từ an ninh chính trị đến an toàn và an sinh xã hội, nhưng cũng có người hiểu Hội An là Hội vốn hàm chứa nhiều bắt trắc mà vẫn An. Được như vậy là nhờ Hội An nói riêng, Quảng Nam nói chung, ngay  từ thời các chúa Nguyễn, đã có đủ bản lĩnh để giao lưu văn hoá với thế giới và đạt nhiều thành tựu đáng kể trong giao lưu văn hoá như vừa phân tích bên trên./.  

 B.V.T

[1] Xem Hồ Trung Tú, Cao lầu, ăn đúng cách mới ngon, Trang Thông tin điện tử Trung tâm Bảo tồn Di sản văn hoá thế giới Hội An ngày 06 tháng 10 năm 2023.