Nhân Ngày Văn hóa Việt Nam nghĩ về Đà Nẵng và một không gian văn hóa đang mở rộng

28.09.2026
Như Nghĩa
Ngày 24/11/2026 là lần đầu tiên Ngày Văn hóa Việt Nam được tổ chức trên phạm vi cả nước. Đây không chỉ là một dấu mốc mới trong đời sống xã hội mà còn là một tín hiệu đáng chú ý về sự thay đổi trong nhận thức đối với văn hóa. Ngày 24/11 được lựa chọn bởi đây là ngày diễn ra Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất năm 1946 – một dấu mốc quan trọng trong lịch sử tư tưởng văn hóa của nước ta. Năm 2026 cũng là 80 năm kể từ hội nghị ấy.

Nhân Ngày Văn hóa Việt Nam nghĩ về Đà Nẵng và một không gian văn hóa đang mở rộng

Các tiết mục tại Concert “Việt Nam trong tôi”. Ảnh: Lê Đông/TTXVN

Nhưng điều đáng suy nghĩ hơn cả không phải là chúng ta có thêm một ngày lễ. Điều đáng suy nghĩ là: sau ngày 24/11, chúng ta sẽ làm gì để văn hóa thực sự trở thành một phần của đời sống mỗi người?

24/11 và câu chuyện 80 năm nhìn lại

Có một sự gặp nhau rất đẹp giữa lịch sử và hiện tại.

Tám mươi năm trước, trong những ngày đất nước vừa giành được độc lập, Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất đã được tổ chức. Đó là thời điểm dân tộc đứng trước vô vàn thử thách nhưng vẫn đặt ra vấn đề văn hóa.

Tám mươi năm sau, đất nước bước vào một hoàn cảnh hoàn toàn khác.

Không còn là những năm tháng chiến tranh, nhưng chúng ta lại đứng trước những thử thách mới: toàn cầu hóa, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, sự dịch chuyển của các giá trị, sự cạnh tranh giữa các nền văn hóa và sự thay đổi rất nhanh trong cách con người tiếp nhận thông tin, thưởng thức nghệ thuật và hình thành thị hiếu.

Nghị quyết 80 nhìn thẳng vào những biến chuyển ấy khi đặt ra yêu cầu xử lý hài hòa những mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế, bảo tồn và phát triển, đời sống thực và không gian số.

Đây cũng chính là vấn đề mà Đà Nẵng đang đối diện. Sau những thay đổi về địa giới, Đà Nẵng hôm nay có một không gian văn hóa rộng hơn rất nhiều.

Nếu chỉ nhìn Đà Nẵng bằng những cây cầu, những tuyến đường ven biển, những khu đô thị mới, những trung tâm thương mại hay những công trình hiện đại, chúng ta mới chỉ nhìn thấy một phần của thành phố.

Phía sau thành phố hiện đại ấy là một không gian văn hóa rộng lớn, từ đô thị biển Đà Nẵng đến Hội An, Mỹ Sơn, Trà Kiệu, vùng Thu Bồn, Điện Bàn, Gò Nổi, miền núi phía tây, các cộng đồng dân tộc thiểu số, những làng nghề, những làn điệu dân gian, nghệ thuật bài chòi, tuồng, các lễ hội, tín ngưỡng và những lớp ký ức lịch sử dày đặc.

Đà Nẵng mới vì thế không chỉ lớn hơn về địa giới. Thành phố còn lớn hơn về vốn văn hóa. Đây là điều tôi cho rằng cần được nhận thức thật rõ trong quá trình xây dựng chiến lược phát triển văn hóa Đà Nẵng.

Một thành phố càng rộng thì càng cần một câu chuyện văn hóa đủ rộng để kết nối những vùng đất khác nhau. Điều cần tìm kiếm là một không gian văn hóa Đà Nẵng thống nhất trong đa dạng, trong đó mỗi vùng đất vẫn giữ được tiếng nói riêng nhưng cùng góp phần tạo nên diện mạo văn hóa chung của thành phố.

Đó chính là tinh thần rất gần với quan điểm của Nghị quyết 80 về một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng.

Lâu nay, khi nói đến văn hóa, người ta thường nghĩ đến di tích, lễ hội, bảo tàng, văn nghệ, thư viện, những cuộc triển lãm, những đêm biểu diễn. Tất cả đều cần thiết, nhưng văn hóa không dừng ở đó.

Văn hóa còn nằm trong cách một thành phố đối xử với ký ức của mình. Nằm trong cách con người ứng xử với nhau trên một con đường. Nằm trong một ngôi nhà, một dòng họ, một làng quê, một khu phố. Nằm trong tiếng nói, món ăn, câu hát, phong tục, tập quán. Nằm trong một cuốn sách được viết ra, một bức ảnh được chụp, một vở diễn được dựng, một bài thơ được sinh ra từ những vui buồn của con người.

Và sâu hơn nữa, văn hóa nằm trong cách một cộng đồng lựa chọn mình sẽ trở thành người như thế nào.

Nghị quyết 80 vì thế không chỉ đặt vấn đề bảo tồn những gì đã có mà còn nhấn mạnh xây dựng con người, môi trường văn hóa, phát triển văn học nghệ thuật, công nghiệp văn hóa, chuyển đổi số, huy động nguồn lực xã hội và phát huy vai trò của văn nghệ sĩ, trí thức, nghệ nhân, doanh nhân cùng toàn dân.

Từ góc nhìn ấy, Ngày Văn hóa Việt Nam không nên chỉ là một ngày để tổ chức thêm vài chương trình. Đó phải là một ngày để xã hội tự soi mình qua văn hóa.

Văn học nghệ thuật phải được nhìn như một nguồn lực sáng tạo của thành phố

Ở đây, tôi muốn nói riêng về văn học nghệ thuật.

Bởi nếu văn hóa là ký ức của một vùng đất thì văn học nghệ thuật chính là một trong những cách sâu sắc nhất để vùng đất ấy tự kể câu chuyện về mình.

Một thành phố có thể xây những công trình lớn trong vài năm. Nhưng để có một tác phẩm văn học lớn về thành phố, có thể cần hàng chục năm.

Một cây cầu có thể trở thành biểu tượng của đô thị. Nhưng một bài thơ, một bức ảnh, một bộ phim, một vở diễn, một ca khúc có thể làm cho biểu tượng ấy đi vào ký ức của nhiều thế hệ.

Đà Nẵng đã có một lực lượng văn nghệ sĩ khá phong phú. Thành phố cũng đang có những hoạt động điện ảnh, âm nhạc, sân khấu, mỹ thuật, nhiếp ảnh, văn học ngày càng sôi động. Những sự kiện như Liên hoan phim châu Á Đà Nẵng (DANAFF) cho thấy văn hóa có thể trở thành một không gian kết nối giữa sáng tạo nghệ thuật, công chúng, du lịch, truyền thông và hội nhập quốc tế. Thành phố cũng đang xác định phát triển hệ sinh thái điện ảnh và công nghiệp văn hóa là một hướng cụ thể hóa Nghị quyết 80.

Nhưng điều quan trọng hơn là phải tạo được một đời sống sáng tạo thường xuyên. Không chỉ có festival, không chỉ có cuộc thi, không chỉ có những đợt sáng tác, không chỉ có triển lãm rồi kết thúc. Đà Nẵng cần tạo điều kiện để văn nghệ sĩ sống lâu dài với thành phố, quan sát thành phố, suy nghĩ về thành phố và sáng tạo từ thành phố. Tôi vẫn nghĩ rằng một trong những tài sản quý nhất của Đà Nẵng là những con người đang nhìn thành phố này bằng con mắt của người sáng tạo. Và chính những điều ấy sẽ làm nên chiều sâu văn hóa của thành phố.

Một trong những điểm đáng chú ý của Nghị quyết 80 là lần đầu tiên vấn đề phát triển văn hóa được đặt rất rõ trong mối quan hệ với nguồn lực, cơ chế, công nghệ và thị trường.

Nghị quyết đặt mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa, hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, đồng thời nhấn mạnh cơ chế đặt hàng các công trình, tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị cao; chính sách đào tạo, đãi ngộ và trọng dụng tài năng văn hóa nghệ thuật.

Đối với Đà Nẵng, đây là một gợi mở rất lớn. Chúng ta cần chuyển từ tư duy “hỗ trợ hoạt động văn hóa” sang tư duy “đầu tư cho năng lực sáng tạo của thành phố”.

Hỗ trợ một chương trình là cần thiết. Nhưng đặt hàng một tác phẩm lớn về Đà Nẵng, hỗ trợ một dự án điện ảnh, đầu tư cho một công trình nghiên cứu văn hóa, xây dựng một bộ sách về vùng đất mới, số hóa di sản, tạo không gian cho nghệ sĩ trẻ, đưa nghệ thuật truyền thống đến trường học và cộng đồng… là đầu tư vào tương lai văn hóa.

Nghị quyết 80 cũng đặt ra mục tiêu đến năm 2030 phát triển văn học nghệ thuật xứng tầm với lịch sử văn hóa dân tộc và tầm vóc đất nước; đồng thời thúc đẩy công nghiệp văn hóa, nghệ thuật sáng tạo và hội nhập quốc tế.

Đà Nẵng có đủ chất liệu để đi vào hướng ấy. Vấn đề là chúng ta có biến được chất liệu thành tác phẩm hay không. Có biến di sản thành nguồn cảm hứng sáng tạo hay không. Có biến những câu chuyện địa phương thành những câu chuyện có khả năng đi ra ngoài địa phương hay không.

Và quan trọng nhất, có tạo được một môi trường trong đó người sáng tạo muốn sống, muốn làm việc và muốn cống hiến lâu dài hay không.

Ngày Văn hóa Việt Nam trước hết phải là ngày của người dân

Có một điều tôi đặc biệt quan tâm trong ý nghĩa của ngày 24/11: Nhân dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng văn hóa mà là chủ thể sáng tạo văn hóa.

Vì vậy, nếu Ngày Văn hóa Việt Nam chỉ được tổ chức bằng những sân khấu lớn, những khẩu hiệu lớn và những chương trình dành cho một bộ phận công chúng, thì ý nghĩa của ngày này vẫn chưa được khai mở đầy đủ.

Tôi hình dung một Ngày Văn hóa Việt Nam của Đà Nẵng có thể bắt đầu từ những điều rất gần gũi: Một gia đình kể cho con nghe câu chuyện về quê mình. Một trường học đưa học sinh đến bảo tàng. Một khu dân cư tổ chức đêm thơ, đêm nhạc. Một nghệ nhân truyền nghề cho lớp trẻ. Một nhà văn trở về làng cũ để viết. Một nhiếp ảnh gia đi dọc miền núi phía tây thành phố. Một đoàn tuồng dựng lại một tích cổ bằng ngôn ngữ sân khấu hôm nay. Một người trẻ làm phim ngắn về quê hương. Một thư viện mở cửa rộng hơn. Một bảo tàng cho người dân được bước vào với tâm thế của người khám phá chứ không phải chỉ là người tham quan.

Khi ấy, văn hóa không còn nằm trên sân khấu. Văn hóa trở về với đời sống. Và đó có lẽ mới là ý nghĩa sâu xa nhất của một ngày dành cho văn hóa.

Tôi cho rằng, từ Ngày Văn hóa Việt Nam, Đà Nẵng cần một khát vọng văn hóa mới

Hày đặt câu hỏi: Chúng ta muốn trở thành thành phố như thế nào về văn hóa?

Không chỉ là thành phố đáng sống, thành phố du lịch, thành phố sự kiện. Mà phải là một thành phố có đời sống văn hóa sâu sắc, có năng lực sáng tạo và có khả năng kể câu chuyện của mình với thế giới.

Đà Nẵng có những điều kiện đặc biệt để theo đuổi mục tiêu ấy: Có biển,  có sông, có núi, có đô thị, có làng quê, có một vùng di sản rất rộng, có lịch sử đặc sắc, có ký ức chiến tranh. có văn hóa các cộng đồng dân tộc, có những dòng chảy văn hóa Đông – Tây, có một thế hệ trẻ đang bước vào đời với tâm thế hội nhập.

Và quan trọng hơn cả, có một đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, nghệ nhân, nhà nghiên cứu, doanh nhân văn hóa và những người yêu văn hóa đang cùng sống trong không gian ấy.

Điều cần thiết bây giờ là kết nối những nguồn lực đó thành một hệ sinh thái văn hóa của thành phố.

Đà Nẵng đã có Chương trình hành động của Thành ủy thực hiện Nghị quyết 80 và kế hoạch triển khai của UBND thành phố; trong đó có những nhiệm vụ cụ thể liên quan đến xây dựng môi trường văn hóa, tổ chức Ngày Văn hóa Việt Nam 24/11, bảo tồn di sản, xây dựng tiêu chí đặc trưng thành phố và con người Đà Nẵng, cũng như phát triển văn học nghệ thuật. Đó là những bước đi quan trọng.

Nhưng văn hóa cuối cùng không chỉ được đo bằng số lượng đề án, hội nghị hay chương trình. Văn hóa phải được đo bằng sự thay đổi trong đời sống con người, bằng việc một đứa trẻ biết yêu quê hương hơn, hiểu hơn về lịch sử nơi mình sống; một nghệ sĩ có điều kiện sáng tạo, một di sản được sống tiếp trong đời sống hiện đại, một tác phẩm hay được sinh ra.

Ngày 24/11/2026 rồi sẽ đi qua như mọi ngày khác. Điều đáng mong đợi là sau ngày ấy, văn hóa có một vị trí khác trong đời sống của thành phố.

Một vị trí sâu hơn trong những quyết sách phát triển, một vị trí xứng đáng hơn đối với văn nghệ sĩ, một không gian rộng hơn cho sáng tạo, một cơ hội lớn hơn cho người trẻ, một cách tiếp cận mới đối với di sản. Và một ý thức rõ hơn rằng mỗi người dân đều đang góp phần làm nên văn hóa của nơi mình sống.

Từ Đà Nẵng nhìn ra cả nước, tôi nghĩ Ngày Văn hóa Việt Nam không chỉ là dịp để chúng ta tự hào về những gì cha ông đã để lại. Mà phải ý thức rằng mỗi thế hệ đều phải để lại cho đất nước một phần văn hóa của chính mình.

Nếu thế hệ trước để lại những di sản, những câu chuyện, những tác phẩm và những giá trị đã được thời gian thử thách, thì thế hệ hôm nay phải tiếp tục sáng tạo. Bởi một nền văn hóa chỉ thật sự sống khi nó không ngừng được viết tiếp.

Và có lẽ, ý nghĩa đẹp nhất của Ngày Văn hóa Việt Nam 24/11 là không chỉ nhìn lại văn hóa Việt Nam đã đi qua những gì, mà cùng nhau nghĩ xem chúng ta muốn văn hóa Việt Nam sẽ đi tới đâu. Với Đà Nẵng, câu hỏi ấy càng có ý nghĩa.

Thành phố đang đứng trước một không gian mới, một tầm vóc mới và một cơ hội mới. Đà Nẵng hiện đại cần một chiều sâu văn hóa tương xứng, sẵn sàng hội nhập với một bản sắc vững vàng.

Và một Đà Nẵng phát triển bền vững cần văn hóa không đứng bên ngoài sự phát triển, mà phải ở bên trong, dẫn dắt và làm nên chất lượng của sự phát triển ấy. Đó có lẽ là điều mà chúng ta nên bắt đầu từ Ngày Văn hóa Việt Nam đầu tiên – 24/11/2026.

N.N