Văn nghiệp Huỳnh Thúc Kháng trong sự vận động của tư tưởng và thời đạ

Cụ Huỳnh Thúc Kháng (cầm quạt, ngồi giữa) tại trụ sở báo Tiếng Dân năm 1937. Ảnh tư liệu.
Trong lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XX, Huỳnh Thúc Kháng được biết đến trước hết với tư cách là một chí sĩ yêu nước, nhà hoạt động chính trị, xã hội và người sáng lập báo Tiếng Dân. Bên cạnh đó, ông còn để lại một di sản trước tác phong phú gồm thơ, phú, văn chính luận, hồi ký, khảo cứu, biên soạn và dịch thuật. Những tác phẩm ấy phản ánh rõ những chuyển biến tư tưởng, xã hội của Việt Nam đầu thế kỷ XX, khi Nho học đứng trước yêu cầu đổi mới và tư tưởng canh tân, dân quyền ngày càng được đề cao.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Q. Thắng nhận xét rằng, các “công trình nghiên cứu, sáng tác của Huỳnh Thúc Kháng tuy không nhiều nhưng ở mỗi bộ môn của các văn phẩm ấy đều có tính cách đa diện; dù cho khi ông viết vấn đề gì, thì ngòi bút đó đều nhằm tới một đối tượng nhất định: lo cho dân giàu nước mạnh”1.
thành thông thánh, Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng hợp sức sáng tác bài phú Lương ngọc danh sơn, công khai phê phán khoa cử Nho học, thái độ thờ ơ của tầng lớp quan lại, trí thức Nho học đối với vận mệnh của đất nước, lên án thực dân Pháp, kêu gọi duy tân, cải cách học thuật, xả thân đấu tranh để cứu nước”1. Việc dùng một thể văn quen thuộc của Hán học để truyền đạt tư tưởng Duy tân cho thấy sự chuyển biến trong tư duy sáng tác của Huỳnh Thúc Kháng: từ khuôn khổ văn chương truyền thống hướng đến những vấn đề của thời cuộc.
Trong thơ Huỳnh Thúc Kháng, cảm hứng về đất nước, thời thế và trách nhiệm của người sĩ phu thường nổi bật hơn những cảm xúc riêng tư. Những năm tháng ở Côn Đảo càng làm rõ điều đó. Trong Thi tù tùng thoại ông cho rằng, “biết chữ nhiều mối lo, văn-tự lụy người, xưa nay cùng đồng mối cảm-khái ấy, cho đến đã vì cái cớ văn-tự, đày ra ngoài đảo hoang, góc biển, nhốt trong khám kín, mà cái dây “văn-tự” làm lụy đó, vẫn dăng dính mãi, không chịu rời ra, cứ theo bó buộc đến trọn đời, há không phải quỉ thần ghét người biết chữ sao?”2. Câu chữ có phần hóm hỉnh nhưng chất chứa một nghịch lý: chữ nghĩa vừa là nguyên nhân khiến ông chịu cảnh tù đày, vừa là phương tiện để ông ghi lại thời thế, bộc lộ khí tiết và tiếp tục lên tiếng trước vận mệnh đất nước.
Vương Đình Quang còn cho biết, Huỳnh Thúc Kháng, con người tự cho là “thi cuồng” ấy, hầu như sống về thơ hơn là về món cơm lứt của nhà tù. Mười ba năm ròng rã, xa vợ xa con, xa quê hương, chân trời góc bể, cay đắng đủ mùi, nhà thơ được tôi luyện trong “trường học thiên nhiên” chỉ có thể trở nên già dặn hơn, phong phú hơn. Ở đây hận vong quốc mới càng thấm thía, càng nung nấu tâm can nhà chí sĩ: Vẫn cầm cái chết như không/ Chưa nên một việc tấm lòng chưa cam!3.
Từ những bài thơ, bài vè cổ động duy tân đến Lương ngọc danh sơn phú và những sáng tác trong thời gian bị giam cầm, văn chương Huỳnh Thúc Kháng luôn gắn với thời cuộc và trách nhiệm của người trí thức. Ở đó, tư tưởng canh tân và tinh thần yêu nước không tách rời hoạt động sáng tác, mà trở thành một trong những đặc điểm nổi bật của văn nghiệp của ông.
* Thi tù tùng thoại: Ký ức, lịch sử và phẩm giá con người
Trong văn nghiệp Huỳnh Thúc Kháng, Thi tù tùng thoại gắn với mười ba năm ông bị lưu đày ở Côn Đảo. Tác phẩm ghi lại thơ và chuyện của những người tù chính trị cùng thời, trong đó tác giả là một người trực tiếp trải qua những năm tháng ấy.
Trong Huỳnh Thúc Kháng niên phổ, đối tượng ghi chép là chính cuộc đời ông. Đây là tập tự truyện, ghi lại những chặng đường và biến cố quan trọng trong cuộc đời, từ việc học hành, hoạt động xã hội đến những năm tháng tù đày và trở lại đời sống chính trị. Những trước tác viết về Phan Châu Trinh cũng có ý nghĩa đáng kể. Qua việc ghi lại người bạn, người đồng chí của mình, Huỳnh Thúc Kháng đồng thời nhắc lại một giai đoạn hoạt động của phong trào Duy tân và những biến chuyển trong giới sĩ phu đầu thế kỷ XX.
Với báo Tiếng Dân, hoạt động viết của Huỳnh Thúc Kháng gắn trực tiếp với những vấn đề đang diễn ra trong xã hội. Ông viết về văn học, lịch sử, xã hội, phong tục, dịch thuật và nhiều vấn đề thời sự. Nguyễn Q. Thắng nhận xét ông là “một nhà báo chân chính, không bao giờ tách rời con người yêu chân lý, yêu sự thật”1. Ở ông, với bất kỳ thể loại nào đều gắn với những vấn đề của đất nước và xã hội. Việc cầm bút vì thế cũng là một cách ông thực hiện trách nhiệm của người trí thức trước thời cuộc.
Huỳnh Thúc Kháng không chủ trương xây dựng sự nghiệp văn chương theo nghĩa một nhà văn chuyên nghiệp. Ông đến với chữ nghĩa từ hoạt động xã hội, chính trị, báo chí và những trải nghiệm của chính mình. Vì vậy, thơ văn, khảo cứu, hồi ký và báo chí của ông thường gắn với những vấn đề của đất nước, dân tộc và thời cuộc.
Qua các trước tác, có thể thấy rõ sự gắn bó giữa văn chương và cuộc đời hoạt động của Huỳnh Thúc Kháng. Những gì ông viết về lịch sử, con người, tù đày, canh tân hay đời sống xã hội đều có dấu ấn của một người trực tiếp tham gia và chứng kiến. Đây cũng là nét riêng trong văn nghiệp Huỳnh Thúc Kháng: chữ nghĩa luôn đi cùng trải nghiệm, tư tưởng và trách nhiệm của người cầm bút.
V.V.H
1. Nguyễn Q. Thắng (1972), Huỳnh Thúc Kháng - Con người và thơ văn (1876-1947), Phủ Quốc vụ khanh đặc trách Văn hóa xuất bản, Sài Gòn, tr 130.
2. Nguyễn Q. Thắng (1972), sđd, tr 130.
3. Chương Thâu - Phạm Ngô Minh (Sưu tầm - biên soạn) (2010), Huỳnh Thúc Kháng tuyển tập, Nxb Đà Nẵng, tr 1737.
4. Nguyễn Q. Thắng (1972), sđd, tr 131.
5. PGS.TS. Trương Công Huỳnh Kỳ (2023), “Ảnh hưởng của phong trào Duy tân Quảng Nam ở Việt Nam”, Tư tưởng canh tân của nhà yêu nước Phan Châu Trinh, Nxb Đà Nẵng, tr 141.
6. Huỳnh Thúc Kháng (1936), Thi tù tùng thoại, bản in theo báo Tiếng Dân, tr 62.
7. Chương Thâu - Phạm Ngô Minh (Sưu tầm - Biên soạn) (2010), sđd, tr 1740.
8. Huỳnh Thúc Kháng, Thi tù tùng thoại, Sđd, tr 2.
9. Nguyễn Q. Thắng (1972), sđd, tr 132.
10. Nguyễn Q. Thắng (1972), sđd, tr 132.
11. Nguyễn Q. Thắng (1972), sđd, tr 136.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chương Thâu - Phạm Ngô Minh (Sưu tầm - Biên soạn) (2010), Huỳnh Thúc Kháng tuyển tập, Nxb Đà Nẵng.
2. Nguyễn Thắng (1972), Huỳnh Thúc Kháng - Con người và thơ văn (1876-1947), Phủ Quốc vụ khanh đặc trách Văn hóa xuất bản, Sài Gòn.
3. Huỳnh Thúc Kháng, Thi tù tùng thoại, bản in theo báo Tiếng Dân,
4. Tỉnh ủy Quảng Nam (2016), Huỳnh Thúc Kháng với cách mạng Việt Nam và quê hương Quảng Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
5. Anh Minh Ngô Thành Nhân (1961), Ngũ-Hành-Sơn Chí-Sĩ, Anh Minh xuất bản, tr 89.
6. Nhiều tác giả (2023), Tư tưởng canh tân của nhà yêu nước Phan Châu Trinh, Nxb Đà Nẵng, tr 141.