SÁNG TÁC
Ký ức Trường Sơn – Trần Trung Yên

Vào những ngày chuẩn bị kỷ niệm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12 này, cái tên Trường Sơn một lần nữa lại vang lên, rộn rã làng người. Trong những ngày Trường Sơn trần lưng hứng chịu mưa bom bão đạn ấy, đã có một tiểu đoàn nữ thanh niên xung phong của khu Năm trụ bám ở đây.
Những người từng là bộ đội khu Năm cũ, khi nói chuyện về tiểu đoàn nữ thanh niên xung phong của khu Năm hồi ấy, đều gọi bằng một cái tên đầy thán phục “Tiểu đoàn bà Thao”, “Lính bà Thao”…


Từ những điều được nghe và qua những dòng in trên báo, tôi đã tìm gặp người phụ nữ chỉ huy tiểu đoàn nữ thanh niên xung phong của khu Năm ngày nào.

-Nhắc đến những kỷ niệm xưa,tôi như sống lại những năm tháng gian khổ,ác liệt không thể quên…

Người phụ nữ ngước đôi mắt to,đen ướt nhìn tôi.Nhìn vào đôi mắt ấy,tôi bắt gặp ánh buồn day dứt loáng qua.Tôi hiểu,chiến tranh không phải là trò đùa.Những niềm vui,nỗi đau đều thuộc về kỷ niệm.Nhưng không phải kỷ niệm nào cũng có thể trang trải song cũng chẳng thể quên được.Tôi cảm nhận rõ tất cả vẫn còn nguyên vẹn ở trong chị,dẫu cho nhiều năm tháng đã qua đi với bao nỗi lo toan cho cuộc sống thường ngày.

“Tiểu đoàn bà Thao”ngày ấy có tên gọi theo đúng văn bản tổ chức là D2,do Cục Hậu cần Quân khu Năm thành lập,trên cơ sở hợp nhất nữ thanh niên xung phong từ ba tiểu đoàn Bắc Hải,Trung Hải,Nam Hải,hoạt động rải khắp các tỉnh khu Năm.Quân số tiểu đoàn hơn bảy trăm người,là chị em ở các địa phương Quảng Nam,Quảng Ngãi,Bình Định,được biên chế vào bốn đại đội và một bệnh xá.Ngoài ra còn một số anh em bộ đội từ Bắc vào,ở tiểu đội trinh sát.Từng ấy chị em phải ngược xuôi khắp miền đồng bằng,rừng núi khu Năm để làm nhiệm vụ chuyển gạo từ đồng bằng lên mặt trận phía Nam,chuyển súng đạn từ miền Bắc vào cho sư đoàn 2,sư đoàn 3,chuyển thương binh từ khu Năm ra Bắc theo ngày nối ngày,tháng nối tháng,năm nối năm…

Hồi thành lập tiểu đoàn,chú Bùi Dư chính ủy Cục Hậu cần Quân khu Năm gọi tôi lên giao nhiệm vụ làm tiểu đoàn trưởng.Chú nói: “Tổ chức tin tưởng ở đồng chí.Anh em tín nhiệm đồng chí.Không được từ chối.”Nghe chú nói,tôi lo lắm.Có bao giờ tôi phụ trách số người đông như vậy đâu.

Cái xóm nghèo ở làng quê Hòa Hải là nơi Thao sinh ra.Ở nơi đó có một gia đình bần ngư.Người cha một đời quanh năm mang đôi bàn tay cùng nỗi đam mê sóng gió làm thuê cho chủ tàu đánh cá,nuôi tám miệng ăn qua ngày.Những người con lớn lần lượt ra đi,người thoát ly,người vào bộ đội,sau khi người mẹ qua đời.Lúc ấy,Thao hãy còn là cô bé chưa đầy mười bốn tuổi.Bỗng chốc,cô trở thành “chị cả”,phải làm quen với những việc không tên trong nhà.Nhưng đêm đến,cô bé vẫn thường lén cha theo người anh con dì là cán bộ đoàn,đến nghe những buổi giảng giải về giải phóng dân tộc,về đánh đuổi đế quốc xâm lược…Thật lòng,cô có hiểu gì lắm đâu.Nhưng cô cảm thấy tin tưởng,háo hức,muốn theo các anh chị làm cách mạng.Cô nằng nặc xin cha cho đi thoát ly.Cha cô lắc đầu,thở dài: “ Mẹ mi mất rồi.Anh,chị mi đi hết.Chừ mi cũng bỏ cha với mấy em đi nữa răng?”Biết cha chưa muốn cho cô thoát ly,cô lẳng lặng trốn đi.Ấy là vào một ngày đầu mùa mưa năm sáu lăm.Cô đi,gởi lại mảnh đất chôn nhau cắt rốn mười bốn năm thơ dại cơ cực và mang theo nỗi háo hức nhiệt thành của tuổi trẻ,bởi chưa biết là bao gian truân,nguy hiểm đang chờ đợi ở phía trước.

-Những đêm đầu sau khi nhận nhiệm vụ,tôi lo y như hồi đêm trước ngày được kết nạp Đảng vậy.

Bắt được thoáng ngạc nhiên pha lẫn cảm phục trong ánh nhìn của tôi,chị lặng thinh. Niềm cảm phục trong tôi cứ dào lên khi mỗi lúc mỗi biết thêm nhiều điều về chị.

Sau khi trốn đi,Thao vào tiểu đội thanh niên xung phong Quảng Đà,đầu năm sáu bảy,chuyển sang tiểu đoàn Bắc Hải,thoát ly hẳn lên vùng B Đại Lộc.Cũng thời gian đó,Thao được kết nạp vào Đảng sau bao thử thách.

-Cả đêm ấy tôi thức trắng,lòng cứ bồn chồn nghĩ đến lúc đứng trước cờ Đảng,được trở thành đảng viên.Thật tình,cảm giác lúc đó khó tả lắm,vừa mừng vui vừa lo lắng bởi được gắn thêm lên người một trách nhiệm mới.Lần ấy,chỉ sáu người được kết nạp Đảng.Chị em ôm nhau mừng ứa nước mắt.Ai cũng cảm thấy điều đó thật thiêng liêng,cảm thấy Đảng sẽ mạnh thêm lên và chị em cũng được manh hơn lên theo Đảng.

-Vì vậy mà chị đã không nề hà với nhiệm vụ được giao?

-Lo thì lo nhưng rồi cũng nhận.Chính tinh thần đảng viên nó nâng tôi lên và khiến tôi tự tin hơn.Nhưng cũng phải nói,niềm tin và tình cảm của tổ chức,của chị em trong tiểu đoàn đã động viên tôi thêm.Lúc đó,tôi vừa mười chín tuổi.

Giữa bom đạn ác liệt của chiến trường,một cô gái mười chín tuổi đã có ba năm tuổi Đảng,có thể chưa hẳn là một điều gì khác thường.Song trong chiến tranh,mọi điều đều được định giá công bằng.Những cô gái sàn sàn tuổi nhau,đều ở tuổi ăn khỏe,nghịch khỏe,vác khỏe ngày ấy có lẽ đã hiểu được điều đó.Và cũng nhờ vậy mà chị em mới trụ được suốt bao năm trời.

-Nơi chúng tôi ở là vùng giáp ranh.Ngày thì xuống đồng bằng nhận gạo,đêm về ngủ trong lán trại dựng tạm giữa đồi núi.Cứ luôn vậy đó,đêm ranh,ngày đồng bằng,dù có dời đi đâu trên địa bàn khu Năm.

-Vậy là tiểu đoàn phải luôn luôn cơ động? -Tôi hỏi,mắt vẫn không rời gương mặt lúc này đã trở lại vẻ bình thản ban đầu của chị.

Chị từ tốn giải thích:

-Vì nhiệm vụ của tiểu đoàn là vận chuyển hàng chiến lược,phục vụ theo yêu cầu các chiến dịch.Nơi nào ở lâu nhất là vài ba tháng.Những nơi đã đi qua phải một thời gian lâu mới quay trở lại,nếu được giao nhiệm vụ.Cho nên,nơi ở rất dã chiến.Lán trại do chị em dựng lấy,mái che bằng lá,trụ là những thân cây chặt ngọn,nền rải lớp lá mây,trên trải tấm  ni lông bạc màu,mùa hè nhớp nháp mồ hôi,mùa đông ướt dầm nước mưa,không sao ngủ được yên giấc.

Chỗ ở tạm một thời gian thì vậy,những lúc nghỉ chân qua đêm trên đường chuyển đến địa điểm mới thì lại khác.Mỗi người phải tự chuẩn bị chỗ ngủ cho mình.Chỗ ngả lưng là chiếc võng mắc qua hai thân cây phang ngang,đóng tạm trên nền đất đồi sần lở.Bên trên phủ tấm ni lông mỏng,không đủ sức che chắn sương đêm núi rừng,trong khi trên người chỉ mỗi bộ đồ vải ú đen đã thấm không biết bao lớp mồ hôi ,bụi đường. Mới chỗ ngủ thôi đã vậy,huống chi …

Câu nói bỏ lửng vẫn còn đượm nỗi bùi ngùi về một thời gian khổ chưa nguôi,khiến tôi lại ngẩng lên nhìn chị. Đôi mắt chị vẫn ướt và buồn. Tôi không biết chúng vốn là thế hay những gì nhớ lại đã klhiến chị nao lòng. Nếu mà vậy thì hẳn sẽ còn biết bao điều xót lòng trong những tháng năm lăn lộn ở Trường Sơn. Những điều đó đâu thể một lúc là có thể nói lên hết được. Tôi lặng thinh,nhưng không phải để chờ đợi mà là để lắng nghe.

-Hàng ngày chúng tôi chuyển hàng, khi là gạo, khi là những thùng đạn DKB, đầu đạn B.40, đầu đạn đại bác, đạn cối 105 ly… Mỗi tháng phải chuyển hàng đủ hai mươi bảy ngày, trừ ba ngày có việc riêng của phụ nữ. Có những chị chuyển hàng không nghỉ ngày nào suốt mười hai tháng, vì quanh năm mất kinh. Chuyện chị em bị mất kinh đôi ba tháng là bình thường. Nói dại, hồi đó chị em lại cho được như thế mà khỏe, dù có phải chuyển hàng.

Những lúc bình thường, ngày mỗi người chỉ phải chuyển hàng một chuyến. Khi có chuyến dịch, phải chuyển thêm chuyến nữa. Chuyến đầu từ 5 giờ chiều đến 10 giờ đêm, rồi đi tiếp từ 3 giờ sáng đến 6 giờ sáng. Người khỏe thì vác trên trăm ký gạo, người yếu chỉ mang bốn chục ký trong mỗi chuyến đi. Gạo thường đựng trong những bao may bằng vải xi ta, một đầu có dây rút để túm miệng bao, hai bên có hai quai đeo như ba lô. Mỗi lần nhìn tôi cõng gạo gần như cao hơn thân người, chị em cứ trầm trồ hoài. Thật ra, mới đầu đâu phải tôi đã cõng ngay được hơn trăm ký gạo trên lưng. Mỗi ngày phải cố thêm một ít, ráng mang mà đi thôi. Tôi chỉ nghĩ đơn giản, mang thêm cân là để đỡ bớt phần nào cho những chị em không mang nặng được, dần dần thành quen. Thấy vậy, chị em cứ hay gọi tôi là kiện tướng cõng gạo.

Hồi đó đường đi thường là đường rừng, có đoạn phải lội suối, leo dốc, cực lắm. Đi đường rừng thì gặp vắt, nhất là những lúc sương sớm chưa kịp tan và khi về chiều, sương xuống thấm ướt lá rừng, đám vắt ẩn trong lớp lá mục trên đường cứ ngo ngoe trườn dậy, bám lấy chân người. Những ngày đầu ai cũng sợ, bíu rịt lấy nhau không dám đi tiếp. Mấy ngày sau, không biết nghe ai, chị em bày nhau dùng giẻ chấm nước muối lên da chân để tránh vắt. Sau này một số anh bộ đội ở Bắc vào, lúc đầu cũng sợ vắt lắm, tôi phải phân công chị em cõng các anh qua những đoạn đường có vắt, mấy anh mới chịu đi. Chị em bấm bụng cười, mới biết đâu phải chỉ có bọn con gái là sợ vắt.

Giọng chị như thoáng tiếng cười của những ngày cõng các anh bộ đội tránh vắt. Những ngày ấy hẳn vui lắm nên giờ nhắc lại, giọng chị vẫn nồng ấm đến vậy. Nhưng chỉ được một lúc chị lại trở về với những hồi ức day dứt không nguôi.

-Vào mùa mưa lũ, mỗi khi đi qua những đoạn có sông, suối gập ghềnh đá, nước trên nguồn thường đổ về bất chừng. Có lúc đi qua thì nước cạn, lúc về lại mấp mé bờ. Cực nhất là những chị em vừa đau dậy hay vừa hành kinh xong. Không có cách chi tránh được, phải ngâm mình lội nước đi qua, nên quần áo ướt nhèm. Tối lại, chị em phải xông lửa hong qua đêm cho kịp khô để thay đổi mỗi ngày. Áo quần mỗi năm chỉ được cấp hai bộ, kiểu cỡ y nhau cả nam cả nữ. Nhiều khi vì vội, sáng dậy mấy anh lấy lộn quần áo chị em hong khô chưa kịp cất mặc, để quần áo ướt lại, khiến chị em kêu trời.

Gặp những ngày lũ lớn thì vừa cực vừa sợ. Có lần đã có chị bị cuốn trôi trên sông Trà Ôn. Lần đó, chúng tôi nhận gạo về qua sông Trà Ôn gặp lúc nước nguồn đổ xuống ào ạt. Mọi người phải bứt dây mây, cột xâu lấy nhau mà đi, giữa dòng nước cứ giằng qua giằng lại. Khi qua đến nơi nhìn lại, mới biết chị Lâu, người đi sau cùng đã bị nước cuốn trôi. Chúng tôi tìm kiếm đến tối mịt vẫn không thấy chị giữa màn nước mênh mang. Phải đến chín, mười ngày sau nước rút, mới tìm thấy xác chị nằm kẹt giữa hai tảng đá, tuốt ở hạ lưu sông…

Trong tôi hiện lên hình ảnh những cô gái lưng gùi gạo, thân người đẫm nước, làn da tím tái giữa dòng lũ. Những cô gái mới mười chín, đôi mươi đã phải dạn dày với sơn lam chướng khí của núi rừng thâm u. Với họ đâu chỉ có nỗi buồn,nỗi khổ, nỗi đau mà còn có cả sự chết chóc. Chừng như sống trong môi trường ác liệt, ranh giới giữa sự sống và cái chết khó phân định được, các cô gái này đã không còn để tâm đến nó nữa. Phải chăng với họ, sống là làm việc, là chiến đấu, chết là hoàn thành nhiệm vụ.

Ánh mắt người phụ nữ trước mặt tôi vẫn ướt và buồn.Nhưng dường như chị hiểu được những ý nghĩ trong tôi.

-Niềm vui của những người tải gạo chúng tôi hồi đó là tất cả được an toàn trở về và hoàn thành nhiệm vụ.Chẳng phải chúng tôi sợ chết mà là không muốn mất đi đồng đội.Mỗi lần nhìn thấy những khoảng trống trên tấm ni lông trong lán trại khi đêm về sau mỗi chuyến đi,chị em buồn lắm. Nhiều lần chị em ra đi,chưa kịp chuyển hàng đã có không ít người phải hy sinh…

Đầu năm sáu chín,tiểu đoàn chọn một nhóm gồm mười ba người đi Quế Sơn nhận gạo, chuyển cho thương binh.Chuyến đó tôi đi cùng Lý,Hồng,chị Bốn và một số chị ở các đại đội.Chúng tôi đến Sơn Thạch, lúc ấy là 5 giờ chiều, gặp phải cối 105 ly của địch bắn không ngớt. Mười ba người phải nấp sau những mô đá chống cối.Ngồi sau những mô đá,nghe tiếng pháo cối nổ loạn xạ không dứt ở bốn phía,ai cũng  nhấp nhổm như ngồi trên đống lửa,sớm hôm sau mọi người chuẩn bị đi,thì một quả cối đã rơi cạnh chỗ chúng tôi đang nấp.Khi tôi kịp hoàn hồn,nhận ra mình không bị gì,quay tìm chị em thì mới biết bảy chị đã chết,năm chị còn lại bị thương.Tôi luýnh quýnh xé bao đựng gạo băng vết thương cho mấy chị,rồi đón người của các đơn vị qua đường,nhờ nhắn cho tiểu đoàn.

Những đêm suốt một tháng sau chuyến đi đó,tôi không tài nào ngủ được .Tôi cứ như thấy các chị ở bên cạnh chị em cùng chia sẻ nỗi thiếu thốn mọi bề. Cuộc sống của chị em chúng tôi ngày đó cực lắm. Ngày,người được ba lạng gạo.Mỗi bữa cơm chỉ lửng bụng nhưng sớm ra ,vẫn đi chuyển hàng.Có những ngày gạo tiêu chuẩn chưa về kịp, chị em phải thay nhau tìm môn dóc,sắn củ,rau tàu bay về thế cơm để lấy sức vác hàng.Suốt đường đi ,cái cảm giác thèm cơm cứ cồn cào ruột gan khi mang trên lưng những bao gạo nặng trĩu.Nhưng không ai có ý nghĩ đụng đến những hạt gạo bên mình.

Những lần chuyển thuốc men cũng vậy.Có chị em ngày chuyển hàng,tối về lên cơn sốt, rét run phải đắp năm,sáu lớp quần áo lên người, vẫn chỉ uống nước lá cây cho qua cơn sốt, sáng ra lại đi làm nhiệm vụ.Chị em toàn chữa bệnh bằng các lá cây quen thuộc ở rừng.Sốt rét thì uống lá cây hoàng đằng,bị ghẻ thì dùng lá cây rù rì hái ở ven sông.Bởi vậy những mặt hàng chiến lược,những mặt hàng cần chuyển đi gấp trong điều kiện khó khăn, ác liệt lúc bấy giờ,đều được giao cho tiểu đoàn.Trong những chuyến đi ấy, có những chuyến hàng có người đã phải đổ máu,có những chuyến hàng có người phải hy sinh…

Những năm tháng ngược xuôi chuyển hàng, qua nhiều lần chết đi sông lại, chúng tôi nhận ra một điều là phải tự cứu mình và tự cứu cho nhau. Nếu nhớ về những ngày chúng tôi sống ở núi rừng khu Năm mà không nhớ về bao nỗi khổ cực, về những lần hút chết, những lần cứu nhau mừng đến rơi nưóc mắt là dối với lòng mình.

Tôi nhớ hoài lần Lựu bị thương ở Xuyên Truờng. Lần ấy lấy gạo xong, mọi người quay về.Vừa đến sông Trường thì gặp pháo tọa độ của địch. Thường là vậy, có những chuyến hàng lúc đi không gặp nhưng khi về lại bị dộ pháo ác liệt. Chị em vẫn cõng gạo qua sông. Tôi vượt qua sông đầu tiên. Khi được báo Lựu bị pháo còn nằm lại bên sông, không chút do dự tôi trút bao gạo hơn trăm ký trên vai xuống, bươn qua sông tìm Lựu. Chân Lựu đầm máu, gạo đổ vãi trên đất . Tôi hốt gạo vào bao, xốc Lựu cùng bao gạo lội qua sông. Lựu thì cứ khóc từng hồi trên lưng tôi.”Nín đi. Cõng mi mệt, tao không khóc thì thôi, răng mi khóc?”. Tôi làm mặt giận la Lựu. Lựu cố nín. Tiếng khóc vì vết thương và lo cho tôi mắc cục lại trong cổ Lựu. Đưa Lựu đến bệnh xá tiểu đoàn, tôi quay lại bờ sông. Pháo vẫn dội xuống tọa độ này. Đang đi, bước chân tôi bỗng loạng choạng theo tiếng gạo chảy rào rào sau lưng. Người tôi lạng đi, ngã sấp bên mép  nước. Khi về đến nơi, nhìn lại bao gạo thì ra thân bao đã bị hai miểng pháo cứa rách hai vệt lớn. Chuyến đi đó, tôi bị gọi lên kiểm điểm một trận nên thân vì đã liều lĩnh coi thường tính mạng. Lúc gặp lại Lựu, Lựu cứ rơm rớm nước mắt : “ Tại em, tại em mà chị bị kiểm điểm…” Thật tình lúc đó lòng tôi nhẹ nhõm lắm, vì tiểu đoàn đã làm tròn nhiệm vụ, còn chị em thì không ai phải hy sinh…

Lúc này, nhìn chị ngồi lặng lẽ, tôi chỉ muốn hỏi chị một điều sau những gì đã biết về chị, dẫu chưa phải đã là tất cả.

-Sao lại gọi tiểu đoàn của các chị là “ Tiểu đoàn bà Thao”?

Chị cười, vẻ ngại ngần:

-Tôi cũng không biết do đâu nữa. Hồi đó, tiểu đoàn nức tiếng vì luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ dù trong điều kiện khó khăn, ác liệt nào. Còn tôi được bầu là “Kiện tướng hành lang mang vác” của cả tiểu đoàn , suốt sáu năm liền. Tôi được cử đi dự đại hội “Dân quân du kích chiến tranh” toàn miền Trung. Ở đó, tôi gặp các chú lãnh đạo Cục hầu cần Quân khu Năm và các anh chỉ huy các đơn vị bạn. Ai cũng thật lòng khen tiểu đoàn và động viên tôi. Sau lần đại hội ấy nhiều người đã gọi tên tiểu đoạn tôi như vậy. Mãi đến năm 1972, khi tiểu đoàn giải thể vì lúc này hiệp định Pa-ri sắp được ký kết, đấu tranh chính trị mở ra, chị em được đưa về hoạt động ở các tỉnh, và cho đến sau này, tên gọi đó vẫn còn lưu lại.

 

T.T.Y

 

         

 

 

 

CÁC TIN KHÁC
Dãy nhà mưa – Thơ Nguyễn Thị Anh Đào (13-12-2018)
Mùa mưa ở căn cứ - Thơ Thanh Quế (12-12-2018)
Tín ngưỡng của ngư dân ven biển Đà Nẵng - Ngọc Giao (11-12-2018)
Trưa trong vườn chùa Thiền Tôn ở Huế - Thơ Nguyễn Nhã Tiên (10-12-2018)
Ngóng đợi – Thơ Ngân Vịnh (09-12-2018)
Chuyện không đâu - Truyện ngắn của Thục Quân (08-12-2018)
Còn nốt nhạc tháng giêng – Thơ Đinh Thị Như Thuý (07-12-2018)
Nụ cười qua gương - Thơ Bùi Mỹ Hồng (06-12-2018)
Nói vậy thôi – Thơ Lê Huy Hạnh (05-12-2018)
Lời biển – Lê Hồng Nhuận (03-12-2018)
Đôi điều về tính chất lưu dân trong ca dao Quảng Nam - Đà Nang – Bùi Văn Tiếng (30-11-2018)
Từ những nhịp cầu – Đặng Phương Trinh (29-11-2018)
Thím tôi - Hoàng Nhật Tuyên (24-11-2018)
Cõi lặng – Truyện ngắn Thục Quân (21-11-2018)
Anh đâu – Thơ Cẩm Lệ (19-11-2018)
Văn hoá, nhìn từ góc độ phát triển thành phố - Lê Hồng Nhuận (17-11-2018)
Linh cảm – Truyện ngắn Trần Trung Yên (16-11-2018)
Nén lại – Thơ Nguyễn Thị Anh Đào (14-11-2018)
Ẩm thực của ngư dân Đà Nẵng qua ca dao, tục ngữ - Ngọc Giao (13-11-2018)
Lửa không tắt – Thơ Nguyễn Nhã Tiên (12-11-2018)
Thứ sáu, ngày 14/12/2018
Tôi tự do, cho dù xung quanh tôi là những luật lệ gì. Nếu tôi thấy chúng có thể chấp nhận được, tôi chấp nhận chúng; nếu tôi thấy chúng quá khó chịu, tôi phá vỡ chúng. Tôi tự do bởi tôi biết bản thân tôi chịu trách nhiệm trước lương tri mình vì mọi điều t
Robert A Heinlein

Đừng âu sầu khi nói lời tạm biệt, lời tạm biệt là cần thiết trước khi ta có thể gặp lại nhau, và gặp lại nhau, cho dù sau khoảng thời gian ngắn ngủi hay sau cả một đời, là điều chắc chắn sẽ xảy ra với những người bạn hữu.
Richard Bach

Một người bạn cũng giống như ngôi sao bắc đẩu, bạn trông vào họ khi bạn lạc đường.
Khuyết danh

Tình yêu không không phải toàn bộ đều là cơn mê sảng, nhưng nó có rất nhiều điểm giống.
Thomas Carlyle

Thành công trong tình yêu không phụ thuộc nhiều vào việc tìm được người có thể làm bạn hạnh phúc bằng việc trốn thoát vô số người có thể làm bạn khổ sở.
Khuyết danh

Cũng như thung lũng cho ngọn núi chiều cao, khổ đau cho lạc thú ý nghĩa; cũng như mạch nước là nguồn của suối, nghịch cảnh sâu sắc có thể là châu báu.
William Arthur Ward

Sự mất mát khiến chúng ta trống rỗng - nhưng hãy học cách không để sự đau khổ đóng lại trái tim và tâm hồn mình. Hãy để cuộc đời đổ đầy lại bạn. Dưới đáy u sầu, dường như điều đó là không thể - nhưng những niềm vui mới đang chờ đợi để lấp đầy khoảng trống
Pam Brown

Hãy yêu tôi khi tôi ít xứng đáng với tình yêu ấy nhất, Bởi đó là lúc tôi thực sự cần nó.
Tục ngữ Thụy Điển

Đừng đếm những gì bạn đã mất, hãy quý trọng những gì bạn đang có và lên kế hoạch cho những gì sẽ đạt được bởi quá khứ không bao giờ trở lại, nhưng tương lai có thể bù đắp cho mất mát.
Khuyết danh

Đôi lúc cũng cần thiết dừng chân trong cuộc hành trình theo đuổi hạnh phúc, và chỉ đơn giản là cảm thấy hạnh phúc.
Guillaume Apollinaire

Tôi, không phải tình huống, có sức mạnh làm tôi hạnh phúc hay bất hạnh ngày hôm nay. Tôi có thể chọn nó sẽ thế nào. Ngày hôm qua đã chết. Ngày mai còn chưa tới. Tôi chỉ có một ngày, Hôm nay, Và tôi sẽ hạnh phúc với nó.
Groucho Marx

Khi một cây sồi đổ, cả khu rừng vang vọng tiếng đổ của nó, nhưng hàng trăm hạt sồi được cơn gió thoảng qua lặng lẽ gieo.
Thomas Carlyle

Thứ duy nhất có thể cứu được thế giới là phục hồi nhận thức của thế giới. Đó là công việc của thi ca.
Allen Ginsberg

Tình yêu là trạng thái mà khi đó hạnh phúc của một người khác trở nên cực kỳ quan trọng đối với hạnh phúc của bạn.
Robert A Heinlein

Với những kẻ độc ác, mọi thứ đều là cái cớ.
Voltaire

Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử trên Internet : Số 11/GP - BC Do Bộ thông tin và truyền thông , Cục Báo chí cấp ngày 10 tháng 01 năm 2008.
- Địa chỉ: K54/10 - Ông Ích Khiêm, Thành phố Đà Nẵng
- Điện thoại : 0511-3821434 - Fax: 0511-3519300,
- Tổng biên tập: Nguyễn Thị Thu Hương
- Email: lhvhntdanang@gmail.com - Website: vannghedanang.org.vn