Dạy con từ thuở còn thơ – Truyện Lam Ngọc

21.11.2012

Bà ngoại

Tôi bảy tuổi.

Bà ngoại nói đã đến lúc tôi phải biết làm một số việc nhà. Bà ngoại dẫn tôi đi chợ. Bà xin phép bà bán cá cho dùng con cá để giải thích cho cháu. Bà ngoại nói: Con cá còn tươi là khi con lật cái mang lên và thấy mang cá còn màu hồng. Vậy là, ngay từ bảy tuổi, tôi biết lựa cá ngon

Dạy con từ thuở còn thơ – Truyện Lam Ngọc

Tôi quét nhà. Bà ngoại rầy: Quét nhà mà lưng cứ thẳng băng là nhà sẽ không bao giờ sạch. Làm sao thấy các ngóc ngách để móc hết rác và bụi ra. Khi tôi đã làm mẹ, tôi cũng đã dạy con phải hơi khom lưng, nhìn vào tận các ngóc ngách để quét nhà cho sạch.

 

 

Tôi phơi áo quần. Bà ngoại chỉ: Phơi quần không được để lộ đáy cho người ngoài nhìn thấy… Và bà ngoại chỉ cho tôi cách phơi quần cho kín đáo, cách phơi áo cho thẳng ngay. Con gái tôi đã được lòng tin của bà mẹ chồng tương lai khi bà quan sát con tôi phơi quần áo.

Tôi tám tuổi.

Mê một món đồ chơi, tôi ăn cắp của ông ngoại năm cắc. Bà ngoại hỏi tôi lấy tiền đâu mà mua. Tất nhiên, tôi nói dối. Bà ngoại không rầy, không mắng, chỉ rất buồn và nói là con làm bà ngoại mắc cỡ với mọi người vì nhà mình không phải là nhà ăn cắp, cũng không bao giờ nói dối. Từ lúc đó đến từng này tuổi đầu, tôi vẫn khắc khoải nhớ Bà và ráng sống ngay thẳng. Gian dối trở thành kẻ thù.

Tôi mười một tuổi, chuẩn bị xa nhà ra miền Bắc.

 Bà ngoại dặn: Con gái có ý có tứ, khi nằm phải kín đáo, nằm nghiêng, khép chân, không nằm ngửa để khi ngủ mê, không bị hớ hênh. Thói quen nằm nghiêng do có lời dặn của Bà.

Anh em chúng tôi vắng nhà trong cuộc chiến tranh, kẻ thì đi học, người đi công tác. Bà ngoại thay chúng tôi, hàng năm đến ngày giỗ của ba, mang đến cho mỗi nhà bên nội một mâm cúng. Bà ngoại nói: Làm người phải biết "ơn đền, nghĩa trả”. Tôi vẫn hằng lòng dặn lòng và dặn dò con cháu: Có ơn thì phải đền, có nghĩa thì phải trả, có giận thì phải quên.

Tôi ba mươi tuổi. Bà ngoại đã mù lòa bị đưa tới nhà tù gặp cháu ngoại với hy vọng bà khuyên cháu nên khai các bí mật của công việc mà về với bà. Bà ngoại cầm tay tôi mà nói: Con à, hùm chết để da, người ta chết để tiếng. Con liệu mà sống sao cho phải đạo.

Sống cho phải đạo, không dễ dàng đâu, nhưng bà đã dạy thì phải ráng làm theo, làm theo cho đến phút cuối cùng của cuộc đời.

Năm nay tôi đã hơn bảy mươi tuổi. Những lời dạy ấy của bà ngoại đã đồng hành với tôi trong hơn sáu mươi năm qua, và giúp tôi làm gần trọn phận làm người.

Mẹ

Từ lúc bảy tuổi, cứ mỗi chủ nhật mẹ dẫn chị em chúng tôi đến Hội Dục Anh (gần chợ Thái Bình) thăm các bạn mồ côi. Cùng chơi, cùng chia bữa cơm với các bạn, những chủ nhật ấy đã làm cho tâm hồn trẻ thơ hiểu được hạnh phúc lớn lao của người còn mẹ, cái may mắn có những bữa cơm chung với ông bà. Mẹ đã tập cho tôi hiểu cái lẽ tự nhiên của sự sẻ chia. Khi hai cháu ngoại của tôi đập ống heo của mình, cùng với bà đi đến mái ấm tặng mấy đồng xu để dành cho các anh chị nạn nhân da cam, tôi bật khóc vì nhớ mẹ, nhớ những chủ nhật của mấy mươi năm trước và muốn nói với vong linh của mẹ rằng bài học về sự chia sẻ của mẹ không bị thất lạc. Cảm giác may mắn với số phận hiện tại luôn giúp tôi tâm bình chính nhờ từ nhỏ mẹ đã cho tôi thấy có bao nhiêu người bất hạnh hơn mình dù cái hạnh phúc của mình cũng thật nhỏ nhoi.

Có một lần, mẹ tỉ mẩn bắt chí cho đứa con gái mười tuổi. Mẹ nói chỉ mong con là người bạn nhỏ của mẹ. Mong ước đó của mẹ không thành. Bà đã bị Mỹ chôn sống trong chiến tranh. Nhưng hai đứa con gái còn lại của tôi (chị lớn đã chết vì chất độc da cam) đã thực sự trở thành người bạn nhỏ của tôi, cùng chia sẻ với tôi những vui buồn của cuộc sống hôm nay. Chỉ không hiểu hai bạn nhỏ của tôi có hiểu được cái may mắn là người bạn già này vẫn còn đồng hành với mình? Và tất cả những ai còn có cha, có mẹ, dù cha mẹ có cao tuổi, có khi đã lẩm cẩm, có lúc đã lẩn thẩn có hiểu được cái hạnh phúc lớn lao còn được hưởng sự chở che của người bạn lớn? Vì sau đó, dù có muốn đánh đổi cả thế giới để có, dù một giây, cái hạnh phúc ấy thì cũng không bao giờ được nữa.

Đứa bé mười một tuổi gặp lại mẹ sau hơn mười năm xa cách. Bị mẹ rầy, cô gái hai mươi hai tuổi xịu mặt như những năm còn thơ. Mẹ nói: Bị rầy mà "ụ mặt” như vậy thì làm sao thấy được lỗi mà sửa? Câu rầy đó, câu rầy cuối cùng của mẹ, đã đi với tôi suốt mấy mươi năm qua, nhắc tôi nhớ rằng, muốn nên, muốn tốt, phải biết bình tĩnh mà nghe lời phê bình. Cũng cho tôi thấm thía hơn rằng, dù bao nhiêu tuổi, trong mắt người mẹ, đứa con vẫn là đứa con bé bỏng, cần dạy, cần rầy cho nó nên người. Dù có lớn bao nhiêu thì trước mẹ, đứa con cũng quay về lại những thói quen của tuổi ấu thơ.

Trong những dòng thư gởi ra miền Bắc từ trong các nhà tù miền Nam, mẹ không kể về những tra tấn, cực hình mà bà và các dì, các chú bác đang chịu, mà chỉ dặn con gái rằng xung quanh mình còn nhiều khổ cực, con không nên đua đòi mà phải dồn sức để học cho giỏi.

Cứ như vậy, dù đã đến tuổi thất thập, những lời mẹ dạy vẫn dẫn dắt tôi đi.

Thầy Cô

Thuở đó, đất nước bị chia cắt, chúng tôi sống và học trong những ngôi trường ở miền Bắc được gọi là trường học sinh miền Nam, trong khi cha mẹ của đa số chúng tôi còn ở lại miền Nam.

Các thầy cô của chúng tôi hầu hết là người miền Bắc, đã tình nguyện vào trường sống cùng chúng tôi. Không chỉ dạy chữ, dù còn rất trẻ, các thầy cô đã làm đúng vai trò thay cha mẹ mà chăm sóc chúng tôi. Có đứa khóc vì nhớ nhà, thầy cô lau nước mắt, có đứa không chịu học, thầy cô năn nỉ, đứa nào bịnh đã có bàn tay của thầy cô đặt lên trán. Quẩn quanh bên đám học trò, đâu còn thời gian cho thầy, cho cô đi về với gia đình, đi gặp bạn bè, đi tìm người yêu. Cô giáo Ngọc của tôi đến khi chợt nghĩ đến mình thì hạnh phúc lứa đôi hình như đã đi xa. Cô giáo Thạch của tôi, không đành bỏ học trò trong những ngày nghỉ, đã gởi người yêu cho bạn chăm sóc để rồi người yêu thuộc luôn về bạn. Các thầy giáo trẻ, dù lòng có xao xuyến trước các chị học sinh lớn, vẫn phải kìm lòng mà giữ sự nghiêm nghị cần thiết. Sự hy sinh lớn lao đó có sức mạnh hơn ngàn lời răn dạy và đã giúp các học sinh miền Nam chúng tôi có thêm nghị lực mà sống, mà học tập, và trưởng thành.

Một lần, tôi chợt chứng kiến câu chuyện của cô giáo với bạn tôi:

 - Em làm bài xong chưa?

 - Rồi

 - Em làm bài xong chưa?

 - Rồi

Cô giáo đặt câu hỏi lần thứ ba, bạn tôi lúng túng và cuối cùng, dường như hiểu ra, vừa cười vừa trả lời:

 - Thưa cô rồi.

Cô giáo cũng cười, giải thích: Em tập thói quen tốt hôm nay để còn biết mà dạy con của mình khi em là cha. Đúng vậy, dạy học sinh của mình hôm nay chính vì sự trưởng thành mai sau. Con và cháu của tôi, nhờ vậy mà biết dạ, biết thưa mỗi khi nói chuyện với người lớn, dù đã từng có lúc người ta xem đó là tàn tích của chế độ phong kiến. Trong các nhà trường hôm nay thường có khẩu hiệu "tiên học lễ, hậu học văn”. Cái lễ ấy phải dạy các em từ nhỏ như năm xưa cô giáo đã dạy chúng tôi.

Những năm đầu sau giải phóng, đất nước nghèo, thầy cô giáo càng nghèo hơn. Thầy cô ốm o, xanh xao. Nhiều, nhiều lắm những ngày lên lớp mà trong bụng không có hột cơm dù là cơm trộn bo bo. Vậy mà thầy cô không bỏ tiết, không vắng mặt, vẫn cần mẫn lên lớp, vẫn cho học trò lòng tận trung của mình. Tan lớp, có thầy lặng lẽ đi đạp xích lô, có cô kín đáo đi bán lại nhu yếu phẩm vừa được phân phối. Không như bây giờ, lúc ấy thầy cô đi xe đạp là chính, trừ một vài chiếc Honda đã quá cũ.

Hơn nhiều lời dạy, những hình ảnh đau nhưng mà đẹp ấy đã đi cùng với những lớp học sinh của những năm đầu gian khổ, trên những đoạn đường có khi cũng lắm chông gai, để hôm nay, không ít người đã làm nên sự nghiệp hay chí ít cũng có một nghề đàng hoàng, một gia đình đầm ấm nhưng mỗi lần gặp lại nhau đều nhắc đến các thầy cô năm xưa.

Cám ơn Cô, cám ơn Thầy.

Tôi

Khi tôi còn nhỏ, tôi hạnh phúc được Ông Bà Cha Mẹ, mỗi người một cách, dạy tôi nết ăn, nết ở. Dù xa nhà rất sớm, dù được thầy cô chăm sóc, tập thể rèn luyện, nhưng những gì được dạy từ nhỏ đã in sâu vào tâm thức, và tôi luôn biết ơn Ông Bà Cha Mẹ đã trao cho tôi những gì tốt đẹp mà tôi giữ được đến hôm nay.

Đến lượt tôi làm mẹ, tôi cũng muốn tạo cho con những thói quen tốt, những tính cách đẹp, trao cho con cái may mắn mà tôi đã nhận. Nhưng tôi không có cái dịu dàng của mẹ, không có sự kiên nhẫn của bà, không có sự tế nhị kín đáo của ông. Thương con 99 ngày, đến ngày thứ 100, không tự kềm chế được, tôi lớn tiếng với con. Cái ngày thứ 100 ấy sẽ là ngày duy nhất còn lưu lại trong tâm trí trẻ thơ. Một lần khác, dạy mãi không được, tôi cầm roi đánh con. Tâm hồn con bị tổn thương và những yêu thương của mẹ bị xóa nhòa.

Tôi bây giờ đã là bà của mấy đứa cháu ngoại dễ thương. Bất chợt nghe con lớn tiếng với cháu, bất chợt thấy con đánh cháu, tôi cũng bất chợt như có muối xát trong lòng. Không rầy, không can con được vì chính tôi đã tạo cho cháu thói quen không đẹp này.

Làm sao có thể quay ngược lại quá khứ để xóa đi trong lòng con vết thương, để con đừng đến lượt mình truyền lại cho những đứa cháu thơ ngây của tôi thói quen dạy dỗ sai lầm này.

Tôi có hai người con gái, mỗi người một tính cách, mỗi người sinh ra trong những hoàn cảnh khắc nghiệt khác nhau. Hai con của tôi đã trải qua bốn năm đầu đời - những năm quan trọng nhất cho việc hình thành nhân cách - khác nhau nên cũng thu lượm được những thói quen và những nét tính cách khác nhau. Con gái lớn của tôi đôi khi làm tôi đau lòng. Dẫu biết con mình thực sự là nạn nhân của hoàn cảnh, nhưng thay vì kiên nhẫn dạy con, nhẹ nhàng xoa dịu đi những năm tháng đầu đời con không được sống cùng với mẹ, tôi nghiêm khắc, nóng giận với con. Nghiêm khắc vì muốn con mau bỏ những tính không hay con đã nhiễm phải khi không có mẹ bên cạnh. Giận thân bất lực, giận hoàn cảnh đã đẩy mẹ con tôi vào nỗi đau này, tôi lại trút nóng giận vào con. Càng như vậy, mẹ con tôi càng xa nhau, con tôi mang một vết thương sâu trong lòng không gì lấp đầy được, vì thấy mình bị mẹ cư xử bất công. Tôi đau khổ vì thấy mình là một người mẹ thất bại, vì tim mình lúc nào cũng đau nhói khi nghĩ đến đứa con gái đáng thương này.

Con tôi đã bốn chục tuổi, rất tự hào với hai đứa con xinh xắn của mình. Mới đây, trong câu chuyện vui, người mẹ trẻ khoe rằng đã dùng những điều được mẹ dạy từ nhỏ để dạy lại con mình. Và con gái của tôi nói thêm: Con đã từng bị đối xử bất công nên con không bao giờ bất công với con của con đâu, mẹ đừng lo.

Câu nói ấy như một mũi dao nhọn đâm xoáy vào tim người làm mẹ thất bại này. Tôi đã từng dùng cuộc đời của chính mình để trải một tấm thảm đỏ cho con bước đi, để con có cuộc sống đẹp của hôm nay. Cũng đã từng hy sinh những năm tháng còn có thể hạnh phúc riêng để chuộc lại lỗi lầm của mình đối với con, nhưng vô ích. Con tôi không thể quên.

Và hôm nay nữa, nếu có thể lấy phần đời còn lại để trả giá cho sai lầm của mình thì tôi sẽ không một giây ngần ngại. Cả điều này cũng sẽ không làm cho vết thương trong lòng con tôi biến mất.

Xin những người làm cha, làm mẹ đừng vì những nỗi đau của chính mình mà tạo vào lòng con thơ những vết thương không gì chữa lành, những ân hận không bao giờ nguôi.

Cái máy lầm bầm

Bạn của chúng tôi qua đời vì đột qụy. Chỉ có những người bạn đã cùng học với anh từ năm mươi năm trước đến tiễn đưa, chăm sóc cho chuyến đi cuối cùng của anh.

Mọi việc chu toàn, chúng tôi quây quần, lan man nhắc những kỷ niệm, về người quá cố, về những năm xưa. Có một câu làm mọi người bật cười: Nghĩ cho cùng, có cái máy lầm bầm vẫn hơn.

"Cái máy lầm bầm” ở đây là người vợ nhà. Lầm bầm khi chồng nhậu nhiều, khi chồng về trễ, lầm bầm khi nhà cửa lộn xộn, đồ đạc vất lung tung. Lầm bầm cả khi chồng ăn ít, sợ không đủ chất sẽ bịnh, cả khi chồng ăn nhiều quá một chén cơm sẽ phát phì, lầm bầm bất cứ lúc nào, bất cứ chuyện gì. Nhưng không lầm bầm khi tất tả chợ búa nấu cho cả nhà những bữa cơm ngon, nấu cho chồng nồi nước xông, khi thay cho chồng cái áo bị sờn, cái quần quá cũ. Không bao giờ lầm bầm khi chính mình mệt mỏi ốm đau. Cái máy lầm bầm làm ấm nhà, cho cảm giác yên ổn. Cho nên, nói gì thì nói, đi đâu thì đi rồi cũng quay về tìm sự chăm sóc yêu thương mộc mạc của "cái máy lầm bầm vợ”.

Nhưng cũng còn một cái máy lầm bầm khác, có khi khó chịu hơn vì dai dẳng hơn - cái máy lầm bầm mẹ. Vợ lầm bầm còn có điểm dừng, nếu không chồng có thể bực mình mà bỏ đi tìm bạn nhậu tiếp, mắc công khi trở về phải pha nước chanh cho giã rượu. Mẹ thì lúc nào cũng nghĩ con còn non dại, lúc nào cũng muốn bao bọc, rầy la sợ con đua đòi chúng bạn, lo con chểnh mảng học hành, băn khoăn cho từng mối quan hệ bè bạn của con. Mẹ lầm bầm với tất cả yêu thương, mà không nghĩ là có lúc, con cũng ngán ngẩm với những bài ca không dứt ấy.

Mà thật vậy, con càng lớn, quan hệ xã hội được mở rộng, con cái tiếp thu những cái mới đang dồn dập tràn ngập. Nếu "cái máy lầm bầm mẹ” không tự cập nhật thì có thể khoảng cách Mẹ - Con sẽ ngày càng dài ra, và những lầm bầm có lúc có tác dụng ngược.

Hiếm khi con biết những đêm không lầm bầm mà trăn trở của mẹ vì những vấp ngã của con. Hiếm khi con thấy được những se thắt lòng mỗi khi con rơi nước mắt vì bất cứ lý do gì. Và, có lẽ con sẽ không bao giờ hiểu được là niềm vui của con là niềm vui nhân đôi trong lòng mẹ, nỗi đau của con là nỗi đau nhân trăm lần cho trái tim của bất cứ người mẹ nào trên trái đất này.

Rồi có một ngày, cái máy lầm bầm mẹ ngưng hoạt động. Lễ Vu Lan đến, hoa hồng con cài áo đổi màu. Con chợt thảng thốt gọi Mẹ ơi, mong một lần được nghe tiếng lầm bầm rất đỗi thân thương… Không trung thinh lặng.

Cho nên, hỡi những ai còn vợ, còn mẹ, còn những cái máy lầm bầm trong nhà, hãy biết trân trọng niềm hạnh phúc lớn lao của mình.

Lam Ngọc

Nguồn: http://daibieunhandan.vn