CÁC SỐ KHÁC
   + Số 263 (Xuân Canh Tý 2020)
   + Số 262 (Tháng 12/2019)
   + Số 261 (Tháng 11/2019)
   + Số 260 (Tháng 10/2019)
   + Số 259 (Tháng 9/2019)
   + Số 258 (Tháng 8/2019)
   + Số 257(Tháng 7/2019)
   + Số 256 (Tháng 6/2019)
   + Số 255 (Tháng 5/2019)
   + Số 254 (Tháng 4/2019)
   + Số 253 (Tháng 3/2019)
   + Số 252 (Tháng 1+2/2019)
   + Số 251 (Tháng 12/2018)
   + Số 250 (Tháng 11/2018)
   + Số 249 (Tháng 10/2018)
   + Số 248 (Tháng 9/2018)
   + Số 247 (Tháng 8/2018)
   + Số 246 (Tháng 7/2018)
   + Số 245 (Tháng 6/2018)
   + Số 244 (Tháng 5/2018)
   + Số 243 (Tháng 4/2018)
   + Số 242 (Tháng 3/2018)
   + Số 241 (Tháng 1+2 /2018)
   + Số 240 (Tháng 12/2017)
   + Số 239(Tháng 11/2017)
   + Số 238 (Tháng 10/2017)
   + Số 237 (Tháng 9/2017)
   + Số 236 (Tháng 8/2017)
   + Số 235 (Tháng 7/2017)
   + Số 234 (Tháng 6/2017)
   + Số 233 (Tháng 5/2017)
   + Số 232 (Tháng 4/ 2017)
   + Số 231 (Tháng 3/ 2017)
   + Số 230 (Tháng 1+2/ 2017)
   + Số 229 (Tháng 12/ 2016)
   + Số 228 (Tháng 11/ 2016)
   + Số 227 (Tháng 10/ 2016)
   + Số 226 (Tháng 9/2016)
   + Số 225 ( Tháng 8/2016)
   + Số 224 (Tháng 7 - 2016)
   + Số 223 (Tháng 6/2016)
   + Số 222 (Tháng 5/2016)
   + Số 221 (tháng 4/2016)
   + Số 220 (tháng 3/2016)
   + Số 218 + 219 (Xuân Bính Thân)
   + Số 217 (tháng 12/ 2015)
   + Số 216 (Tháng 11/ 2015)
   + Số 215 (Tháng 10/ 2015)
   + Số 214 (Tháng 9/ 2015))
   + Số 213 (Tháng 8/ 2015)
   + Số 212 (Tháng 7/ 2015)
   + Số 211 (Tháng 6/ 2015)
   + Số 210 (Tháng 5/ 2015)
   + Số 209 (Tháng 4/ 2015)
   + Số 208 (Tháng 3/ 2015)
   + số 206 + 207 (số Xuân Ất Mùi 2015)
   + Số 205 (Tháng 12/ 2014)
   + Số 204 (Tháng 11/ 2014)
   + Số 203 (Tháng 10/ 2014)
   + Số 201 + 202 (Tháng 8,9/ 2014)
   + Số 200 (Tháng 7/ 2014)
   + Số 199 (Tháng 6/ 2014)
   + Số 198 ((Tháng 5/ 2014)
   + Số 197 (Tháng 4/ 2014)
   + Số 196 (Tháng 3/ 2014)
   + Số 194 + 195 (Xuân Giáp Ngọ 2014)
   + Số 193 (Tháng 12/ 2013)
   + Số 192 (Tháng 11/ 2013)
   + Số 191 (Tháng 10/ 2013)
   + Số 190 (Tháng 9/ 2013)
   + Số 189 (Tháng 8/ 2013)
   + Số 188 (Tháng 7/ 2013)
   + Số 187 (Tháng 6/ 2013)
   + Số 186 (Tháng 5/ 2013)
   + Số 185 (Tháng 4/ 2013)
   + Số 184 (Tháng 3/ 2013)
   + Số 183 (Xuân Quý Tỵ/ 2013)
   + Số 182 (Tháng 12/ 2012)
   + Số 181 (Tháng 11/ 2012)
   + Số 180 (Tháng 10/ 2012)
   + Số 179 (Tháng 8,9/ 2012)
   + Số 178 (Tháng 7/ 2012)
   + Số 177 (Tháng 6/ 2012)
   + Số 176 (Tháng 5/ 2012)
   + Số 175 (Tháng 4/ 2012)
   + Số 174 (Tháng 2,3/ 2012)
   + Số172 +173 (Xuân Nhâm Thìn 2012)
   + Số 171 (Tháng 11/ 2011)
   + Số 170 (Tháng 10/ 2011)
   + Số 169 (Tháng 8,9/ 2011)
   + Số 168 (Tháng 7/ 2011)
   + Số 167 (Tháng 6/ 2011)
   + Số 166 (Tháng 5/ 2011)
   + Số 165 (Tháng 4/ 2011)
   + Số 164 (Tháng 3/ 2011)
   + Số163 Xuân Tân Mão 2011
   + Số 162 (Tháng 12/ 2010)
   + Số 161 (Tháng 10,11/ 2010)
   + Số 160 (Tháng 9/ 2010)
   + Số 159 (Tháng 7/ 2010)
   + Số 158 (Tháng 6/ 2010)
   + Số 157 (Tháng 5/ 2010)
   + Số 156 (Tháng 4/ 2010)
   + Số 155 (Tháng 3/ 2010)
   + Số 153-154 Xuân Canh Dần 2010
   + Số 152 (Tháng 12/ 2009)
   + Số 151 (Tháng 11/ 2009)
   + Số 150 (Tháng 10/ 2009)
   + Số 149 (Tháng 8,9/ 2009)
   + Số 148 (Tháng 7/ 2009)
   + Số 147 (Tháng 6/ 2009)
   + Số 146 (Tháng 5/ 2009)
   + Số 145 (Tháng 4/ 2009)
   + Số 143 (Tháng 3/ 2009)
   + Số 141-142 Xuân Kỷ Sửu 2009
   + Số 139-140 (Tháng 11,12/ 2008)
   + Số 138 (Tháng 10/ 2008)
   + Số 137 (Tháng 9/ 2008)
   + Số 136 ( (Tháng 8/ 2008)
 
Số 161 (Tháng 10,11/ 2010)
 
Những khúc ca lặng thầm

Nguyễn Nhã Tiên

Bút ký

Chạy xe qua những cung đường hãy còn đen láng màu nhựa mới dưới dãy chân núi Hải Vân - Bạch Mã, nhìn thôn bản ruộng đồng định cư định canh của đồng bào dân tộc cơtu ở Hòa Bắc, tôi lại nhớ đến cô bé Đinh Thị Nga xinh xắn mặc bộ váy áo truyền thống trong lần tôi mang sách vở lên tặng các em học sinh ở Hòa Bắc. Ngày ấy Nga là một trong số hiếm hoi những học sinh ở thôn Tà Lang theo học ở trường nội trú dân tộc. Hôm em về thăm nhà thì gặp chúng tôi lên. Có sự hiện diện của Nga, cuộc gặp mặt giữa chúng tôi và các em thiếu niên ở các thôn bản dễ trở thành gần gũi với nhau hơn. Em kể cho tôi nghe những ngày tháng đầu tiên vào trường nội trú, nhớ nhà nhớ làng bản tưởng không chịu nổi. Nhiều lần Nga đã trốn nội trú về lại nhà, nhưng rồi gặp cán bộ, gặp già làng, ai cũng khuyên cố gắng mà học đem cái chữ về làng dạy lại cho các em thơ. Nghe tôi hỏi: Nga thử nói về những mơ ước của em. Nga bảo: Em mơ ước nhiều lắm. Nào là có điện về làng, có cái nhà xây ở cho chắc, cái trường học xây cho to và đẹp, rồi còn cái cầu bắc qua sông. Mấy đứa trẻ lem luốc đứng chung quanh góp thêm vào: Còn có chiếc xe đạp đến trường cho con đường bớt xa nữa. Ở một vùng núi non gieo neo và đầy ắp khó khăn như thôn bản Tà Lang, Giàn Bí vào năm tháng ấy, nhưng mơ ước như thế có khác gì với tay lên đòi hái sao trời.

Vậy mà bây giờ “sao trời” - tức là ánh đèn điện đã sáng khắp núi đồi Hòa Bắc. Nguồn kinh phí của thành phố Đà Nẵng cấp cho từng hộ xây nhà được bàn tay bộ đội đóng góp công sức xây dựng. Những con đường trong thôn bản đã được láng bê-tông phẳng phiu. Nhà Gươl, trường học sáng rỡ gương mặt văn hóa thôn bản. Để Hòa Bắc có được như hôm nay, công đầu phải nói đến sự tích cực lao động giúp dân của từng đơn vị bộ đội. Lính vỡ đất khai hoang, lính xây nhà cho dân, lính làm thủy lợi dẫn nước về cho đồng ruộng. Cả những khi, những lúc bộ đội làm thầy giáo, bộ đội làm...quan tòa phân xử chuyện phải quấy do tục mê tín, hoặc đám thanh niên trong làng rượu chè say sưa quấy quá. Câu chuyện do những người lính kể lại không rõ hư thực như thế nào, nhưng mỗi lần nghe, tôi bảo đảm tính hài hước còn hơn cả mấy cái tiểu phẩm trên những sân khấu do các diễn viên hài ngôi sao trình diễn. Số là ngày kéo điện về làng, móc điện vào từng nhà dân, đèn điện mở sáng suốt đêm ngày. Hóa ra công nhân ngành điện quên hướng dẫn cho bà con dân tộc biết cách tắt con tắc đèn. Thế là dân đi kiện mấy ông thợ điện, vì họ mà cả thôn bản lâm vào cái cảnh mất...hết đêm. Mà ban ngày suốt thì làm thế nào ngủ nghỉ được. Không ngủ nghỉ được thì phải...thức và vì phải thức nên chồng vợ sinh con đẻ cái đông hơn, còn lũ trẻ con cứ mở tráo mắt ra nhưng lại đến trường lớp học không nổi cái chữ. Câu chuyện vui về điện mỗi lần kể lại nghe thêm thắt một ít góp thành câu chuyện tiếu lâm truyền kỳ. Riết rồi không chỉ lính kể mà trai tráng trong làng cũng kể. Ví như nghe chuyện cô sơn nữ nào đó, vào buồng thấy điện sáng chóa mắt, hoảng quá kéo vội váy lên che mặt ù té chạy ra rừng. Khổ cho chàng trai nào đấy đi ngang qua nhìn rõ mười mươi “cái tòa thiên nhiên” của sơn nữ. Vậy là bị phạt vạ, bị bắt đền phải cưới làm vợ. Những câu chuyện vui như thế tưởng như không hồi kết thúc, nó thành sức sống nuôi dưỡng mọi niềm lạc quan và tin yêu tỏa xanh bóng mát như cây rừng ngày ngày lớn lên!

Dường như núi từ ngày có điện thắp sáng núi vui hơn, tưng bừng hơn. Tivi có, karaoke cũng có. Cái màu sắc phố thị chừng như làm cho gương mặt núi rừng bớt đi, xua đi sự thâm nghiêm thăm thẳm, và vẻ đẹp hoang liêu vì thế có nơi trở thành lỗ chỗ những chằm vá nhốn nháo đua bơi. Bao ánh lửa bập bùng soi hồng hào những điệu nhảy tung tung hùng dũng của các chàng trai hòa với những điệu múa mềm mại za zã của các thiếu nữ dường như mỗi ngày một thêm thưa thớt. Ở Hòa Bắc của Đà Nẵng, nói cụ thể hơn là hai thôn Tà Lang và Giàn Bí, nơi có đến ba trăm hộ đồng bào dân tộc cơtu sinh sống không đến nỗi như những làng dân tộc ở thủy điện A Vương (Quảng Nam) phải khuôn vào những khu tái định cư đã được san ủi trắng từng thớt đất và phân lô xây dựng gần giống như kiểu nhà ống ở các đô thị. Cho dù là vậy, nhưng vì là vùng núi tiếp nối ven ngoại ô Đà Nẵng, vì vậy bên cạnh những ưu thế tiếp cận với văn minh xã hội thì những cảnh báo về mặt tiêu cực luôn là sự cần thiết. Sự độc đáo về văn hóa của các vùng miền, từ miền núi cho đến vùng biển cũng chính là sự độc đáo của văn hóa Đà Nẵng. Hiếm có một thành phố nào có nhiều ưu thế tự nhiên như Đà Nẵng: “Núi trong lòng thành phố, phố trong lòng biển khơi”, hẳn núi ở đây không chỉ là Sơn Trà mà còn là những Hòa Bắc, Hòa Phú, Hòa Ninh. Cũng chính vì thế mà tầng vĩa văn hóa đa sắc hơn, đa thanh hơn. Sự độc đáo bao giờ cũng là hấp lực kích thích bao mê say khám phá, mà non cao rừng thẳm cho đến biển mênh mông kia luôn ẩn tàng một niềm bí mật, đi hoài không thấy tới, ngắm hoài chỉ thấy đường chân trời cám dỗ mọi giấc mơ bay xa!

Như con đường chiều nay réo gọi tôi đi về hướng núi. Bất chợt tôi nhìn lên trên đỉnh núi chon von nơi mây trắng bốn mùa tươi tốt. Hình như, trên cái đỉnh núi Bạch Mã cao vời vợi ấy, thuở xa xưa từng bao lớp người khai phá vượt qua tiến về phương Nam mở đất. Vẫn cái thuở ngày xửa ngày xưa ấy, thời lập nên những làng mạc dưới chân phía Nam dãy núi này, người ở Bắc - Hòa Vang qua lại đi chợ Nam Đông (Thừa Thiên) mòn gót trên những lối đi chênh vênh ấy. Mãi về sau, đường đèo Hải Vân mới được mở ra, con đường qua đỉnh núi chon von kia mới trả lại cho mây bay gió thổi. Dù vậy, lác đác trên lối mòn chênh vênh đầy những sa mù ấy vẫn lưa thưa in dấu chân của những người thợ sơn tràng. Một cựu chiến binh có trang trại dưới chân núi, đã có lần kể cho tôi nghe: Đứng trên cao mà hình dung, nối các đỉnh Hải Vân - Bạch Mã - Năm Hố - Sơn Gà - An Định, ta sẽ thấy một hình cánh cung, bao năm trận mạc kháng chiến ngày xưa đấy là những con đường đổ về cánh Bắc - Hòa Vang. Tôi thử cố hình dung nhìn theo lời người cựu chiến binh nói, nhưng chỉ thấy mây trắng bay dặt dìu như những linh hồn đang phiêu bồng rong chơi giữa bao la đất trời cố xứ. Ở Hòa Bắc bây giờ, lũ con trai con gái thôn bản xa lạ với những chuyện như thế. Ngay cả những bàn tay sơn nữ cũng đã xa dần canh cửi dệt những tấm thổ cẩm, những điệu nhảy điệu múa tung tung za zã dần hồi xa vắng. Họa hoằn lắm cũng có vang lên đâu đó, nhưng mà, chỉ là sân khấu kiểu sức thời thượng theo ý mấy nhà đạo diễn làm du lịch.

Chợt nhớ cái tập đề cương kịch bản cho Đà Nẵng ngày 29/3 bỏ trong cốp xe suốt ngày. Tìm kiếm những hình ảnh ấn tượng minh họa cho sự phát triển thì những cao ốc chót vót trời xanh, những xa lộ thênh thang thẳng tắp hướng đến chân trời. Và lẽ đương nhiên là những chiếc cầu đẹp thuộc vào hàng tầm cỡ quốc gia bắc qua sông Hàn. Những hình ảnh như thế tưởng đã quá đầy đủ. Nó vừa cực kỳ hiện đại và rực rỡ xinh đẹp ngập tràn ánh đèn màu về đêm vừa chói lọi đỉnh cao và sức vươn tới. Nhưng, câu thơ Chế Lan Viên đánh thức trong tôi một điều, “Ôi sông Hồng, sông Hồng vạm vỡ. Có khi người thiếu đi một tiếng thương thầm”. Tôi đang đi tìm, đi nghe hai tiếng “thương thầm” ấy chăng? Mà phàm cái gì thầm lặng, cái gì ẩn khuất, ví như bùn nuôi cho sen lớn lên nở thành hoa, đến thờ cúng người ta cũng thờ cúng hoa sen chứ ai đời lại đi thờ cúng bùn bao giờ. Nhưng chủ đề của kịch bản là phát triển, là cộng hưởng thanh âm của một đồng ca, một hợp xướng, vì vậy nó không thể thiếu bè trầm. Hai tiếng “thương thầm” tức là cái bè trầm ấy. Mà ở Hòa Bắc, ở các thôn bản Tà Lang, Giàn Bí thì giàu có vô cùng hai tiếng Thương thầm. Mồ hôi của những người lính có thời điểm đông đến hàng trăm hàng ngàn người trần lưng giúp dân vỡ đất khai hoang xây dựng làng bản - nói với tôi điều thầm lặng đó. Nhỏ nhắn, lặng thầm cố mang cái chữ về làng giống như cô bé Đinh Thị Nga - nói với tôi điều lặng thầm đó. Đến đây rồi tôi mới biết còn có thêm một chiếc cầu mới mọc lên như trong giấc mơ. Cố nhiên là không đẹp đẽ và “vạm vỡ” như cầu sông Hàn hay cầu Thuận Phước, nhưng nó nhỏ nhoi mà đấy ắp hai tiếng thương thầm. Các em nhỏ dân tộc tung tăng sách vở bước qua cầu đến trường lớp - nói với tôi điều đó. Rồi những mùa mưa lũ sẽ không còn gieo rắc bao niềm âu lo phấp phỏng khi các em phải qua sông đến trường trên những chiếc thuyền nhỏ mong manh mặc cho nổi trôi số phận. Ngẫu hứng qua cầu tôi hát véo von trên đường: Đêm trăng sáng trên cầu anh thổi sáo. Đêm trăng sáng chân cầu em giặt áo. Nhịp cầu nối những bờ vui... Chẳng có hẹn hò nào với tôi nơi đây hết, nhưng trái tim đa đoan của tôi chừng như luôn âm ỉ...thương thầm !

Đà Nẵng, tháng 3/2010

N.N.T

 
 CÁC BÀI KHÁC
- Trụ sở: K54/10 Ông Ích Khiêm, thành phố Đà Nẵng
- ĐT: 0511.2211823, Fax: 0511.3519300
- Email: tapchinonnuoc@gmail.com