CÁC SỐ KHÁC
   + Số 258 (Tháng 8/2019)
   + Số 257(Tháng 7/2019)
   + Số 256 (Tháng 6/2019)
   + Số 255 (Tháng 5/2019)
   + Số 254 (Tháng 4/2019)
   + Số 253 (Tháng 3/2019)
   + Số 252 (Tháng 1+2/2019)
   + Số 251 (Tháng 12/2018)
   + Số 250 (Tháng 11/2018)
   + Số 249 (Tháng 10/2018)
   + Số 248 (Tháng 9/2018)
   + Số 247 (Tháng 8/2018)
   + Số 246 (Tháng 7/2018)
   + Số 245 (Tháng 6/2018)
   + Số 244 (Tháng 5/2018)
   + Số 243 (Tháng 4/2018)
   + Số 242 (Tháng 3/2018)
   + Số 241 (Tháng 1+2 /2018)
   + Số 240 (Tháng 12/2017)
   + Số 239(Tháng 11/2017)
   + Số 238 (Tháng 10/2017)
   + Số 237 (Tháng 9/2017)
   + Số 236 (Tháng 8/2017)
   + Số 235 (Tháng 7/2017)
   + Số 234 (Tháng 6/2017)
   + Số 233 (Tháng 5/2017)
   + Số 232 (Tháng 4/ 2017)
   + Số 231 (Tháng 3/ 2017)
   + Số 230 (Tháng 1+2/ 2017)
   + Số 229 (Tháng 12/ 2016)
   + Số 228 (Tháng 11/ 2016)
   + Số 227 (Tháng 10/ 2016)
   + Số 226 (Tháng 9/2016)
   + Số 225 ( Tháng 8/2016)
   + Số 224 (Tháng 7 - 2016)
   + Số 223 (Tháng 6/2016)
   + Số 222 (Tháng 5/2016)
   + Số 221 (tháng 4/2016)
   + Số 220 (tháng 3/2016)
   + Số 218 + 219 (Xuân Bính Thân)
   + Số 217 (tháng 12/ 2015)
   + Số 216 (Tháng 11/ 2015)
   + Số 215 (Tháng 10/ 2015)
   + Số 214 (Tháng 9/ 2015))
   + Số 213 (Tháng 8/ 2015)
   + Số 212 (Tháng 7/ 2015)
   + Số 211 (Tháng 6/ 2015)
   + Số 210 (Tháng 5/ 2015)
   + Số 209 (Tháng 4/ 2015)
   + Số 208 (Tháng 3/ 2015)
   + số 206 + 207 (số Xuân Ất Mùi 2015)
   + Số 205 (Tháng 12/ 2014)
   + Số 204 (Tháng 11/ 2014)
   + Số 203 (Tháng 10/ 2014)
   + Số 201 + 202 (Tháng 8,9/ 2014)
   + Số 200 (Tháng 7/ 2014)
   + Số 199 (Tháng 6/ 2014)
   + Số 198 ((Tháng 5/ 2014)
   + Số 197 (Tháng 4/ 2014)
   + Số 196 (Tháng 3/ 2014)
   + Số 194 + 195 (Xuân Giáp Ngọ 2014)
   + Số 193 (Tháng 12/ 2013)
   + Số 192 (Tháng 11/ 2013)
   + Số 191 (Tháng 10/ 2013)
   + Số 190 (Tháng 9/ 2013)
   + Số 189 (Tháng 8/ 2013)
   + Số 188 (Tháng 7/ 2013)
   + Số 187 (Tháng 6/ 2013)
   + Số 186 (Tháng 5/ 2013)
   + Số 185 (Tháng 4/ 2013)
   + Số 184 (Tháng 3/ 2013)
   + Số 183 (Xuân Quý Tỵ/ 2013)
   + Số 182 (Tháng 12/ 2012)
   + Số 181 (Tháng 11/ 2012)
   + Số 180 (Tháng 10/ 2012)
   + Số 179 (Tháng 8,9/ 2012)
   + Số 178 (Tháng 7/ 2012)
   + Số 177 (Tháng 6/ 2012)
   + Số 176 (Tháng 5/ 2012)
   + Số 175 (Tháng 4/ 2012)
   + Số 174 (Tháng 2,3/ 2012)
   + Số172 +173 (Xuân Nhâm Thìn 2012)
   + Số 171 (Tháng 11/ 2011)
   + Số 170 (Tháng 10/ 2011)
   + Số 169 (Tháng 8,9/ 2011)
   + Số 168 (Tháng 7/ 2011)
   + Số 167 (Tháng 6/ 2011)
   + Số 166 (Tháng 5/ 2011)
   + Số 165 (Tháng 4/ 2011)
   + Số 164 (Tháng 3/ 2011)
   + Số163 Xuân Tân Mão 2011
   + Số 162 (Tháng 12/ 2010)
   + Số 161 (Tháng 10,11/ 2010)
   + Số 160 (Tháng 9/ 2010)
   + Số 159 (Tháng 7/ 2010)
   + Số 158 (Tháng 6/ 2010)
   + Số 157 (Tháng 5/ 2010)
   + Số 156 (Tháng 4/ 2010)
   + Số 155 (Tháng 3/ 2010)
   + Số 153-154 Xuân Canh Dần 2010
   + Số 152 (Tháng 12/ 2009)
   + Số 151 (Tháng 11/ 2009)
   + Số 150 (Tháng 10/ 2009)
   + Số 149 (Tháng 8,9/ 2009)
   + Số 148 (Tháng 7/ 2009)
   + Số 147 (Tháng 6/ 2009)
   + Số 146 (Tháng 5/ 2009)
   + Số 145 (Tháng 4/ 2009)
   + Số 143 (Tháng 3/ 2009)
   + Số 141-142 Xuân Kỷ Sửu 2009
   + Số 139-140 (Tháng 11,12/ 2008)
   + Số 138 (Tháng 10/ 2008)
   + Số 137 (Tháng 9/ 2008)
   + Số 136 ( (Tháng 8/ 2008)
 
Số163 Xuân Tân Mão 2011
 
CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO CỦA TRIỀU NGUYỄN ĐỐI VỚI PHÁP TẠI ĐÀ NẴNG NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX

Nguyễn Minh Phương

Nhà Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Khi lên ngôi, Nguyễn Ánh đã đứng trước những khả năng to lớn để xây dựng đất nước. Sau hơn 200 năm đất nước bị chia cắt trong cục diện “Đàng trong, Đàng Ngoài”. Việt Nam đầu thế kỷ XIX thực sự là một quốc gia thống nhất với sự hoàn chỉnh về cương vực quốc gia, thống nhất thị trường, tiền tệ, có thể xây dựng kinh tế xã hội mạnh mẽ, mở rộng những quan hệ ngoại thương quốc tế, canh tân đất nước, vượt qua sự can thiệp, xâm lược của các thế lực thực dân phương Tây.

Tuy nhiên, ngay từ đầu, nhà Nguyễn đã bộc lộ yếu điểm cơ bản về chính trị đó là: Khác với các triều đại trước được thiết lập trên cơ sở thắng lợi của những cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, hoặc sau khi hoàn thành nhiệm vụ chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập, củng cố quốc gia… còn triều Nguyễn, vương triều cuối cùng lại được dựng nên bằng một cuộc nội chiến mà kẻ thắng đã dựa vào thế lực của ngoại bang, và như vậy về khách quan là đi ngược lại nguyện vọng và quyền lợi của dân tộc.

Chính vì thế, nhìn toàn cục, bức tranh kinh tế, chính trị, xã hội thời nhà Nguyễn là đa dạng, phức tạp, đôi khi như tự mâu thuẫn giữa cái tiến bộ và bảo thủ, lạc hậu, giữa cái mạnh và cái yếu…

1. Đà Nẵng – nơi đón tiếp sứ thần các nước phương Tây

Sau khi lên ngôi (1802), vua Gia Long đã chọn Đà Nẵng làm nơi đón tiếp các sứ thần đến quan hệ ngoại giao, thương mại… Từ đây, cảng Đà Nẵng trở thành hải cảng chính thức và duy nhất thực thi chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn với các nước đến quan hệ qua đường biển.

Chọn Đà Nẵng làm cửa ngõ giao thương, mục đích của nhà Nguyễn là bảo đảm an ninh quốc gia, giám sát hoạt động của các giáo sĩ phương Tây, nghe ngóng tình hình của các nước trong khu vực và thế giới, tiếp nhận tinh hoa văn hóa thế giới tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.

Giống như các chúa Nguyễn trước đây (trải qua 9 đời), đối với các nước trong khu vực Châu Á, nhà Nguyễn có quan hệ thân thiện hữu nghị với một số nước truyền thống như: Trung Quốc, Thái Lan và một số nước khác trong khu vực Đông Nam Á; đối với các nước phương Tây là Anh, Pháp, Mỹ, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan… Tuy nhiên, nhà Nguyễn chỉ cho tiếp các nước phương Tây tại Đà Nẵng với những điều kiện hết sức chặt chẽ, khắt khe tùy theo mối quan hệ ấm lạnh, mà nguyên nhân của chính sách này là do hoạt động do thám của tàu thuyền các nước phương Tây và các giáo sĩ ở nước ta.

Chủ trương trên của nhà Nguyễn thể hiện sự kỳ thị đối với các nước phương Tây và sự lo xa về vấn đề an ninh quốc gia. Trước hết, đó là sự xâm nhập ngày càng sâu của Thiên Chúa giáo đối với nước ta khiến cho truyền thống “Tam giáo đồng quy” bị đe dọa nghiêm trọng. Điều này sẽ tạo nên sự phá vỡ vị trí của Nho giáo trong đời sống xã hội nước ta, mà Nho giáo là công cụ duy trì trật tự của xã hội, là công cụ giúp cho nhà nước phong kiến thiết lập nên một trật tự xã hội theo chiều hướng có lợi, bảo vệ vững chắc địa vị của giai cấp thống trị. Đồng thời, Nho giáo đã có một thời gian dài ăn sâu, bám rễ, có vị trí khá vững chãi trong đời sống xã hội Việt Nam (cũng như một số quốc gia khác ở Phương Đông), được xã hội Việt Nam đón nhận và chấp nhận sự tồn tại, có thời kỳ đã trở thành quốc giáo ở nước ta. Nhà Nguyễn đã cố gắng khôi phục lại vị trí của Nho giáo nhằm mục đích bảo vệ vững chắc lợi ích của vương triều. Thiên Chúa giáo không phù hợp với xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, đặc biệt có nguy cơ phá vỡ, làm lung lay, ảnh hưởng đến tôn ty, trật tự xã hội mà giai cấp phong kiến đã thiết lập và duy trì. Mặc khác, nhà Nguyễn còn lo xa bởi sự xâm nhập của Thiên Chúa giáo cũng sẽ ảnh hưởng đến phong tục tập quán của dân tộc. Chính vì vậy, trong triều Nguyễn (đặc biệt khi cuộc chiến xâm lược của Thực dân Pháp nổ ra), tư tưởng chi phối từ cung đình xuống dân chúng. Đó là 3 vấn đề chính: Chính đạo hay Tà giáo (Nho giáo hay Thiên Chúa giáo?), Chiến hay Hòa (đánh Pháp hay đầu hàng?), Duy tân hay Thủ cựu (ủng hộ cải cách hay không?). Tiếc rằng nhiều sĩ phu yêu nước đã quay lưng lại với xu hướng cải cách và ủng hộ việc “cấm đạo” của triều đình và được thi hành ngày càng gay gắt. Chính sách này tuy có hạt nhân hợp lý và có ý nghĩa bảo vệ an ninh quốc gia, nhưng trong thực tiễn thì “lợi bất cập hại”.

Do nhiều lý do chủ quan và khách quan, trong sinh hoạt văn hóa, thời Nguyễn có nhiều thành tựu độc đáo, phát huy nét đẹp băn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam. Nhưng trong lĩnh vực tư tưởng, chủ yếu là Tống Nho vẫn được đề cao, thậm chí được coi là hệ tư tưởng chính thống, vua quan nhà Nguyễn đều lấy Tống Nho làm hệ quy chiếu và tồn tại quan niệm “xưa nay hơn”, “nội Hạ ngoại Di”. Năm 1804, Vua Gia Long đã phán: “Người Hồng Mao gian giảo trí trá, không phải nòi giống ta, lòng họ hẳn khác, không cho họ ở lại, ban cấp ưu hậu cho họ mà bảo họ về, không nhận phẩm vật họ hiến”. Lo ngại cho an nguy quốc gia trước sự bành trướng của các nước thực dân phương Tây, nhà Nguyễn đã cho đóng chặt cổng ngõ đồng thời ra lệnh đàn áp đạo Thiên Chúa nhằm ngăn ngừa hậu họa đạo Thiên Chúa sẽ thông qua việc truyền đạo để do thám, làm nội gián, mở đường cho việc xâm lược của các nước phương Tây.

Thời Minh Mạng, chính sách ngoại giao đối với các nước phương Tây càng khắc khe, cứng nhắc. Năm 1835, vua Minh Mạng ra đạo dụ kiên quyết chỉ cho “…tàu Tây đậu tại cửa Hàn, còn các cửa biển khác không được vào, phép nước rất nghiêm, chẳng nên làm trái… Từ nay về sau, người Tàu phải đi tàu buôn nước Tàu, mới cho vào cửa biển buôn bán, người Tây phải đi tàu nước Tây vào cửa Hàn thông thương, không được ghé vào các cửa biển khác…”. Các sứ thần phương Tây đến Đà Nẵng phải có đủ hai điều kiện, đó là phải có quốc thư của nước xin giao thương và lễ vật. Lễ vật thường là những đồ vật lạ, hiếm và có thể là quý giá của quốc gia đó nhưng không là điều kiện bắt buộc như quốc thư phải có mới được đón tiếp. Sứ giả không có quốc thư là không đủ tư cách, dù là sứ giả nước Pháp – nước có nhiều ơn nghĩa của nhà Nguyễn cũng không được đón tiếp. Ví dụ như năm 1817 “tàu Pháp đến đậu ở Đà Nẵng, đưa cho Nguyễn Văn Thắng xin được vào dâng sản vật nhưng không có quốc thư, vua không tiếp”. Và có khi đủ các điều kiện vua vẫn không tiếp vì vấn đề an ninh hoặc vấn đề tế nhị khác, tuy nhiên một quan đại thần thay vua vào vào Đà Nẵng đón tiếp sứ thần.

Như vậy, chủ trương của nhà Nguyễn không muốn mở rộng quan hệ với các nước phương Tây, nhất là khi âm mưu bành trướng xâm lược của phương Tây ngày càng lộ rõ thì nhà Nguyễn hạn chế giao thương đồng thời tăng cường phòng thủ Đà Nẵng. Đà Nẵng đuợc chú trọng trong công tác tổ chức phòng thủ hơn là chú trọng trong công tác ngoại thương. Chủ trương và biện pháp giao thương chặt chẽ

còn biểu hiện trong hoạt động ngoại giao diễn ra tại Đà Nẵng. Thông thường, tàu thuyền của sứ thần các nước đến cảng Đà Nẵng, sau khi có thông báo có quốc thư và lễ vật xin đệ trình lên vua của các quan sở tại, tàu thuyền của họ sẽ được cập cảng sau khi đã qua khám xét, sau đó được phép cử người lên bờ có sự giám sát của quan binh địa phương mua những nhu yếu phẩm cần thiết thực phẩm, nước uống, than củi… Và tất cả ở lại trên tàu chờ các quan địa phương viết báo cáo xin ý kiến của vua. Chỉ thị của vua thường đến sau 10 đến 15 ngày sau khi tàu cập cảng. Những trường hợp cấp bách thì phản hồi của triều đình trong vòng vài ba ngày.

Nghi thức ngoại giao tổ chức tại Đà Nẵng khá long trọng, được quy định cụ thể trước năm Gia long thứ 17 (1817), khi tàu các nước đến “kéo cờ và bắn 21 phát đại bác chào mừng, thời trên thành Điện Hải cũng phát 21 tiếng súng”. Nhưng về sau chỉ cho phép bắn từ 3 đến 6 phát súng chào mừng quý khách mà thôi. Việc đón tiếp chính thức của nước chủ nhà có thể diễn ra ở triều đình Huế nếu vua đồng ý, nhưng thường tổ chức ở Đà Nẵng do đại diện triều đình hoặc là quan của ty Thương Bạc vào phối hợp với quan binh sở tại. Tuy không quy định cụ thể, tùy theo hoàn cảnh và tùy theo sứ thần thuộc quốc gia nào, chức vụ gì và đi thuyền chiến hay thuyền buôn lớn hay bé mà nghi lễ đón tiếp được tổ chức quy mô long trọng hay đơn giản khác nhau.

2. Chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn đối với nước Pháp

Pháp không phải là nước phương Tây đầu tiên có mặt tại Việt Nam. Việc truyền giáo và buôn bán từ giữa thế kỷ XVII với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và chúa Nguyễn ở Đàng Trong chủ yếu là vai trò của các giáo đoàn và thương nhân Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan.

Vai trò của nước Pháp mới hé mở với những hoạt động không biết mệt mỏi của cha Đắc Lộ (A. de Rhodes) từ năm 1624. trong 21 năm ở Việt Nam, bên cạnh việc truyền giáo và là “cha đẻ” của chữ Quốc ngữ, vị linh mục dòng Tên này đã lập ra Hội truyền giáo nước ngoài của Pari (gọi tắt là M.E.P) năm 1658 và góp phần lập ra công ty Đông Ấn của Pháp năm 1664. Hai cơ quan một thương mại, một truyền giáo này thực sự đã hướng sự chú ý của Pháp vào Đông Dương, đồng thời cũng gạt dần sự ảnh hưởng của các thế lực phương Tây khác khỏi nước ta.

Quan hệ ngoại giao của nhà Nguyễn với Pháp được thiết lập từ sớm, từ cuộc nội chiến chống nhà Tây Sơn của Nguyễn Ánh. Năm 1777, trong khi lẫn tránh sự truy đuổi của quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã gặpvà được cha cố Georges Pigneau de béhaine (Bá Đa Lộc) che chở. Năm 1874, Nguyễn Ánh đã nhờ Bá Đa Lộc mang thư cùng con trai 4 tuổi là hoàng tử Cảnh sang làm con tin cầu cứu nước Pháp. Được sự ủy nhiệm của Nguyễn Ánh, Bá Đa Lộc đã ký với triều đình Pháp bản hiệp ước 10 điều vào năm 1787. Theo đó, vua Pháp cam kết giúp đỡ Nguyễn Ánh về quân sự để dành lại đất đai. Về phần mình, vua Pháp được quyền sở hữu cảng Hội An và đảo Côn Lôn. Do cách mạng Pháp bùng nổ, hiệp định này không được thực hiện đầy đủ. Tuy nhiên, với sự giúp đỡ của Bá Đa Lộc, Nguyễn Ánh vẫn tiếp tục nhận được chi viện của những nguời phương Tây.

Vì vậy, khi xây dựng vương triều, Nguyễn Ánh đã dành những ưu ái cho Pháp trong quan hệ. Thậm chí trong đội ngũ quan lại, nhà Nguyễn đã sử dụng một số quan lại người Pháp như Chaigneau (Shenhô) và Vannier (vaniê), Baridi (Barisy)… Đây không phải là sự cởi mở trong chính sách dùng người mà là sự đền đáp ơn huệ của những người Pháp đã giúp nhà Nguyễn trong việc chống lại nhà Tây Sơn. Sự ưu ái của nhà Nguyễn đối với nước Pháp trong chính sách ngoại giao còn được thể hiện rõ nhất là thông qua nghi lễ đón tiếp. Mặc dù vậy, quan điểm của nhà Nguyễn về nguyên tắc quốc gia trong chính sách ngoại giao vẫn không thay đổi. Có thể nói Pháp là nước kiên trì và quyết tâm nhất nhằm đạt được mục đích ngoại giao của mình với Việt Nam, nhưng vẫn không có kết quả tốt đẹp hơn các nước khác và đã kết thúc bằng cuộc tấn công Việt Nam tại Đà Nẵng năm 1858.

Năm 1817, đại tá Kergariou nhận lệnh vua Loui XVIII đến Việt Nam xin được tái lập bang giao sau một thời gian dài gián đoạn do khó khăn của nước Pháp. Khi cập cảng Đà Nẵng được chào mừng long trọng bằng 21 loạt đại bác nhưng do quên mang quốc thư nên không được tiếp. Năm 1822, nước Pháp lại cử Hello chỉ huy tàu cléopâtre đến Việt Nam vẫn không được triều Nguyễn đón tiếp mặc dầu được sự vận động tích cực của hai quan người Pháp là Shenhô (tên Việt là Nguyễn Văn Chấn) và vaniê (tên Việt là Nguyễn Văn Thắng) là hai nhân vật rất được Gia Long tin dùng trong triều chính. Năm 1824, nước Pháp lại cử đại tá Bougainville chỉ huy tàu chiến Thétis được trang bị vũ khí hùng hậu, có sự hộ tống của tàu chiến Espérance do trung tá hải quân Paul Nourguer de Camper đến Đà Nẵng với quyết tâm đạt được việc thông hiếu và thương mại. Vào thời điểm lúc bấy giờ, nước Pháp và nước Anh có quan hệ không tốt, năm trước nhà Nguyễn đã khước từ không tiếp sứ thần nước Anh nên nhà Nguyễn cũng đã khéo léo khước từ không tiếp đại tá Bougainville. Mặc dầu vậy, nhà Nguyễn đã ra chỉ dụ cho quan binh Đà Nẵng đón tiếp phái đoàn theo nghi lễ quốc gia và cuộc đón tiếp đã được tổ chức chu đáo, trọng thị. Tuy quyết tâm nhưng sứ mạng của Bougainville không thành như các phái đoàn khác đành nhổ neo rời Đà Nẵng. Từ đây, nước Pháp ráo riết chuẩn bị mọi mặt cho một phương thức ngoại giao mới – ngoại giao bằng vũ lực, để đạt được mục đích độc quyền giao thương ở Việt Nam.

Thông qua các hoạt động truyền giáo, các giáo sĩ người Pháp đã do thám nước ta nói chung và cảng Đà nẵng nói riêng dưới nhiều danh nghĩa khác nhau như nghiên cứu khoa học, xin bang giao hay tạm nghỉ để tiếp nguyên liệu, thức ăn hay nước uống…. Tháng 2 năm 1830, tàu chiến Favorite đã lén lút vẽ bản đồ duyên hải Bắc Kỳ rồi đến Đà Nẵng lên núi Tam Thai để khảo sát khoa học. Những việc làm này của phía nước Pháp đã làm cho vua Minh Mạng tức giận cách chức cả Thành thủ, Thủy ngự ở đài An Hải và Điện Hải. Liên tục thời gian sau, tàu Pháp đã cập cảng Đà Nẵng nhằm hoạt động do thám làm cho vua Minh Mạng rồi Thiệu Trị lo lắng nhắc nhở thường xuyên cảng Đà Nẵng tăng cường cảnh giác, canh thuyền và chặc chẽ tàu cập cảng. Cần phải nói thêm rằng, đầu những năm 30 của thế kỷ XIX, khi mà những phong trào khởi nghĩa chống lại triều đình ở cả trong Nam lẫn ngoài Bắc ngày càng mạnh mẽ, trong đó, có sự tham gia của một số cố đạo và giáo dân như khởi nghĩa Phan Bá Vành, khởi nghĩa Hoàng Trọng Khôi, khởi nghĩa Hoàng Trọng Kiều…làm cho thấy những lo lắng của nhà Nguyễn càng trở nên có cơ sở. Vào những năm 40 thế kỷ XIX, Pháp vừa cử sứ thần sang thương thuyết, vừa đe dọa bằng vũ lực. Năm 1843 và 1845, hai lần chiến hạm Pháp kéo vào Đà Nẵng thị uy. Năm 1847, hai chiến hạm Pháp lại vào Đà Nẵng và ngang nhiên bắn đắm mấy chiến thuyền Việt Nam. Đến tháng 7 năm 1857, chính phủ Pháp đã thông qua quyết định đánh chiếm Việt Nam.

3. Thay lời kết

Với những lợi thế riêng, ngay từ buổi đầu thiết lập, nhà Nguyễn đã chọn Đà Nẵng làm cửa ngõ đối ngoại chính thức của nước ta đối với các nước phương Tây. Trong hoàn cảnh các nước phương Tây tranh nhau tìm kiếm thị trường, với sức mạnh kinh tế và quân sự, các quốc gia phương Tây khi cử đặc sứ đến xin quan hệ với các nước phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng đều muốn quốc gia sở tại dành riêng cho quốc gia mình đặc quyền giao thương. Điều này đã làm cho cảng Đà Nẵng trở thành nơi thu hút các sứ thần phương Tây đến xin quan hệ nhưng nhiều nhất là phái đoàn các nước Hoa Kỳ, Anh và Pháp – những quốc gia phát triển mạnh nhất lúc bấy giờ. Bối cảnh đó làm cho chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn đối với các nước phương Tây vừa cẩn trọng, chặt chẽ và công bằng giữa các nước, lại vừa muốn đảm bảo độc lập tự chủ của đất nước. Chính điều này đã không làm hài lòng các nước phương Tây, nhất là Pháp – nước có nhiều “ơn nghĩa” với nhà Nguyễn.

Trong bối cảnh, chủ nghĩa tư bản phương Tây đang trên đường phát triển mạnh. Các nước tư bản phương Tây, đặc biệt là Anh, Pháp, Mỹ đang đua nhau giành giật thị trường phương Đông và từng bước xâm chiếm thuộc địa. Một loạt các nước Châu Á như Ấn Độ, Malaixia, Inđônêxia, Philippin, Mianma… bị dòm ngó và lần lượt bị xâm lược. Các nước tư bản phương Tây cũng bắt đầu can thiệp vũ trang vào Trung Quốc, buộc triều đình Mãn Thanh từng bước ký kết những hiệp ước bất bình đẳng và bọn tư bản phương Tây đặc biệt là Pháp đã dòm ngó, ráo riết hoạt động và có những hành động khiêu khích thô bạo đối với nước ta. Nhà Nguyễn đã sớm nhận ra nguy cơ này và cũng tìm cách đối phó. Có thể nói chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn nói chung và tại Đà Nẵng nói riêng không sai, thậm chí có phần khôn ngoan. Tuy nhiên, chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn còn quá nặng nề, khắc khe, đánh mất đi sự khéo léo trong quan hệ bang giao so với các triều đại trước. Do quá lo sợ về nguy cơ thực dân, triều Nguyễn đã từng bước thực thi chính sách “đóng cửa”, ngày càng tìm cách hạn chế ảnh hưởng của phương Tây trên đất Việt Nam. Mặc khác, nhà Nguyễn áp dụng những biện pháp cực đoan nhằm gia cố thêm ý thức hệ Nho giáo với tư cách là bệ đỡ tư tưởng của nhà nước quân chủ. Nhà Nguyễn ngày càng tỏ ra bảo thủ, đưa đất nước ngày càng lún sâu vào tình trạng trì trệ, lạc hậu đến nỗi suy kiệt khả năng tự vệ. Chính đó là nguyên nhân trực tiếp, như một hệ quả tất yếu của quy luật “nhân quả” trong việc Pháp xâm lược nước ta năm 1858 và cũng thật “trớ trêu” khi Đà Nẵng lại là nơi đầu tiên gánh chịu những phát súng xâm lược của thực dân Pháp.

 
 CÁC BÀI KHÁC
- Trụ sở: K54/10 Ông Ích Khiêm, thành phố Đà Nẵng
- ĐT: 0511.2211823, Fax: 0511.3519300
- Email: tapchinonnuoc@gmail.com