CÁC SỐ KHÁC
   + Số 251 (Tháng 12/2018)
   + Số 250 (Tháng 11/2018)
   + Số 249 (Tháng 10/2018)
   + Số 248 (Tháng 9/2018)
   + Số 247 (Tháng 8/2018)
   + Số 246 (Tháng 7/2018)
   + Số 245 (Tháng 6/2018)
   + Số 244 (Tháng 5/2018)
   + Số 243 (Tháng 4/2018)
   + Số 242 (Tháng 3/2018)
   + Số 241 (Tháng 1+2 /2018)
   + Số 240 (Tháng 12/2017)
   + Số 239(Tháng 11/2017)
   + Số 238 (Tháng 10/2017)
   + Số 237 (Tháng 9/2017)
   + Số 236 (Tháng 8/2017)
   + Số 235 (Tháng 7/2017)
   + Số 234 (Tháng 6/2017)
   + Số 233 (Tháng 5/2017)
   + Số 232 (Tháng 4/ 2017)
   + Số 231 (Tháng 3/ 2017)
   + Số 230 (Tháng 1+2/ 2017)
   + Số 229 (Tháng 12/ 2016)
   + Số 228 (Tháng 11/ 2016)
   + Số 227 (Tháng 10/ 2016)
   + Số 226 (Tháng 9/2016)
   + Số 225 ( Tháng 8/2016)
   + Số 224 (Tháng 7 - 2016)
   + Số 223 (Tháng 6/2016)
   + Số 222 (Tháng 5/2016)
   + Số 221 (tháng 4/2016)
   + Số 220 (tháng 3/2016)
   + Số 218 + 219 (Xuân Bính Thân)
   + Số 217 (tháng 12/ 2015)
   + Số 216 (Tháng 11/ 2015)
   + Số 215 (Tháng 10/ 2015)
   + Số 214 (Tháng 9/ 2015))
   + Số 213 (Tháng 8/ 2015)
   + Số 212 (Tháng 7/ 2015)
   + Số 211 (Tháng 6/ 2015)
   + Số 210 (Tháng 5/ 2015)
   + Số 209 (Tháng 4/ 2015)
   + Số 208 (Tháng 3/ 2015)
   + số 206 + 207 (số Xuân Ất Mùi 2015)
   + Số 205 (Tháng 12/ 2014)
   + Số 204 (Tháng 11/ 2014)
   + Số 203 (Tháng 10/ 2014)
   + Số 201 + 202 (Tháng 8,9/ 2014)
   + Số 200 (Tháng 7/ 2014)
   + Số 199 (Tháng 6/ 2014)
   + Số 198 ((Tháng 5/ 2014)
   + Số 197 (Tháng 4/ 2014)
   + Số 196 (Tháng 3/ 2014)
   + Số 194 + 195 (Xuân Giáp Ngọ 2014)
   + Số 193 (Tháng 12/ 2013)
   + Số 192 (Tháng 11/ 2013)
   + Số 191 (Tháng 10/ 2013)
   + Số 190 (Tháng 9/ 2013)
   + Số 189 (Tháng 8/ 2013)
   + Số 188 (Tháng 7/ 2013)
   + Số 187 (Tháng 6/ 2013)
   + Số 186 (Tháng 5/ 2013)
   + Số 185 (Tháng 4/ 2013)
   + Số 184 (Tháng 3/ 2013)
   + Số 183 (Xuân Quý Tỵ/ 2013)
   + Số 182 (Tháng 12/ 2012)
   + Số 181 (Tháng 11/ 2012)
   + Số 180 (Tháng 10/ 2012)
   + Số 179 (Tháng 8,9/ 2012)
   + Số 178 (Tháng 7/ 2012)
   + Số 177 (Tháng 6/ 2012)
   + Số 176 (Tháng 5/ 2012)
   + Số 175 (Tháng 4/ 2012)
   + Số 174 (Tháng 2,3/ 2012)
   + Số172 +173 (Xuân Nhâm Thìn 2012)
   + Số 171 (Tháng 11/ 2011)
   + Số 170 (Tháng 10/ 2011)
   + Số 169 (Tháng 8,9/ 2011)
   + Số 168 (Tháng 7/ 2011)
   + Số 167 (Tháng 6/ 2011)
   + Số 166 (Tháng 5/ 2011)
   + Số 165 (Tháng 4/ 2011)
   + Số 164 (Tháng 3/ 2011)
   + Số163 Xuân Tân Mão 2011
   + Số 162 (Tháng 12/ 2010)
   + Số 161 (Tháng 10,11/ 2010)
   + Số 160 (Tháng 9/ 2010)
   + Số 159 (Tháng 7/ 2010)
   + Số 158 (Tháng 6/ 2010)
   + Số 157 (Tháng 5/ 2010)
   + Số 156 (Tháng 4/ 2010)
   + Số 155 (Tháng 3/ 2010)
   + Số 153-154 Xuân Canh Dần 2010
   + Số 152 (Tháng 12/ 2009)
   + Số 151 (Tháng 11/ 2009)
   + Số 150 (Tháng 10/ 2009)
   + Số 149 (Tháng 8,9/ 2009)
   + Số 148 (Tháng 7/ 2009)
   + Số 147 (Tháng 6/ 2009)
   + Số 146 (Tháng 5/ 2009)
   + Số 145 (Tháng 4/ 2009)
   + Số 143 (Tháng 3/ 2009)
   + Số 141-142 Xuân Kỷ Sửu 2009
   + Số 139-140 (Tháng 11,12/ 2008)
   + Số 138 (Tháng 10/ 2008)
   + Số 137 (Tháng 9/ 2008)
   + Số 136 ( (Tháng 8/ 2008)
 
Số 245 (Tháng 6/2018)
 
Kiến trúc thuộc địa Pháp tại Đà Nẵng: giá trị nghệ thuật và những thách thức với thời gian - TS Lê Minh Sơn

Sau hơn một nửa thế kỷ thuộc địa, ngày hôm nay sự hiện diện của một vài công trình cũ còn lại trên mảnh đất Đà Nẵng nhắc rằng: Kiến trúc địa phương nơi đây đã từng được ghi dấu ấn bởi người Pháp. Những công trình thuộc địa từng được ví như là biểu tượng của một sự thống trị, tuy nhiên ở khía cạnh khác chúng cũng cho thấy thành phố đã trải qua một thời kỳ phát triển hào hùng trong lịch sử hình thành. Quá trình tiếp biến của thời gian đã giúp cho Đà Nẵng có được một hình thái đô thị đặc trưng, trong đó kiến trúc thuộc địa Pháp là một bộ phận quan trọng góp phần tạo nên hình ảnh đặc trưng đó.

Đô thị hóa đã khiến Đà Nẵng phải đối mặt với những thách thức lớn, đặc biệt là vấn đề về đất đai. Ngoài việc mở rộng thành phố ra những vùng đất mới thì khu trung tâm cũ luôn ở trong tình trạng khan hiếm quỹ đất. Có lẽ mật độ xây dựng được xem như là một phương thuốc hữu hiệu để giải quyết vấn đề này. Việc gia tăng mật độ xây dựng tại khu vực trung tâm cho phép thành phố đạt được lợi nhuận về kinh tế, giảm khoảng cách vật lý, tăng hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng đồng thời thúc đẩy tiếp cận dịch vụ cho cộng đồng. Lý do này khiến người ta phải cân nhắc đến việc xây dựng thành phố trên một thành phố, chính xác đó là sự khai thác các tiềm năng nội tại của thành phố, bao gồm cả những sự xây dựng “tiêu cực” và sự xây dựng ở những “không gian trống” thuộc quyền sở hữu công.

Marie-Claude Roche đã nhận định về vấn đề này: “trong bối cảnh đô thị đương đại, di sản thường được xem như là một trở ngại cho sự phát triển, trách nhiệm mà chỉ duy nhất một cộng đồng khá giả mới đủ khả năng được giữ chúng. Hiện nay kinh nghiệm cho thấy rằng, trái ngược với những điều mà mọi người hay nghĩ, thì di sản chính là công cụ cho sự tiến bộ, nó được xem là tác nhân của những tác động tăng trưởng đa dạng. Bởi vì di sản có mặt khắp mọi nơi”1.

Nếu như Đà Nẵng phải phát triển một thành phố mới trên một thành phố cũ để có thể đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế và quy mô dân số ngày càng gia tăng, vậy thì thành phố đã tìm ra được câu trả lời cho câu hỏi: làm thế nào để hợp nhất giữa việc thiết kế đô thị hiện đại và các giải pháp bảo tồn các di sản kiến trúc trong những khu trung tâm cũ hay chưa?

Những công trình kiến trúc thuộc địa trong lòng khu phố cũ

Có một điểm khá đặc biệt, nơi đầu tiên đánh dấu quá trình chinh phục Việt Nam của người Pháp lại chính là Đà Nẵng2. Khu nhượng địa đầu tiên với diện tích 10.000 ha3 nằm ở cửa biển, dọc tả ngạn sông Hàn. Ngày 24/5/1889 Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập Thành phố Đà Nẵng4. Tuy ra đời muộn hơn các thành phố ở Nam Kỳ và Bắc Kỳ nhưng Đà Nẵng là thành phố hiện đại ra đời sớm nhất ở Trung Kỳ5. Đầu thế kỷ XX, khu nhượng địa đã không còn đáp ứng được với sự phát triển nhanh chóng của thành phố, ngày 15/1/1901 vua Thành Thái quyết định mở rộng diện tích khu đất ra gấp 4 lần ban đầu6.

Quá trình hình thành cấu trúc đô thị Đà Nẵng dưới thời Pháp thuộc cũng giống như một số thành phố thuộc địa khác ở Việt Nam: Xây dựng các công trình hành chính để đánh dấu các vị trí quan trọng trong khu nhượng địa, quy hoạch hệ thống giao thông có dự tính cho việc mở rộng khu nhượng địa về sau. Các công trình kiến trúc công cộng, dân dụng, tôn giáo cũng được xây dựng vào khoảng thời gian từ 1888 đến 1920 theo các khuôn mẫu kiến trúc tân cổ điển Pháp và kiểu kiến trúc Chiết Trung.

Phần lớn những công trình kiến trúc Pháp tại Đà Nẵng được xây trong khoảng 20 năm, đây là một khoảng thời gian tương đối ngắn so với việc triển khai xây dựng các công trình phục vụ chính quyền thực dân ở các thành phố khác tại Việt Nam. Về giá trị tuổi thọ thì các công trình này đều có giá trị đặc biệt, bởi chúng đã trường tồn được hơn 100 năm. Bên cạnh đó về mặt hình thức kiến trúc, người Pháp đã tạo nên một bức tranh khá đầy đủ về các thể loại phong cách kiến trúc thuộc địa tại Đà Nẵng. Mỗi công trình xây dựng đều mang trên mình một nét đặc sắc riêng về thẩm mỹ và lịch sử ra đời. Thật vậy, với một lý do nào đó chúng ta chưa vội phủ nhận Thành phố Đà Nẵng không có được dấu ấn đậm nét về quỹ kiến trúc thuộc địa có giá trị.

Những công trình kiến trúc thuộc địa còn lại của thành phố đang ở trong tình trạng nhạy cảm, dễ bị phá bỏ. Đâu là lý do?

Vấn đề phân loại và xếp hạng: Tại luật di sản Unesco đã có những văn bản quy chuẩn, khi một công trình đã đến thời điểm hết niên hạn sử dụng thì cần phải có sự nỗ lực rất lớn từ phía chính quyền thành phố và những cơ quan liên quan. Đầu tiên, thành phố phải tiến hành khảo sát hiện trạng của các công trình, sau đó nhờ vào một hội đồng đánh giá độc lập (bao gồm các chuyên gia nước ngoài), đánh giá và xếp hạng. Sau khi xếp hạng được thì bắt đầu đưa ra một kế hoạch quản lý tốt, cụ thể là phải phát huy được các giá trị nghệ thuật đặc sắc và bảo tồn các yếu tố đã được xếp hạng, bởi vì các công trình thuộc địa đã được xếp hạng đều nhờ vào giá trị nghệ thuật và giá trị sử dụng đặc sắc của chúng. Thực sự đã đến lúc chính quyền Thành phố Đà Nẵng phải có một kế hoạch cấp bách và cụ thể cho việc xếp loại - bảo tồn và quản lý những công trình này.

Vấn đề ý thức về tinh thần dân sự: Ở khía cạnh khác, còn đâu đó một vài quan điểm cho rằng thành phố đang phải đối mặt với nhiều dự án cấp bách với lý do chính là cần phải có quỹ đất tại khu trung tâm để tái sử dụng, điều này vô tình đẩy những công trình kiến trúc thuộc địa còn lại luôn nằm trong danh sách bị đe dọa. Để phục vụ mục tiêu phát triển bền vững cho thành phố, các giới chức, các nhà hoạch định chính sách cần ý thức được tầm quan trọng của vấn đề xã hội dân sự. Thật vậy, cho đến thời điểm này chưa thực sự có một cá nhân hay cơ quan nào trực tiếp đứng ra để góp tiếng nói bảo vệ cho thể loại di sản này.

Các công trình kiến trúc thuộc địa cũ có vai trò như thế nào trong quá trình phát triển bền vững của Thành phố?

Đầu tiên là vai trò phục vụ du lịch: Điều gì đã thu hút được các khách du lịch đến với Thành phố Đà Nẵng? Đà Nẵng không chỉ có “pháo hoa - biển và mặt trời”, bên cạnh đó vùng đất này còn lưu giữ được những dấu vết lịch sử đặc trưng thông qua những tòa nhà thuộc địa cũ, do đó một khi Thành phố đã nỗ lực để xếp hạng di sản văn hóa cho những công trình này thì đương nhiên lượng khách du lịch sẽ tăng lên. Một ví dụ đơn giản, nếu chỉ kinh doanh “mặt trời và biển” và khi “ sản phẩm” này vì một lý do nào đó tạm thời ngưng hoạt động thì thành phố du lịch Đà Nẵng sẽ trông như thế nào? Theo chúng tôi Đà Nẵng cần có một chương trình nghị sự văn hóa phong phú, cụ thể là thành phố cần phải có những di tích văn hóa để phục vụ nhu cầu du lịch.

Vai trò về giáo dục văn hóa: Phần lớn mọi người đều có chung một sự nhìn nhận là Đà Nẵng đang thay đổi bộ mặt một cách quá nhanh trước quá trình hiện đại hóa. Có phải Đà Nẵng đang muốn phát triển giống như những thành phố nổi tiếng khác trên thế giới? Ở các thành phố đó, họ cần có những trung tâm thương mại bọc kính và bê tông cao chọc trời để phục vụ cho mục đích kinh tế. Đà Nẵng cũng không phải là ngoại lệ, sẽ phải xây dựng những tòa nhà vươn cao vì không còn đủ quỹ đất ở khu vực trung tâm. Tuy nhiên ở các thành phố lớn trên thế giới đều dành ra những không gian dành riêng cho việc học tập và tìm hiểu lịch sử đất nước. Với Đà Nẵng, cần lắm một nỗ lực để bảo vệ cho một phần ký ức cũ của Thành phố, đó là những công trình kiến trúc thuộc địa còn may mắn tồn tại ở những con đường quan trọng trong khu vực trung tâm. Đây chính là những nơi tốt nhất để cho các học sinh, sinh viên đến tham quan và tổ chức các hoạt động sinh hoạt học tập liên quan đến lịch sử.

Lời kết

Nếu như những công trình kiến trúc thuộc địa từng được xem là biểu tượng của sự thống trị. Thì chúng tôi, những người viết chủ đề này không có ý cổ xúy cho Chủ nghĩa thực dân7, chúng tôi cảm nhận rằng đó là một phần trong tiến trình lịch sử phát triển của thành phố Đà Nẵng.

Người Pháp đã đem đến cho đất nước chúng ta những thể loại công trình mới, phong cách kiến trúc mới và điều này góp phần làm giàu lượng quỹ kiến trúc đặc sắc cho dân tộc Việt Nam. Ngày hôm nay nó là của người Việt Nam. Nếu vì lợi ích trước mắt mà phá bỏ thì một điều chắc chắn rằng, Đà Nẵng sẽ không bao giờ có lại được chúng. Nếu có chăng đi nữa thì theo chúng tôi đó cũng chỉ là những bản sao mang trên mình một tinh thần hoài cổ. 

Ngoài hai vấn đề lớn là phân loại xếp hạng các công trình kiến trúc và nâng cao ý thức về tinh thần dân sự. Chúng tôi chỉ muốn nhấn mạnh một lần nữa rằng: Đà Nẵng không cần phải là bất cứ một thành phố nào khác, Đà Nẵng phải là một thành phố chứa đựng trong nó một bề dày lịch sử đặc sắc và có được một linh hồn nhân danh của tính hiện đại.

L.M.S

 
 CÁC BÀI KHÁC
- Trụ sở: K54/10 Ông Ích Khiêm, thành phố Đà Nẵng
- ĐT: 0511.2211823, Fax: 0511.3519300
- Email: tapchinonnuoc@gmail.com